Quản lý nhà nước đối với khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo - Pdf 41

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN BÁU HÀ

QU¶N Lý NHµ Níc ®èi víi
Khu kinh tÕ cöa khÈu quèc tÕ cÇu treo

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 62 34 10 10

Người hướng dẫn khoa học:

1

1. PGS.TS NGUYỄN THỊ NHƯ HÀ
2. PGS.TS. NGUYỄN QUỐC THÁI


HÀ NỘI – 2016MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT

2

-

KKT

Khu kinh tế

-


QLNN

Quản lý Nhà nước

-

XNK

Xuất, nhập khẩu

-

XNC

Xuất, nhập cảnh


MỤC LỤC

3


4

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những điều kiện đặc thù của Việt Nam, với đường biên giới trải
dài khoảng 4927 km bao gồm nhiều cửa khẩu thông với các nước láng giềng,

dân cư đến làm ăn, sinh sống, người dân gắn bó với khu vực biên giới, an
ninh quốc phòng được củng cố, giữ vững. Thông qua hoạt động tại KKTCK
đã từng bước mở rộng quan hệ, giao lưu, củng cố tình hữu nghị giữa Việt
Nam với các nước láng giềng.
Sự ra đời và hoạt động của các KKTCK trong thời gian qua đã hình
thành nhanh chóng mạng lưới thương mại khu vực biên giới, hệ thống kết cấu
hạ tầng, bến bãi, kho hàng, các trung tâm thương mại, hệ thống chợ... bước
đầu được tạo dựng khang trang hơn, tạo động lực thúc đẩy hoạt động xuất
nhập khẩu, hoạt động thương mại trong nội hạt các KKTCK.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, thực tế hoạt
động của các KKTCK chưa phát huy mạnh mẽ vai trò là vùng kinh tế động
lực của từng tỉnh biên giới cũng như trung tâm thương mại, dịch vụ, du lịch
của vùng. Quá trình phát triển các KKTCK vẫn còn một số vấn đề bất cập:
Chất lượng quy hoạch chưa tốt; phát triển quá nhanh về số lượng; hạ tầng các
KKTCK chưa được đầu tư đồng bộ còn rất khó khăn, đầu tư còn dàn trải; cơ
cấu đầu tư vào KKTCK còn bất hợp lý; tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp chưa
cao; chưa khắc phục được tình trạng ô nhiễm môi trường; nhà ở, thu nhập, đời
sống vật chất và tinh thần của người lao động chưa được đảm bảo…
Trước tình hình trên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị
quyết số 470/NQ-UBTVQH13 ngày 27/02/2012 về kết quả giám sát việc thực
hiện chính sách, pháp luật về xây dựng và phát triển các khu kinh tế,
KKTCK; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày
02/3/2012 về việc chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước và nâng cao hiệu quả
hoạt động của các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và Quyết
định số 671/QĐ-TTg ngày 7/6/2012 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện
Nghị quyết số 470/2012/NQ-UBTVQH13 ngày 27/02/2012, trong đó xác
5


6


7
dân số khoảng 1,3 vạn người (năm 1998) đến nay đã tăng lên gần 2,5 vạn
người. Bên cạnh đó, thông qua KKTCK quốc tế Cầu Treo, sự giao lưu, hợp
tác toàn diện về văn hóa, kinh tế với nước láng giềng Lào và vùng Đông Bắc
Thái Lan được tăng cường, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy quá trình hội nhập.
Tuy có nhiều yếu tố thuận lợi và đã đạt được những khởi sắc như vậy
nhưng nhìn chung năng lực, trình độ sản xuất ở KKTCK quốc tế Cầu Treo
vẫn còn ở mức thấp, lạc hậu và chưa thực sự tạo được động lực phát triển
mạnh mẽ cho khu vực miền núi đặc biệt khó khăn này. Cũng như các KKTCK
khác trên cả nước, KKTCK này cũng gặp những hạn chế và bất cập như thiếu
vốn đầu tư kết cấu hạ tầng, về chính sách, thu nhập và đời sống vật chất của
người lao động… cần được nghiên cứu, đổi mới phương thức quản lý và có
các giải pháp hữu hiệu để phát triển đúng với tiềm năng sẵn có.
Qua đó có thể nói, việc nâng cao hiệu lực của QLNN đối với KKTCK
quốc tế Cầu Treo là vấn đề cấp thiết hiện nay. Đó cũng là lý do tác giả chọn
đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà nước đối với Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế
Cầu Treo” để làm luận án Tiến sỹ.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với
KKTCK, luận án phân tích thực trạng về QLNN ở KKTCK quốc tế Cầu Treo, từ
đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện QLNN ở khu kinh tế này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên, đề tài luận án sẽ thực
hiện các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLNN đối với KKTCK.
- Khảo cứu kinh nghiệm QLNN đối với các KKTCK trong nước và một
số nước trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho KKTCK quốc tế Cầu Treo.

