I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lý do chọn đề tài:
Lứa tuổi mầm non có vị trí rất quan trọng trong suốt quá trình phát triển
cuộc đời của mỗi con người. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới
góc độ sinh lý, tâm vận động, tâm lý xã hội... đã khẳng định sự phát triển
của trẻ từ 0 - 6 tuổi là giai đoạn phát triển có tính quyết định để tạo nên thể
lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ trong tương lai. Những kết quả
nghiên cứu về sự phát triển đặc biệt của não bộ trong những năm đầu tiên
của cuộc đời, những nghiên cứu về ảnh hưởng và ích lợi của các dịch vụ
GDMN có chất lượng đã khiến các Chính phủ ở hầu hết các quốc gia trên
thế giới, trong đó có Việt Nam ngày càng quan tâm phát triển GDMN.
Không có mô hình chung cho GDMN ở tất cả các nước, tuy nhiên, vai trò
của giáo dục ngày càng được coi trọng đối với mọi quốc gia. Đến nay có
trên 160 nước và các tổ chức quốc tế đã cam kết coi GDMN là một mục
tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người. Thụy Điển coi giai đoạn mầm
non là “Thời kỳ vàng của cuộc đời'' Ở nước ta, Đảng và Nhà nước ta luôn
coi trọng giáo dục mầm non, xác định nhiệm vụ GDMN là thực hiện việc
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ ba tháng tuổi đến sáu tháng tuổi
nhằm giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một.
Giáo dục mầm non có vị trí là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục
quốc dân. Đề án Phát triển PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 20102015'' đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo
dục mầm non thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tiếp thu các lý luận và
kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới. Đề án cũng đã , phân tích
và đánh giá thực trạng giáo dục mầm non cả nước và mỗi vùng miền trong
những năm qua. Trên cơ sở đó, đặt yêu cầu phát triển PCGDMN cho trẻ em
5 tuổi nói riêng và giáo dục mầm non nói chung trong bối cảnh phát triển
kinh tế- xã hội chung của đất nước hiện nay.
Thực vậy, là một cán bộ quản lý trường mầm non tôi thiết nghĩ giáo dục
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a. Đối tượng nghiên cứu:
- Ttrẻ trong độ tuổi Mầm non;
- Chương trình giáo dục Mầm non;
- Một số hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trong trường Mầm non.
b. Phạm vi nghiên cứu:
Các hoạt động hàng ngày của trẻ Mầm non
4. Giả thiết nghiên cứu:
Nếu thực hiện thành công các giải pháp của đề tài thì sẽ góp phần nâng cao
chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra khảo sát trẻ;
- Phương pháp thực nghiệm;
- Phương pháp hội thảo.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Cơ sở khoa học:
1.1. Cơ sở lý luận: Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống
giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên của ngành Giáo dục đào tạo. Chất
lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến
chất lượng giáo dục ở bậc học tiếp theo.
Chương trình giáo dục mầm non thể hiện được mục tiêu giáo dục mầm
non: Cụ thể hoá các yêu cầu về công tác nuôi dưỡng chăm sóc trẻ ở từng độ
tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện cho trẻ phát
triển toàn diện về thể chất, tình cảm, thẩm mỹ, trí tuệ; hướng dẫn cách thức
đánh giá phát triển của trẻ ở lứa tuổi mầm non. Do đó cha, mẹ và những
người làm công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ mầm non phải xác
định được vị trí, vai trò, nội dung và nhiệm vụ của mình trong công nuôi
dưỡng chăm sóc trẻ, phải làm thế nào để phát triển toàn diện về các mặt :
đặc biệt quan tâm: Xác định rõ vai trò nhệm vụ để tìm ra những biện pháp
cụ thể, phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ mầm non giúp trẻ
được phát triển toàn diện. Là nền móng hình thành nhân cách trẻ, làm cơ sở
vững chắc cho các bậc học tiếp theo.
Từ thực tế trên, là người quản lý, cần xác định rõ việc nâng cao chất lượng
chăm sóc giáo dục trẻ Mầm non là một trong những nhiệm vụ quan trọng
mà mình không được phép sao nhãng mà bằng mọi cách phải xây dựng
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ được tốt hơn góp phần vào việc
xây dựng nền giáo dục xứng tầm với thời đại hiện nay.
