QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LẠI TRUNG DŨNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Hà Nội, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LẠI TRUNG DŨNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Tuấn Khanh

Hà Nội, 2019

Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh ..................................................... 45
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG,
TỈNH QUẢNG NINH ............................................................................. 57
3.1. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa tại Thành phố Hạ
Long, Tỉnh Quảng Ninh ............................................................................ 57
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại Thành
phố Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh ............................................................... 61
KẾT LUẬN .............................................................................................. 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 73


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Từ được viết tắt

CQNN

Cơ quan nhà nước

HĐND

Hội đồng nhân dân

NN

Nhà nước

QLNN

công tác này Đảng và Nhà nước luôn chỉ đạo và đề ra những giải pháp quan
trọng nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa, góp phần quan
trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của nhân dân, đáp ứng với yêu cầu của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển đất nước trong tình
hình mới. Vì thế, tại Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghị quyết
Trung ương 9 (khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” được xem là nền tảng quan
trọng của Đảng và Nhà nước để chỉ đạo, hướng dẫn nhằm bảo đảm thực hiện
có hiệu quả công tác quản lý NN về văn hóa trong giai đoạn hiện nay. Thông

1


qua đó, chúng ta đã có nhiều kết quả rất quan trọng nhằm làm tốt công tác
QLNN về văn hóa đáp ứng với yêu cầu của hoạt động xây dựng và phát triển
đất nước.
Có thể nói rằng vấn đề văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời
sống xã hội; là năng lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người; trụ
cột phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại. Trong sự tồn
tại và phát triển của văn hóa thì quản lý văn hóa đóng vai trò rất quan trọng.
Trên phương diện vĩ mô, hoạt động quản lý văn hóa sẽ góp phần định hướng,
điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ
trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến
mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc. Trên phương diện vi mô, hoạt động
quản lý văn hóa trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm
soát sự tùy tiện, sai lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước
trên lĩnh vực văn hóa. Những năm qua, quán triệt tinh thần: “Văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước.
Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” của Đảng, hoạt

trong thực tiễn thông qua quy định cụ thể và rõ ràng về vấn đề này,
Cơ sở lý luận về quản lý văn hóa, Đại học Văn hóa Hà Nội, năm 2014:
Trong đó giáo trình của Đại học văn hóa đã đề ra những cơ sở trên phương diện
lý luận trong hoạt động QLVH ở nước ta hiện nay. Điều là hoàn toàn cần thiết
trong hoạt động QLNN nói chung và trong lĩnh vực văn hóa nói riêng đối với
nước ta hiện nay,
Nghiên cứu Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách
văn hóa ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Tình (Nxb Văn hóa, thông tin – Hà
Nội): Trong nội dung tác phẩm tác giả đã trực tiếp nghiên cứu những chính sách
văn hóa trên thế giới và vấn đề hoàn thiện ở nước ta hiện nay. Tác giả đưa ra những
luận điểm nhằm hoàn thiện về hoạt động QLVH trong thực tế.
* Về tài liệu nghiên cứu trực tiếp có liên quan đến đề tài có một số tác
phẩm sau:

3


- Quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, những vấn đề lý luận và thực
tiễn – Vũ Thị Phương Hậu (2008): Tác giả đã đề cập đến vao trò quản lý nhà
nước trong lĩnh vực văn hóa. Thông qua các quy định pháp lý về vấn đề này,
tác giả đã chỉ rõ ra những thực tiễn áp dụng ở nước ta hiện, những khó khăn,
vướng mắc và phương hướng hoàn thiện nhằm đáp ứng với yêu cầu của hoạt
động QLNN trong lĩnh vực này.
- Luận văn thạc sỹ “ Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Từ
Liêm, thành phố Hà Nội” của tác giả Trần Thị An đã tiến hành thực hiện tại
huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nôi. Trong đó, tác giả trên cơ sở lý luận trong
hoạt động QNLL về văn hóa đã áp dụng vào thực tiễn từ đó, chỉ ra những khó
khăn vướng mắc và giải pháp hoàn thiện vấn đề này.
- Luận văn “Quản lý nhà nước về văn hóa ở thành phố Thái Nguyên” của
tác giả Bùi Quốc Chiều;

lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị
trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, truyền thông
nói chung và trong lĩnh vực văn hóa nói chung.
- Đề tài Quản lý nhằ nước về Văn hóa, nghệ thuật trong cơ chế thị trường
– đề tài cấp bộ do Trần Quốc Bảng làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài nghiên cứu tập
trung đi sâu phân tích thực trạng về quản lý trong ngành văn hóa - thông tin
trong thời kỳ đổi mới. Trình bày những quan điểm cơ bản về quản lý văn hóa nghệ thuật, xác định cơ chế quản lý trong cơ chế thị trường. Kiến nghị những
giải pháp về quản lý nhà nước về văn hóa - nghệ thuật trong cơ chế thị trường.
- Sách Công cuộc đổi mới động lực phát triển lý luận văn hóa của tác giả
Phạm Quang Nghị
- Bài viết một số vấn đề quản lý nhà nước về văn hóa của tác giả Lê Thị
Bich Thuận đăng trên tạp chí Văn học nghệ thuật số 352, tháng 10 năm 2013
Trong giai đoạn bùng nổ của toàn cầu hóa và hội nhập và phát triển như
hiện nay thì công tác QLNN về văn hóa càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết,
tôi chọn đề tài: "Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tại thành phố Hạ

5


Long, tỉnh Quảng Ninh" làm luận văn thạc sỹ để thể hiện tâm huyết và đóng
góp của bản thân đối với vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại Thành phố
Hạ Long, tỉnh Hạ Long nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và pháp luật liên quan
đến quản lý nhà nước về văn hóa ở Việt Nam.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại Thành

- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước
về văn hóa tại Thành phố Hạ Long, tỉnh Hạ Long . Luận văn có nghiên cứu so
sánh với một số địa phương khác có những nét tương đồng với Thành phố Hạ
Long, tỉnh Hạ Long
- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về văn hóa
trên địa bàn Thành phố Hạ Long trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp sử dụng cho toàn đề tài là tác giả sử dụng phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác – Lênin kết
hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Kết hợp giữa phân tích với tổng hợp, diễn dịch với quy nạp làm rõ nội
dung cần nghiên cứu trong vấn đề nghiên cứu về vị QLNN về văn hóa thông
qua các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam được ghi nhận tại chương
1 cũng như thực tiễn áp dụng tại trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng
Ninh và chương 2 của đề tài.
- So sánh, đối chiếu, thống kê, phân tích số liệu, kết quả tổng kết và các
quan điểm khác nhau để rút ra kết luận, tìm hiểu nguyên nhân vấn đề và các
giải pháp hữu hiệu khắc phục hạn chế. Các phương pháp này được áp dụng

7


trong chương 2 và chương 3 của đề tài. Thông qua đó, tác giả muốn đưa ra một
bức tranh toàn cảnh về công tác QLNN về văn hóa trên địa bàn cũng như một
số biện pháp nhằm hoàn thiện yêu cầu đề ra của công tác này, đáp ứng với yêu
cầu hội nhập và phát triển đất nước. Phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp ở
nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Với những nội dung được trình bày trong đề tài hy vọng sẽ đem lại những

về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau. Từ đó, khái
niệm văn hóa cũng được thể hiện một cách đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác
nhau. Tuy rằng khái niệm này được hiểu theo rất nhiều định nghĩa khác nhau
nhưng nhìn chung khi nghiên cứu văn hóa dựa trên khía cạnh tính cách con
người, văn hóa được tập trung vào hai nội dung chính, bao gồm:
Một là, văn hóa ngoài việc chứa đựng văn học và nghệ thuật còn chứa
đựng cả cách sống, phương thức chung sống… Trong Bản tuyên bố về những
chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO (United Nations
Educational, Scientific and Cultural Organization) chủ trì từ ngày 26 tháng 7
đến ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại Mexico, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt
tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay
của một nhóm người trong xã hội. Hơn nữa, Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa” (Hồ Chí Minh). Theo đó, tính cách của dân tộc là
một trong những thành tố tạo nên nền văn hóa dân tộc.