cứu. Các phương pháp được sử dụng cụ thể trong các chương như sau:

8


9
Chương 1, chủ yếu sử dụng phương pháp hệ thống hóa, phân tích để đánh
giá về quan điểm của các học giả trong nước cũng như trên thế giới về QLNN
đối với KTT nói chung và KKTCK nói riêng. Qua đó, rút ra những vấn đề đã
được nghiên cứu và các vấn đề cần nghiên cứu bổ sung và nghiên cứu mới về
QLNN tại KKTCK.
Chương 2, chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra
những khái niệm cốt lõi và luận giải những vấn đề cơ bản về QLNN tại
KKTCK. Đồng thời, sử dụng phương pháp khảo cứu kinh nghiệm QLNN đối
với các KKTCK trong nước và một số nước trên thế giới để rút ra bài học
kinh nghiệm cho KKTCK quốc tế Cầu Treo.
Chương 3, chủ yếu sử dụng các phương pháp điều tra, khảo sát, phân
tích, thống kê, so sánh, tổng hợp,… nhằm đánh giá về QLNN đối với
KKTCK quốc tế Cầu Treo giai đoạn 2008-2015.
Chương 4, sử dụng phương pháp khái quát hóa những vấn đề đã nghiên
cứu ở chương 2, chương 3 cùng với quan điểm về QLNN đối với KKTCK quốc
tế Cầu Treo để đề xuất định hướng, giải pháp QLNN đối với KKTCK này đến
năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
- Nguồn thông tin nghiên cứu
+ Nguồn thông tin thứ cấp, bao gồm:
(i) Thông tin khoa học trong các công trình nghiên cứu về QLNN đối với
KTT và KKTCK trong và ngoài nước;
(ii) Thông tin và số liệu thống kê của các cơ quan nghiên cứu, cơ quan
quản lý của tỉnh Hà Tĩnh, của KKTCK quốc tế Cầu Treo.
+ Nguồn thông tin sơ cấp, bao gồm:


1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA CÁC TÁC GIẢ
NGOÀI NƯỚC
Biên giới đất liền luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với mỗi quốc
gia, vì vậy các hoạt động ở khu vực này bao gồm cả các hoạt động về kinh tế,
thương mại và an ninh… cũng đặc biệt được chú trọng. Do đó, đã có nhiều
công trình nghiên cứu, bài viết, hội thảo, báo cáo… về đề tài phát triển kinh tế
cửa khẩu ở ngoài nước, dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
- “Hướng đến một biên giới mới, cải thiện khu vực cửa khẩu MỹCanada”, Sands, Christopher, Viện Brookings, 2009

(“Toward a New

Frontier, Improving the U.S.-Canadian Border” - Sands, Christopher,
Brookings Institute, 2009)
Nghiên cứu của Tiến sĩ Christopher Sands (là một thành viên cao cấp
tại Viện Hudson, chuyên về mối quan hệ Mỹ-Canada và hội nhập kinh tế khu
vực Bắc Mỹ) với tiêu đề “Hướng đến một biên giới mới, cải thiện khu vực
cửa khẩu Mỹ-Canada”. Bài viết đề cập đến Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mĩ
năm 1994 (NAFTA) đã từng trở thành nền tảng cho sự thống nhất về kinh tế
và chính trị giữa ba quốc gia từ việc phát triển thương mại giữa hai bên biên
giới Mỹ - Canada và Mỹ - Mexico, những tác động quan trọng của việc phát
triển thương mại đối với các cộng đồng xung quanh khu vực biên giới.
Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những vết rạn nứt nghiêm trọng do
những bất cập và sự lỗi thời khi nền kinh tế thế giới đang vận động không
tuân theo những toan tính chủ quan, đòi hỏi phải có một sự đổi mới ở khu vực
biên giới giữa các nước này.
Christopher Sands đã xem xét lại lịch sử gần đây về các cách thức mà
11