1.3. Đánh giá thực trạng trước khi thực hiện đề tài.
a. Tình hình khảo sát điều tra thực trạng:
Trước khi thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi tiến hành điều tra, khảo sát tình
hình thực trạng về chất lượng trẻ Mầm non như sau:
Bảng 1 : Số lượng trẻ
T/S
nhóm
Tỷ
T/S trẻ
NT
Tỷ lệ
T/S trẻ
MG
Số trẻ
194
190
22
26
Bảng
3:
lượng
Tổng số trẻ
216
Xếp loại
Giỏi
Khá
Đạt yêu cầu
216
lệ
Chất
lượng
Số trẻ
Yếu
22
b.
10%
Thuận
lợi:
- Là một địa phương có truyền thống hiếu học, công tác XHH GD phát triển sâu
rộng có tổng dân số là 1331 hộ gia đình với 4424 khẩu, được chia ra thành 8
thôn.
- Trên địa bàn xã có 02 trường học, trong đó trường MN: 01; trường TH: 01.
- Trường mầm non có đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trẻ, yêu nghề mến trẻ,
nhiệt
tình
đoàn
kết
giúp
đỡ
- Hình thức đổi mới phương pháp lên lớp cho giáo viên thường xuyên được quan
tâm.
- Nhờ sự chỉ đạo sát sao của phòng Giáo dục, sự quan tâm của cấp ủy Đảng,
chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể, ban giám hiệu nhà trường
năng động sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm cao nên trường đã có cơ sở vật
chất
tương
đối
đảm
bảo.
- Môi trường hoc tập trong và ngoài lớp đẹp, thân thiện. Các nhóm lớp đã có đồ
dùng, đồ chơi tương đối đầy đủ theo danh mục đồ dùng, đồ chơi tối thiểu - Thiết
bị dạy học giáo dục Mầm non theo thông tư 02/2010 của Bộ GD-ĐT; Đa số các
nhóm
lớp
đã
có
ti
vi,
vực
phát
triển.
- Bản thân tôi đã có kinh nghiệm trên 10 năm làm quản lý.
Tất cả các mặt thuận lợi đó đã tạo điều kiện cho tôi đổi mới công tác quản lý đê
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non
c.
Khó
khăn:
- Tôi được phân công làm quản lý tại trường Mầm non ở xã có điều kiện kinh tế
xã hội khó khăn, đời sống kinh tế của nhân dân chủ yếu phụ thuộc vào nghề lao
động tự do nay đây mai đó, không ổn định, một số phụ huynh chưa thực sự quan
tâm
đến
việc
học
hành
của
lượng
giáo
viên
chưa
đồng
- Thời gian làm việc của giáo viên quá tải từ 6 giờ
đều.
đến 17 giờ.
- Năng lực tổ chức một số hoạt động của giáo viên vẫn còn hạn chế. Một số giáo
viên có năng lực nhưng lười tư duy, ít sáng tạo nên các hoạt động diễn ra còn
khô
khan
chưa
lôi
cuốn
trẻ
như
sau.
2.
Các
biện
2.1.
pháp
Xây
thực
dựng
hiện:
kế
hoạch
Đứng trước thực trạng tình hình của nhà trường, ngay từ đầu năm học tôi phân
công giáo viên dạy các lớp phù hợp với yêu cầu của từng độ tuổi và lập kế hoạch
+ Sau khi thu thập và xử lí các thông tin, tập hợp số liệu, Ban chuyên trách tham
mưu
với
Hiệu
trưởng
và
hình
thành
bản
kế
hoạch
sơ
bộ.
+ Khi đã hình thành bản kế hoạch sơ bộ, Hiệu trưởng tổ chức cuộc họp công bố
các
chỉ
đóng
góp
của
giáo
viên.
+ Sau khi tham khảo ý kiến đóng góp của giáo viên và các tổ, điều chỉnh các nội
dung của bản kế hoạch, Hiệu trưởng cho Ban chuyên trách soạn thảo kế hoạch
chính
thức.