9


Mặt khác, văn hóa được xem như một quá trình, là phương thức ứng xử
của con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hóa, dựa trên các đặc
trưng cơ bản, được hiểu là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự
tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Có thể nói, văn
hóa được tạo nên từ quá trình, từ phương thức ứng xử của con người đối với
môi trường từ nhiên và môi trường xã hội. Mặt khác, tính cách con người là
một thành tố trong quá trình sáng tạo văn hóa của con người.
1.1.2. Quản lý nhà nước về văn hóa

sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó.
Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng”.
Dưới góc độ nghiên cứu của Mác thì quản lý là nhằm phối hợp các lao động
đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây Mác
đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý. Dưới góc độ nghiên
cứu của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay thì Quản lý là sự tác
động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý
trí của người quản lý (khái niệm này được tiếp cận dưới góc độ là quản lý là việc
tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người
quản lý. Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục
đích quản lý nói chung). Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn
các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu
đã đề ra”. Hoặc tiếp cận thông qua mục đích thì quản lý được hiểu là việc đạt tới
mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức.
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động
theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau ,các lĩnh vực
khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.
Như vậy, qua phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm khoa học về

11


QLNN được hiểu theo hai nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau:
Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự
tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá
trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các
mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và

* Quản lý nhà nước về văn hóa
Như đã trình bày có thể hiểu quản lý là sự tác động có mục đích của chủ
thể vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra. Hiện
nay có rất nhiều cách hiểu về hoạt động quản lý trong công tác văn hóa có thể
hiểu sơ lược là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào các
yếu tố có liên quan đến hoạt động về văn hóa bằng một hệ thống đồng bộ các
biện pháp kinh tế - xã hội , tổ chức kĩ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt
được kết quả, hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất trong điều kiện cụ thể do chủ
thể là các cơ quan nhà nước tiến hành.
Hoạt động văn hóa là một trong những lĩnh vực được xem là một trong
những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi một
quốc gia. Vấn đề này có sự tác động không nhỏ đối với cộng đồng. Để đáp ứng
nhu cầu phát triển của đất nước cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã
hội, thì hoạt động quản lý NN về vấn đề này luôn được chú trọng, sửa đổi, bổ
sung một cách hoàn thiện hơn. Quản lý nhà nước về văn hóa cũng có thể hiểu
là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều
chỉnh các quan hệ nảy sinh trong hoạt động này nhằm đảm bảo cho hoạt động
về văn hóa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, và thực hiện đúng chức
năng nhiệm vụ của nó. Hoạt động này là một quá trình từ việc xây dựng, ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến kiểm tra, tuyên
truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật; tổ chức thực hiện cũng như
thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động của chương trình có
liên quan đến vấn đề văn hóa.
Việc quản lý nhà nước về văn hóa có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát
triển của kinh tế- xã hội nước ta nói chung. Trong quan hệ pháp luật về văn hóa

13


đã xây dựng các quy phạm pháp luật quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của

Cơ quan quản lý chuyên ngành văn hóa có trách nhiệm: Hướng dẫn, kiểm
tra, giám sát thực hiện các quy định. Tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ về quản lý nhà nước về di sản văn hóa. Thực hiện công tác kiểm tra, giám
sát về quản lý nhà nước về di sản văn hóa..
Trách nhiệm của uỷ ban nhân dân các cấp:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành các quy định, chính
sách, hướng dẫn về hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa. Chỉ đạo xây dựng
quy hoạch quản lý nhà nước về văn hóa tập trung và lập kế hoạch thực hiện
việc quản lý nhà nước về văn hóa tập trung. Chỉ đạo các sở, ban, ngành có liên
quan phối hợp quản lý việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa. Chỉ đạo tổ chức
thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước
về văn hóa.
Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với các phòng, ban,
ngành liên quan tổ chức triển khai quy hoạch quản lý nhà nước về di sản văn
hóa. Quản lý hoạt động về văn hóa.
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm Phối hợp với cơ quan có thẩm
quyền quản lý nhà nước về văn hóa.
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về văn hóa
Văn hoá là nền tảng tinh thần của mọi xã hội. Sự quản lý nhà nước đối với
văn hoá chính là để định hướng cho văn hoá phục vụ cho mục đích của giai cấp
, của dân tộc. Nhưng văn hoá là một lĩnh vực phức tạp, đa chiều nhà nước phải
có được một hình thức quản lý hiệu lực và hiệu quả nhất. Quản lý theo hình
thức pháp luật là một trong những hình thức cơ bản nhất trong quản lý văn hoá.
Điều này bắt nguồn từ bản thân đặc trưng văn hoá và vai trò của pháp luật cả
trên phương diện lý luận và thực tiễn.
Về cơ bản, quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức,
có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy nhằm phát triển