13
nguồn Campuchia, Phnom Penh); Leeber Leebouapao, bà Phonesaly
Souksavath, bà Phetsamone Sone, ông Souphith Darachanthara và ông
Vanthana Norintha (Trung tâm Thống kê Quốc gia - Viện nghiên cứu kinh tế
(Neri), Viêng Chăn); Worawan Chandoevwit, Yongyuth Chalamwong và
Srawooth Paitoonpong (Viện Tài nguyên Phát triển Thái Lan - TDRI);
Nguyễn Thị Kim Dung (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế (CIEM), Hà Nội);
Củ Chi Lợi (Viện Kinh tế, Hà Nội)
Nghiên cứu này đã giới thiệu một cách tổng quát kinh tế biên giới các
nước Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam (CLTV), các chính sách và các
thỏa thuận thương mại biên giới, các biện pháp tạo thuận lợi và chi phí giao
dịch cho hàng hóa, phương tiện và người qua cửa khẩu các nước CLTV, cấu
trúc và hoạt động thương mại cũng như các tác động đối với phúc lợi của hộ
gia đình, đặc biệt là những người sống dọc theo khu vực biên giới các nước này.
Cả bốn quốc gia đều xem các cơ hội qua biên giới là rất quan
trọng. Thái Lan nhìn vào đó với tầm nhìn lớn hơn và tham vọng biến mình
thành một trung tâm kinh tế khu vực, trong khi đó, Việt Nam coi phát triển
kinh tế qua biên giới như một chiến lược quan trọng theo cách tiếp cận từ xa
và chuẩn bị tốt cho giai đoạn cuối cùng gia nhập WTO, Việt Nam đã thực
hiện một chính sách tích cực tạo ra một loạt các khu kinh tế dọc theo biên giới
của mình. Campuchia và Lào nhận thức được vị trí chiến lược của họ giữa hai
quốc gia lớn hơn là Việt Nam và Thái Lan, và mong muốn mở rộng tiếp cận
thị trường trong khu vực. Mỗi quốc gia CLTV đã thiết lập các cơ hội mới để
biên giới trở nên cởi mở hơn.
Tuy nhiên, tất cả những nước này đều đang hội nhập khu vực và toàn
cầu hóa, và nhận thức rất rõ về sự cần thiết để xây dựng một cách hiệu quả
nền kinh tế thị trường cạnh tranh trên cơ sở lợi thế so sánh của họ. Thương
mại qua biên giới ngày càng được xem như là một phương tiện để thúc đẩy
hội nhập khu vực và là một cách để chuẩn bị cho nhiều chính sách kinh doanh

