SKKN mầm non: MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI - Pdf 41

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuốn những điều cần biết về trẻ thơ đã viết. “Trẻ em là nguồn hạnh phúc
của mỗi gia đình, là tương lai của mỗi dân tộc, trẻ em hôm nay là thế giới ngày
mai. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của nhà nước, của toàn
xã hội và mỗi gia đình”
Để xây dựng đất nước phồn vinh đòi hỏi phải có nguồn nhân lực khoẻ mạnh
và được đào tạo tốt. Chất lượng của nguồn nhân lực này chịu ảnh hưởng đáng kể
bởi quá trình hình thành và phát triển ngay từ lứa tuổi mầm non. Xác định được
điều đó, trong những năm gần đây Đảng và nhà nước ta đã quan tâm, chăm lo đến
việc giáo dục trẻ đặc biệt là giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho
trẻ mầm non.
Bởi dinh dưỡng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ ở lứa tuổi
mầm non. Trẻ ở độ tuổi này phát triển nhanh cả về thể lực và trí tuệ. Nếu được
chăm sóc, được nuôi dưỡng đầy đủ sẽ phát triển tốt, ít ốm đau bệnh tật, khoẻ mạnh.
Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non góp phần phát triển toàn diện cho trẻ về các
mặt:
- Thể lực sức khoẻ:
Giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ biết ăn uống hợp lý, đúng cách để có lợi cho sức
khoẻ, biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường để phòng
tránh bệnh tật đặc biệt là trẻ có một số kỹ năng tự phục vụ trong ăn uống, để có sức
khỏe tốt.
- Về nhận thức:
Giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ nhận thức bốn nhóm thực phẩm cơ bản, nguồn
gốc thực phẩm, có khả năng phân loại thực phẩm theo nhóm và theo đặc điểm
giống, khác nhau. Trẻ nhận biết được các chất dinh dưỡng cơ bản và tác dụng của
các chất đối với sự phát triển của cơ thể, biết thành phần những món ăn quen thuộc,
làm quen với cách chế biến các món ăn đơn giản.
- Về ngôn ngữ:
Giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ gọi tên các loại thực phẩm các món ăn thông
thường, biết kể tên các món ăn mình thích, có khả năng kể truyện theo tranh, làm
sách tranh, đọc thơ...Về thực phẩm và dinh dưỡng. Từ đó phát triển ngôn ngữ mạch

là để giải quyết chống lại cảm giác đói. Ăn uống để cung cấp năng lượng cho cơ
thể hoạt động, ngoài ra thức ăn còn cung cấp các axit- amin, vitamin, khoáng chất
là những chất cần thiết cho sự phát triển cơ thể; duy trì các tế bào. Nếu thiếu hoặc
thừa các chất dinh dưỡng nói trên đều có thể gây bệnh hoặc ảnh hưởng bất lợi cho
sức khoẻ.
Chúng ta biết rằng tình trạng dinh dưỡng tốt của mọi người phụ thuộc vào
khẩu phần dinh dưỡng thích hợp, việc được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ, có môi
trường sống hợp vệ sinh. Ngoài ra, tình trạng dinh dưỡng còn phụ thuộc vào các
2


kiến thức về ăn uống khoa học của mỗi người, các thói quen và tập quán ăn uống
của địa phương. Muốn khoẻ mạnh cần ăn uống hợp lý và chăm sóc sức khoẻ đầy
đủ. Ở trẻ em đang tuổi cơ thể phát triển mạnh, nhu cầu về dinh dưỡng rất lớn. Nếu
thiếu ăn, trẻ em sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả về các bệnh dinh dưỡng như:
Suy dinh dưỡng, các bệnh do thiếu vi chất dinh dưỡng... Ở nước ta hiện nay vấn đề
thiếu dinh dưỡng vẫn còn là vấn đề nghiêm trọng ở các vùng nghèo. Bên cạnh đó
căn bệnh béo phì ở trẻ em có xu hướng gia tăng ở một số thành phố lớn.
Các nhà khoa học nghiên cứu và cho biết trẻ em ở lứa tuổi mầm non nhu cầu về
dinh dưỡng và nhu cầu về hoạt động là rất cao. Hơn thế nữa, theo cuốn dinh dưỡng
trẻ em của Nhà xuất bản giáo dục viết: “cơ thể trẻ là cơ thể đang phát triển tính
theo cân nặng ở trẻ nhỏ cần từ 100-120kcal cân nặng/ ngày, nhưng ở người lớn
chỉ cần 100kcal cân nặng/ ngày”. Theo Thông tư 17/2009/TT - BGD&Đ T ngày
25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định: “đối với
trẻ mẫu giáo nhu cầu về năng lượng của một trẻ trong một ngày là: 1470 Kcalo.
Nhu cầu khuyến nghị về năng lượng tại trường của một trẻ trong một ngày
(chiếm 50 - 60% nhu cầu cả ngày): 735 - 882 Kcalo. Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục
mầm non tối thiểu một bữa chính và một bữa phụ”. Vì thế huyện Nga Sơn quy
định đối với các trường đạt chuẩn Quốc gia về năng lượng tại trường của một trẻ
trong một ngày (chiếm 70% nhu cầu cả ngày), đạt 1029 Kcalo. Điều đó cho thấy