+ Hiệu trưởng ra quyết định thực hiện và phân công nhiệm vụ cho các tổ chức,
cá
nhân
trong
nhà
trường
thực
hiện.
dịp đầu năm học tôi tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trờng học
tập để nâng cao nhận thức t tởng chính trị và quán triệt để cán bộ, Đảng
viên xỏc nh rừ vai trũ ca mình i vi vic tng cng cụng tỏc chớnh tr t
tng
trong
nh
trng.
T chc hc tp chớnh tr nõng cao nhn thc t tng chớnh tr cho CB, GV,
NV
Cỏn b qun lý nh trng phi gng mu chp hnh nghiờm tỳc ng li,
chớnh sỏch ca ng, phỏp lut ca Nh nc, ni quy, quy ch chuyờn mụn
ca ngnh, nhim v nm hc, ni quy ca nh trng, quy ch chuyờn
mụn... t ú tuyờn truyn n cỏn b giỏo viờn trong nh trng nhm xỏc lp
h bn lnh chớnh tr, t tng vng vng, tuõn th phỏp lut, giỏc ng lớ tng
v
lũng
hng
say
vi
nhim
Từ việc nhận thức tư tưởng, chính trị đó mà người quản lý cần đổi mới công tác
quản
lý
trường
học
các
vấn
đề
sau:
Cán bộ quản lý phải đổi mới tư duy lãnh đạo, nhận thức rõ ràng, đúng chức
năng, nhiệm vụ và thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ năm học hiệu quả. Nghiên
cứu, triển khai, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về GDMN
hiện hành nhằm tạo nên hành lang pháp lý cao nhất cho công tác đổi mới. Tích
cực tham mưu các cấp về chính sách, cơ chế hoạt động của trường mầm non.
Tăng cường việc kiểm tra, chỉ đạo việc thực hiện các văn bản trong quản lí, chỉ
đạo
hoạt
động
của
mẫu
giáo
5
tuổi.
Như vậy, công tác chính trị tư tưởng là một bộ phận quan trọng trong mọi hoạt
động vì sự phát triển của nhà trường. Một khi vai trò của công tác chính trị tư
tưởng được nhận thức đầy đủ và các giải pháp được thực hiện đồng bộ sẽ là một
trong những yếu tố quyết định giúp cho nhà trường đạt được những mục tiêu
giáo
2.3.
dục
Quản
lý
đã
về
thực
đề
hiện
ra.
chương
liu.
Tuyờn truyn rng rói cho cỏc bc cha m tr v cng ng hiu v tm quan
trng ca giỏo dc mm non, cú bin phỏp phi hp tỏc ng kp thi gia
gia ỡnh v nh trng. Chỳ ý rốn k nng c bn v cỏch cm bỳt, ngi hc
ỳng t th, cỏch m sỏch v, tuyt i khụng dy trc chng trỡnh lp 1.
Nh trng quan tõm ch o thc hin cụng bng trong giỏo dc., tr khuyt tt,
con cỏc gia ỡnh chớnh sỏch phự hp vi nhu cu, kh nng ca tr v iu kin
thc
t
ca
a
phng,
trng
lp.
Hng dn giỏo viờn lng ghộp cỏc ni dung giỏo dc bo v mụi trng, v
sinh cỏ nhõn, giỏo dc k nng sng, giỏo dc an ton giao thụng, giỏo dc
s dng nng lng tit kim hiu qu vo cỏc hot ng giỏo dc giỳp tr tng
cng thc hnh tri nghim hỡnh thnh nhng hnh vi ng x ỳng i vi
mụi trng, thúi quen tit kim in, nc trong sinh hot, thc hin ỳng cỏc
quy
nh
i
ni...
ng
Nh trng khụng ngng bi dng nõng cao nng lc s phm, chuyờn mụn
nghip v cho i ng giỏo viờn. cú c vic bi dng chuyờn mụn cho
giỏo viờn di hay ngn hn ngi qun lý phi lp k hoch sỏt thc t iu kin
của nhà trường, kế hoạch từng năm học, kế hoạch theo giai đoạn từ 3 - 5 năm.