14


15
kinh tế xuyên biên giới, các khía cạnh lựa chọn mô hình khu kinh tế xuyên
biên giới cho Bằng Tường - Đồng Đăng và Hà Khẩu - Lào Cai, quy trình để
thành lập một khu kinh tế xuyên biên giới.
Các khu kinh tế xuyên biên giới được hình dung là bao gồm 5 yếu tố
chính như sau: (1) các điểm qua lại cửa khẩu tiên tiến, (2) các kết nối cơ sở hạ
tầng hiện đại, (3) các khu vực thương mại, các khu dành cho doanh nghiệp,
(4) các chính sách ưu đãi, và (5) hai bên cùng quản lý.
Mặc dù các khu kinh tế xuyên biên giới đem lại nhiều lợi ích to lớn cho
các doanh nghiệp Trung Quốc trong ngắn hạn, việc hội nhập kinh tế Trung –
Việt và khu kinh tế xuyên biên giới sẽ có thể đem lại các kết quả có lợi cho cả
hai bên trong dài hạn. Hơn nữa, các khu kinh tế xuyên biên giới sẽ là một
cách để thu hút đầu tư của nhà nước và tư nhân, vốn là điều rất cần thiết đối
với các khu vực biên giới vẫn còn chưa phát triển. Cuối cùng, các khu kinh tế
xuyên biên giới có thể góp phần vào việc chuyển đổi các hành lang giao thông
thành hành lang về dịch vụ hậu cần và hành lang kinh tế.
Việc phát triển khu kinh tế xuyên biên giới phải cân đối giữa các mục
tiêu và lợi ích đôi khhi trái ngược nhau, trong đó có: (1) lợi ích của Trung
Quốc với lợi ích của Việt Nam, (2) khu kinh tế xuyên biên giới so với hợp tác
kinh tế xuyên biên giới, (3) khu ngoại quan so với đặc khu kinh tế, (4) khu
kinh tế đóng, có hàng rào bao quanh hay khu kinh tế mở, không có hàng rào
bao quanh, (5) thành lập ngay hay thành lập từng bước, (6) quản lý thống nhất
hay hai bên quản lý song song, (7) khu cực nhà nước hay khu vực tư nhân sẽ
đóng vai trò chủ đạo trong thúc đẩy sự phát triển của khu kinh tế, (8) cơ sở hạ
tầng cứng so với cơ sở hạ tầng mềm, (9) ngành chế tạo hay ngành dịch vụ.
Báo cáo này, các tác giả đề xuất các khu kinh tế xuyên biên giới sẽ
được song song thành lập ở cả Bằng Tường – Lạng Sơn và Hà Khẩu – Lào

Âu hay châu Á, và các thông lệ ở Tây Âu thường được áp dụng mở rộng. Một
trong số các lý do gây nên sự đa dạng về thông lệ văn hóa này là nhu cầu của
hầu hết các nước phát triển trong việc có được sự đồng thuận của nhiều đối
tác từ cả khu vực nhà nước lẫn khu vực tư nhân. Mặc dù Trung Quốc và Việt
16


17
Nam đều là những nền kinh tế có sự chỉ đạo của nhà nước, nhưng vì các khu
kinh tế xuyên biên giới liên quan đến các quan hệ đối tác xuyên quốc gia và
các quan hệ phức tạp giữa nhiều đối tượng, nên chúng ta cần có một qui trình
chuẩn bị bài bản.
Báo cáo đã mô tả các xu hướng trong thương mại Việt – Trung, bắt đầu
bằng xu hướng thương mại nói chung và sau đó là thương mại mậu biên.
Đồng thời, Báo cáo đã phác thảo về mô hình khu kinh tế xuyên biên giới và
thảo luận lý do tại sao nên phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới; tổng kết
hiện trạng của việc phát triển khu kinh tế xuyên biên giới; xem xét các
phương án khác nhau trong việc xác định định vị chiến lược cho các khu kinh
tế, đề xuất một số đặc điểm cụ thể nên được đưa vào trong mô hình khu kinh
tế xuyên biên giới, và cuối cùng là khái quát lại những bước đi điển hình
trong việc phát triển các cơ sở cần thiết như khu công nghệ, cũng là một khái
niệm gần với khu kinh tế xuyên biên giới, bởi vì khu kinh tế xuyên biên giới
là một mô hình mới.
- “Phát triển thể chế và tăng cường năng lực - Dự án Phát triển các
KKT xuyên biên giới giữa Trung quốc và Việt Nam”, Robert L. Wallack,
Chuyên gia tư vấn quốc tế; Wei Zhaohui; Nguyen Anh Thu – Ngân hàng Phát
triển Châu Á, 2011
Đây là báo cáo của chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật trong khuôn khổ dự án
Phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam do
Ngân hàng Phát triển châu Á tài trợ. Chủ trì là Robert L. Wallack, Chuyên gia