giáo dục trẻ
* Đối với phụ huynh: luôn sát cánh cùng nhà trường cho nên công tác phối kết hợp
giữa gia đình trẻ, giữa nhà trường và cô giáo đạt hiệu quả cao.
2. Những khó khăn:
* Đối với trẻ: Trẻ lớp tôi đa số là con em nông thôn nên sự hiểu biết về dinh dưỡng
và vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế. Những món ăn trẻ được tiếp xúc
còn ít, nhiều trẻ còn chưa biết mình thích ăn món gì nhất.
Trẻ đã có khả năng phân loại thực phẩm theo nhóm, đã nhận biết được thành
phần những món ăn, đã nhận biết được loại thực phẩm đang chế biến có chứa chất
gì, đã biết cách chế biến những món ăn đơn giản nhưng kết quả chưa cao.
Sự hiểu biết về ăn uống đúng cách để có lợi cho sức khoẻ và phòng tránh bệnh
tật còn nhiều hạn chế
* Đối với bản thân: Là một giáo viên trẻ mới vào nghề nên bề dày kinh nghiệm
chưa có nhiều. Khả năng gây hứng thú cho trẻ vào các hoạt động, nhất là hoạt động
giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế.
* Đối với nhà trường: Trường còn thiếu một số trang thiết bị hiện đại phục vụ cho
công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ .
Giá cả thị trường không ổn định, tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm tăng. Do
đó nguồn thực phẩm tươi ngon phục vụ cho trẻ trở nên khan hiếm và đắt đỏ hơn,
gây nhiều khó khăn cho công tác nuôi dưỡng trẻ.
* Đối với phụ huynh: Một số bậc phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến sức khoẻ
của trẻ để trẻ ăn, ngủ, vệ sinh tuỳ thích, mất vệ sinh. Từ đó dẫn đến tình trạng trẻ
4


suy dinh dưỡng vẫn còn và trẻ bị mắc một số bệnh tật như: ngoài da, đau mắt, tiêu
chảy, hô hấp...
3. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên
* Kết quả cân đo, chấm biểu đồ:
Cụ thể đầu năm tôi đã cân đo chấm biểu đồ với số trẻ là 27 trẻ.

Phân loại nhận biết phân
2
biệt được 4 nhóm thực
27
5 18,4
7
26
7
26
8 29,6
phẩm thông thường
Trẻ biết ăn nhiều loại thực
27
7
26
6
22,6 8 29,6 6 22,6
3
phẩm khác nhau
Trẻ biết sử dụng dụng cụ ăn
27
7
26
8
29.6
4 uống đơn giản, có thói quen
vệ sinh
Có thói quen vệ sinh văn
27
5 18.4