Nội dung cần tập trung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên đó là:
Kỹ năng nghề nghiệp (Kỹ năng thiết kế bài soạn, kỹ năng tổ chức hoạt động,
dạy và học trên lớp). Chuyên môn nghiệp vụ, năng lực làm việc của giáo viên
chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, luôn luôn biến đổi nên mục đích của việc bồi
dưỡng năng lực sư phạm, chuyên môn nghiệp vụ là nhằm đẩy mạnh sự phát
triển về chuyên môn cho tất cả giáo viên, giúp giáo viên có đủ năng lực tham gia
vào
Kỹ
công
năng
Kỹ
cuộc
nhận
đổi
02/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 22/1/2008 của Bộ GD&ĐT. Trên cơ sở đó hiệu
trưởng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cụ thể về nội dung, về thời gian và về đối
tượng.
a.
Việc
bồi
dưỡng
Bồi
tiến
hành
theo
dưỡng
một
số
hình
tại
thức
cho
Tổ
GV
chức
hội
thảo,
trao
đổi
đúc
rút
kinh
nghiệm
Thực hiện dự giờ với nhiều hình thức để góp ý, đúc rút kinh nghiệm, học hỏi lẫn
nhau.
Tổ
chức
viên
thực
hiện
công
tác
thi
đua.
Chỉ đạo tổ chuyên môn thường xuyên sinh hoạt để đúc rút những kinh nghiệm
hay, phương pháp dạy mới để nhân rộng trong toàn trường, nhằm nâng cao chất
lượng
b.
giáo
Bồi
dưỡng
dục
bằng
toàn
các
bị,
đồ
dùng,
đồ
chơi
Tham mưu với chính quyền địa phương, hội cha mẹ học sinh và các nhà hảo tâm
tăng cường đầu tư trang thiết bị giáo dục, tài liệu, học liệu, phương tiện cho trẻ,
đặc biệt đối với các lớp mẫu giáo 5 tuổi theo danh mục và tiêu chuẩn kĩ thuật Đồ
dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học tối thiểu cho giáo dục mầm non do Bộ GD&ĐT
ban hành tại Thông tư số 02/2010/TT-BGDĐT ngày 11/02/2010 và Quyết định
số
3141/QĐ-BGDĐT
ngày
30/7/2010.
Tiếp tục khuyến khích giáo viên, phụ huynh làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo từ các
nguyên vật liệu sẵn có; phối hợp, động viên cộng đồng hỗ trợ làm để bổ sung
thiết bị, đồ chơi,… cho trẻ; phối hợp với các trường phổ thông, tặng các sản
phẩm trong giờ học mĩ thuật, thủ công cho trẻ mầm non để sử dụng học tập, vui
chơi.
Nhà trường cấp văn phòng phẩm theo định mức cho các lớp đủ, kịp thời. Lập sổ
theo dõi, cấp phát trang thiết bị, đồ dùng và ghi chép đầy đủ, cụ thể, trang thiết
các
hội
gàng
thi
bồi
ngăn
dưỡng
kỹ
nắp.
năng
cho
trẻ.
Có thể nói biện pháp bồi dưỡng thông qua các phong trào thi đua là một biện
pháp rất hữu hiệu, thông qua việc tổ chức các hội thi, giúp trẻ mạnh giạn tự tin
bình
tĩnh
hơn
Mầm
non.
Vào các ngày lễ, ngày hội như: Ngày khai giảng, ngày 20/10, 20/11, 22/12,
8/3… Tôi phối hợp với Ban chấp hành công đoàn tổ chức tốt các hội thi như:
“Cô duyên dáng, cháu tài năng”, “Hội thi múa hát dân ca”, “Thi giáo dục an
toàn
2.7.
giao
thông”
Làm
cho
tốt
cô,
trẻ
công
và
phụ
nhà
trường...
Ví dụ: Như ngày tết Nguyên đán có quà cho trẻ em đặc biệt khó khăn để kịp
thời
động
viên
trẻ,
làm
tốt
công
tác
huy
động
trẻ.
Tham mưu với chuyên môn phòng giáo dục trong việc bổ sung thêm tài liệu
nghiên
trẻ
tác
phát
triển
xã
toàn
hội
diện.
hóa.