- Tác động kinh tế của cơ sở hạ tầng xuyên biên giới: Mô hình cân bằng
với Thái Lan và Lào” (Regional Economic Impacts of Cross-Border
Infrastructure: A General Equilibrium Application to Thailand and Lao PDR),
Warr Peter, Menon Jayant, Yusuf Arief Anshory, Tài liệu về công tác hội nhập
khu vực của ADB, số 35, tháng 10/2009, Ngân hàng Phát triển Châu Á.
Bài viết này của các tác giả sử dụng mô hình cân bằng để nghiên cứu
tác động về kinh tế của việc cải thiện cơ sở hạ tầng khu vực xuyên biên giới
giữa Lào và Thái Lan nhằm giảm chi phí thương mại liên khu vực. Các tác giả
18


19
đã nhấn mạnh tầm quan trọng của mạng lưới đường cao tốc trong việc thúc
đẩy dòng hàng hóa lưu thông cũng như thu hút đầu tư nước ngoài ở các nước
Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS). Cơ sở hạ tầng tại các khu vực cửa
khẩu cũng có tầm quan trọng như việc xây dựng mạng lưới đường cao tốc vì
nó có thể làm trì hoãn thời gian trung chuyển hàng hóa và làm phát sinh chi
phí tại cửa khẩu.
Các phân tích tập trung vào các lợi ích kinh tế từ cây cầu quốc tế thứ
hai (cầu Hữu Nghị II) bắc qua dòng sông Mekong giữa tỉnh Mukdahan của
Thái Lan và tỉnh Savannakhet ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Trong
nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra kết luận rằng: Trong ngắn hạn, cơ sở vật
chất tại các cửa khẩu (hạ tầng cửa khẩu) có thể chỉ tác động khiêm tốn đến
tăng trưởng khối lượng thương mại liên vùng; Trong dài hạn, lợi ích của cả
hai bên sẽ lớn hơn rất nhiều, không chỉ giảm chi phí vận chuyển mà còn tiết
kiệm thời gian qua sông, giảm nhiều chi phí cho người dân, tạo điều kiện cho
phong trào du lịch hai chiều giữa Thái Lan và Việt Nam vượt qua Lào. Ngoài
ra các ngành công nghiệp mới được phát triển, tạo công ăn việc làm và sản
phẩm cũng như thu nhập cho người dân và khu vực, góp phần giảm tỷ lệ
nghèo đói…

công nghệ, kinh nghiệm quản trị,…) trong và ngoài nước, nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân vùng biên giới, rút ngắn khoảng cách phát
triển của các vùng miền trong nước,… con đường hiệu quả và cần làm lúc này
là đẩy mạnh giao lưu cửa khẩu ở cả ba miền có chung đường biên giới trên
đất liền với Việt Nam là Trung Quốc, Lào và Campuchia.
Những thành quả đạt được của KTCK trong thời gian vừa qua là biểu
hiện thành công của chủ trương đúng đắn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của Đảng và Nhà nước, vừa khẳng định sức bật
kinh tế ở các địa phương vùng biên, nhưng đồng thời cũng là hậu quả của sự
phát triển chủ quan, cân nhắc chưa đầy đủ, bằng chứng là một thời gian dài
chúng ta chưa chú trọng đầu tư phát triển vùng biên giới. Do vậy, bên cạnh
các khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) hoạt động hiệu quả, cũng còn không ít
20


21
các nguồn lực tại các cửa khẩu sử dụng chưa hợp lí nếu không nói là kém hiệu
quả, đời sống của người dân địa phương và bộ mặt các KKTCK chưa có sự
thay đổi xứng tầm với vai trò vốn có của nó.
Bài viết này, tác giả hướng tới đi sâu vào nghiên cứu cơ sở lí luận (khái
niệm, các yếu tố cấu thành, vai trò và các mô hình, động thái hoạt động,…)
cho đến thực trạng phát triển (kết quả đạt được, những vấn đề phát sinh, mức
độ tác động trên nhiều phương diện,…). Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp
khắc phục để những thành tựu đạt được từ phát triển KTCK phát huy tác dụng
ngày càng to lớn hơn.
- “Khu kinh tế tự do – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, TS Cù Chi
Lợi, 2010 (Đề tài khoa học cấp Bộ).
Khu kinh tế tự do là một khái niệm có nội hàm rộng chỉ một khu vực
địa lý có áp dụng những chính sách đặc biệt nhằm thu hút đầu tư và khuyến
khích xuất khẩu bao gồm khu chế suất, khu kinh tế cửa khẩu, khu công
nghiệp, đặc khu kinh tế, ... Dù cho tên gọi và chức năng của khu có khác