15


16


cấp tỉnh, quận huyện, xã phường là gì phải được xác định một cách cụ thể. Có
như vậy hoạt động quản lý mới hiệu quả.
Thứ tư, cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về văn hóa là hiến pháp, luật
và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Như vậy quản lý nhà nước nói chung
và quản lý nhà nước về văn hóa nói riêng có công cụ là hệ thống luật và các
văn bản có tính pháp quy. Quản lý bằng pháp luật chứ không phải bằng ý chí
của nhà quản lý.
Thứ năm, cách thức quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích
chứ không phải là việc làm có tính thời vụ, cũng không phải là sự thụ động của
nhà quản lý, càng không phải là hoạt động đơn lẻ, tùy tiện của nhà quản lý.
Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm các mảng cơ bản sau:
- Quản lý nhà nước đối với văn hoá nghệ thuật;
- Quản lý nhà nước đối với văn hoá - xã hội;
- Quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá.
Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm những nội dung sau:
Một là, hoạt động xây dựng, ban hành các chính sách và văn bản pháp
luật về văn hoá
Chính sách văn hoá được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư
tưởng chủ đạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát
triển nền văn hoá. Chính sách văn hoá đặt ra các nguyên tắc chung của sự
nghiệp phát triển văn hoá phù hợp với mục tiêu phát triển văn hoá chung của
đất nước.
Các chính sách về quản lý và phát triển văn hoá hiện nay có thể kể đến:
sáng tạo các giá trị văn hoá; bảo tồn, phát huy tài sản văn hoá; phát triển văn
hoá cơ sở; giao lưu văn hoá quốc tế; hiện đại hoá kỹ thuật và phương thức sản
xuất, phân phối sản phẩm văn hoá; đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ
sỹ; đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho phát triển văn hoá; nâng cao tính

có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Trong xu hướng xã hội hoá văn hoá hiện nay, các tác động tiêu cực nảy sinh
ngày càng nhiều, vì vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý cần phải được

18


quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch phối hợp tổ chức hoạt
động một cách chặt chẽ với các bộ, ngành khác. Như vậy mới có khả năng thực
hiện tốt chức năng và nhiệm vụ mà công tác quản lý nhà nước về văn hoá đã
đề ra.
1.2.3. Quyền, nghĩa vụ của chủ thể bị quản lý nhà nước về văn hóa
Cùng với hoạt động thực hiện công tác QLNN về văn hóa ở nước ta thì
các chủ thể bị quản lý văn hóa có quyền văn hóa nhằm áp dụng trong thực tiễn
thực hiện một số quyền sau:
+ Tự do ngôn luận, tự do báo chí;
+Tự do tôn giáo, tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào;
+ Học tập, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng kiến cải tiến kỹ
thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia
các hoạt động văn hoá khác;
+ Quyền được thông tin;
+ Các bảo đảm của Nhà nước để thực hiện quyền văn hoá.
Các quyền về văn hóa được ghi nhận trong các văn bản sau:
Hiến pháp 2013, Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, đoạn tuyệt với cơ chế tập
trung kế hoạch hoá, xác lập nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Các quyền văn hoá được qui định rõ ràng, rộng rãi cùng với các quyền cơ bản
khác, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế hội nhập trong khu vực và trên thế
giới: các điều về quyền của văn hóa và các nghĩa vụ tương ứng của nhà nước
nhằm bảo vệ quyền như đưa ra các qui định nghiêm cấm hạn chế và vi phạm
quyền hoặc bảo đảm cho quyền văn hoá được thực hiện là nền tảng cơ bản trong

pháp lý, nội dung đăng ký, các giấy tờ liên quan. Sau 5 ngày tiếp nhận hồ sơ
nếu hồ sơ của cơ sở đầy đủ yêu cầu cơ quan chức năng tiến hành thành lập đoàn
kiểm tra việc thực hiện các qui định về điều kiện, tiêu chuẩn trong lĩnh vực về
văn hóa… đối với cơ sở. Nếu cơ sở đáp ứng đủ các yêu cầu thì sẽ được cơ quan
nhà nước xác nhận và tiến hành cấp giấy chứng nhận cho các chủ thể. Hiện nay,
việc áp dụng các hoạt động này được thực hiện theo quy định tại Luật và các
văn bản hướng dẫn thi hành trong lĩnh vực văn hóa
Sau khi cơ sở được cấp phép và tiến hành hoạt động cấp phép cơ quan

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status