Xác định được công tác xã hội hóa giáo dục là một trong những nhân tố có vai
trò quyết định sự phát triển giáo dục trong trường Mầm non nói chung và nền
giáo
dục
xã
nhà
nói
riêng.
dưới
6
tuổi.
Thường xuyên bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên về kiến thức, kỹ năng tuyên
truyền,
phối
hợp
với
các
bậc
cha
mẹ
và
cộng
đồng.
chất
lượng
4:
sau:
chăm
Số
sóc,
giáo
dục
lượng
trẻ
T/S
nhóm
Tỷ
T/S trẻ
NT
PTBTchiều cao
SDD vừa
Thấp còi độ 1
6:
Chất
Xếp loại
190
lượng
chăm
Số trẻ
232
230
10
12
lượng
Số trẻ
chuyên
100%
3.2.
Kết
quả
so
sánh,
38
170
34
0
đánh
giá
15,8%
70%
14,2%
0
giữa
đầu
năm
Xếp loại
Giỏi
Khá
Đạt yêu cầu
Yếu
Đầu năm (%)
0%
40 %
50%
10%
Cuối năm ( % )
15,8%
70%
14,2%
0%
Nhìn vào các bảng trên ta thấy số lượng trẻ đến lớp tăng so với khảo sát đầu
năm; đặc biệt qua bảng so sánh chất lượng đầu và cuối năm, ta thấy sự khác biệt
rõ ràng chất lượng chăm sóc giáo trẻ giữa số liệu đầu năm và cuối năm. Mức độ
đạt được cuối năm so với đầu năm cao hơn rất nhiều. Điều này chứng tỏ các
biện pháp đưa ra có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao chất lượng trẻ của
trường
mầm
non
ra.
- Đối với cấp trên: Lãnh đạo cấp trên đã nghi nhận những nỗ lực cố gắng của tập
thể cán bộ giáo viên và học sinh trường Mầm non chúng tôi.
III:
Kết
luận
1.
và
kiến
nghị:
Kết
luận:
Qua một thời gian nghiên cứu về lí luận và thực tiễn đổi mới công tác quản lý để
nâng cao chất lượng giáo dục trẻ trong trường Mầm non, tôi rút ra một số kết
luận
về
công
biện
nhận
Xây
Quản
lý
về
tư
cao
về
lý
việc
thiết
thực
chính
kế
chất
trang
sau:
Đề tài “Một số biện pháp đổi mới công tác quản lý để nâng cao chất lượng
chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non” góp phần nâng cao chất lượng chăm
sóc - giáo dục trẻ ở trường, giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt, tạo điều
kiện cho trẻ phát huy được khả năng độc lập, sáng tạo của mình và những thói
quen hành vi tốt để sau này trẻ thực sự trở thành những chủ nhân của đất nước,
vững bước tiếp nhận những tri thức mới , góp phần xây dựng một xã hội công
bằng,
dân
chủ,
văn
minh.
Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường
mầmnon hiện nay là rất cần thiết và không thể thiếu trong việc nâng cao chất
lượng giáo dục mầm non nói chung và của mỗi nhà trường nói riêng. Bởi vì, kết
quả chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ chính là thước đo đánh giá năng lực quản
lý, chỉ đạo của người hiệu trưởng. Do vậy người quản lý phải có những kỹ năng
quản lý và những phẩm chất, năng lực nhất định để quản lý và lãnh, chỉ đạo nhà
trường.
2.
*
Kiến
cho nhà trường thực hiện tốt mục tiêu chăm sóc giáo dục, tuyên truyền vận động
quần chúng nhân dân cùng chung tay chăm lo cho sự nghiệp giáo dục mầm non
để nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần vào việc thực hiện
mục
tiêu
chung
của
Đảng
đề
ra.
- Cấp trên cần quan tâm bổ sung định biên giáo viên, hỗ trợ thêm đồ dùng học
tập, đồ chơi ngoài trời cho trẻ; Thường xuyên tổ chức tập huấn bồi dưỡng
nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường mầm non.
Trên đây là một số kinh nghiệm “ Đổi mới công tác quản lý để nâng cao chất
lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non ” rất mong được sự góp ý của
hội đồng khoa học các cấp, bổ sung để kinh nghiệm có nhiều biện pháp hữu
hiệu./.