số tài liệu có thể tham khảo cho đề tài như: Phương hướng hoàn thiện chính
sách pháp luật về KKT - TS. Lê Tuyển Cử, Phó Vụ trưởng Vụ quản lý các
KKT - Bộ KH&ĐT; Bài học kinh nghiệm từ đặc KKT Sán Đầu, Trung Quốc TS. Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm UBKT của QH; Thực trạng phát triển
và cơ chế chính sách đối với KKTCK biên giới – Hồ Phương Chi, Vụ Kinh tế
dịch vụ - Bộ KH&ĐT; Phát triển KKTCK để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển
KT-XH địa phương - Phạm Văn Cường, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai.
- “20 năm xây dựng và phát triển KCN, KCX, KKT ở Việt Nam” - Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, 2012
Có thể nói Hội nghị Tổng kết 20 năm xây dựng và phát triển KCN,
KCX, KKT ở Việt Nam (1991-2011) diễn ra ngày 17/2/2012 tại Hà Nội đã
khái quát một cách toàn diện về hiệu quả lẫn hạn chế của gần 300 KKT, KCN,
chế xuất đã và đang hoạt động trên khắp cả nước. Cuốn kỷ yếu với 30 bài viết
về KCN, KCX, KKT, trong đó đã đề cập đến các vấn đề sau:

22


23
+ Tổng kết tình hình xây dựng và phát triển các KKT ven biển,
KKTCK ở Việt Nam - Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
+ Một số giải pháp định hướng hoàn thiện mô hình quản lý các KKT
trong thời gian tới - Bộ Nội vụ;
+ Xây dựng và phát triển KCN, KCX và KKT - Bộ Tài chính;
+ Quản lý Nhà nước đối với hoạt động công nghiệp, thương mại trong
các KCN, KCX, KKT - Bộ Công thương;
+ Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển KCN, KCX, KKT - Bộ
KH&ĐT;
+ Thực trạng phát triển và cơ chế, chính sách đối với KKT cửa khẩu
trên địa bàn tỉnh Tây Ninh - Ban quản lý KKT tỉnh Tây Ninh;
Nhìn chung, các bài viết và các tham luận tại Hội nghị đã cho cái nhìn

cơ sở cho việc xây dựng các khu kinh tế tự do.
2.3. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động KKTCK
- “Phát triển KKTCK biên giới phía Bắc Việt Nam trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế”, Đặng Xuân Phong, 2011 (Luận án Tiến sĩ)
Từ khi mở cửa biên giới với Trung Quốc, các KKTCK phía Bắc giáp
với Trung Quốc đã trở thành vùng kinh tế động lực đóng góp tích cực vào quá
trình phát triển của cả nước nói chung cũng như các địa phương có các
KKTCK nói riêng. Tuy vậy, việc phát triển các KKTCK trên cả nước nói
chung và các KKTCK có chung đường biên giới với Trung Quốc nói riêng
còn nhiều tồn tại, yếu kém, đặc biệt là những vấn đề đặt ra trong giai đoạn
hiện nay khi nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế về
phát triển KKTCK trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; Phân tích đánh giá
thực trạng phát triển các KKTCK Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc, chỉ ra
những thành tựu, hạn chế yếu kém và nguyên nhân; từ đó đề xuất các quan
điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển các
KKTCK có đường biên giới giáp với Trung Quốc ở nước ta.

24


25
- “Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu với xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Lào
Cai”, Giàng Thị Dung, 2014 (Luận án Tiến sĩ)
Luận án đã khái quát hóa, làm rõ cơ sở lý luận về phát triển Khu kinh tế
cửa khẩu với xóa đói giảm nghèo. Trong đó, xây dựng khái niệm, nội dung
phát triển Khu kinh tế cửa khẩu, mối quan hệ giữa phát triển Khu kinh tế cửa
khẩu với xóa đói giảm nghèo qua: Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế; Phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch; Giải quyết việc làm, tạo thu
nhập cho người lao động nghèo; Phân phối lại nguồn thu từ khu kinh tế cửa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status