29.6 10 37.1

5


- Tốt, khá: đạt chưa cao; Tỷ lệ trung bình, Yếu: còn nhiều
Từ thực trạng trên để nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm cho trẻ tôi đã nghiên cứu tìm tòi sáng tạo và áp dụng các hình thức
giáo dục phù hợp giúp trẻ tiếp thu một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Từ đó giúp trẻ
phát triển một cách toàn diện hơn.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Tạo môi trường giáo dục phong phú phù hợp với chủ đề, giúp trẻ biết
thêm về các loại thực phẩm, cả những thực phẩm mà địa phương không có.
Ngay từ đầu năm học tôi đã vận động phụ huynh cùng tham gia làm đồ dùng,
đồ chơi trang trí lớp, nhằm giúp trẻ tích cực khám phá tìm tòi phục vụ trong quá
trình học tập của trẻ.
Trong lớp tôi đã trang trí làm nổi bật góc “Bé khám phá khoa học” với nhiều
nội dung phong phú gắn liền với từng chủ đề thực hiện
Ví dụ: Ở chủ đề “Thế giới thực vật” tôi cho trẻ quan sát sự nảy mầm của hạt. Để
sau khi trẻ được ăn những loại quả, biết được tên gọi, đặc điểm cấu tạo, chất dinh
dưỡng mà quả cung cấp. Đồng thời giáo dục trẻ biết gieo hạt, hạt nảy mầm thành
cây và cây được lớn lên như thế nào?
Ở chủ đề “Những con vật đáng yêu” tôi dùng lá xoài khô, bẹ ngô, đĩa CD, làm
những con cá sống ngoài biển, như cá thu, cá chim, làm những con vật, ở địa
phương không có để cho trẻ được làm quen.
2. Tổ chức cho trẻ được thăm quan, quan sát thực tế để trẻ tiếp thu tri
thức mới và có dịp củng cố kiến thức đã học
Đặc điểm của trẻ là dễ nhớ mau quên. Vì vậy việc cho trẻ quan sát thực tế là rất
cần thiết giúp trẻ ghi nhớ có chủ định. Trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ

chung. Thường xuyên tổ chức cho trẻ “Tập làm nội trợ”.
3.1 Tạo điều kiện để trẻ được trải nghiệm thực tế giúp trẻ có cơ hội thực hành
rèn luyện kỹ năng chế biến món ăn, kỹ năng vệ sinh cá nhân và vệ sinh chung.
Để trẻ thực hành trên sản phẩm thực tế được tốt trước hết phải hướng dẫn trẻ
cụ thể, cách đong đếm, cách sử dụng một số đồ dùng, dụng cụ nấu ăn và pha chế
thức uống như dao, thìa, cốc, chén…Sau đó, hướng dẫn trẻ thực hành từng bước
trên sản phẩm. Dạy trẻ biết sử dụng đồ dùng phục vụ việc ăn uống, tạo ra một số
món ăn, nước uống đơn giản như: pha nước chanh, pha nước cam… Tôi đã hướng
dẫn trẻ thực theo quy trình pha nước cam sau: rót 2/3 cốc nước sôi để nguội ->
thêm 2 thìa đường -> cắt đôi quả cam -> vắt nước cam -> rót nước cam vừa vắt ->
khuấy đều -> uống. Làm như vậy trẻ được thực hành chế biến trực tiếp nước uống
đơn giản, gần gũi, được sử dụng một số đồ dùng ăn uống quen thuộc như: ca, cốc,
thìa, dao, thớt. Sau đó tôi chia trẻ thành các tổ và thi đua thực hành trải nghiệm
xem tổ nào có thao tác nhanh và đúng quy trình nhất. Pha xong các ly nước cam trẻ
được uống sản phẩm mình tự làm, trẻ rất hứng thú và mong muốn được thực hành
trải nghiệm thường xuyên hơn.

7


Hình ảnh minh hoạ trẻ thực hành quy trình vắt nước cam
Từ đó giúp hình thành ở trẻ thói quen ăn uống tốt, thích thú với các món ăn do
mình tạo ra và giúp trẻ có thói quen vệ sinh, hành vi văn minh, lao động tự phục vụ
ở trẻ, hình thành kĩ năng sống cơ bản cho trẻ.
3.2. Thường xuyên tổ chức cho trẻ “Tập làm nội trợ”.
- Mục đích thường xuyên tổ chức cho trẻ “Tập làm nội trợ” là giúp trẻ có nhiều
cơ hội được trải nghiệm để:
+ Trẻ biết tên gọi các loại thực phẩm:
Ví dụ: Với các loại rau (rau cải, rau muống...) tôi hướng dẫn trẻ thực hành các
thao tác chế biến đơn giản để chế biến thành rau xào, luộc. Trong quá trình hướng

cụ ăn uống đơn giản qua trò chơi nấu ăn hàng ngày. Làm như vậy trẻ sẽ hứng thú
thực hành và đến giờ ăn 100% trẻ sử dụng đúng.
+ Có thói quen vệ sinh văn minh trong ăn uống, có thói quen vệ sinh cá nhân.
Ví dụ: Tôi cho trẻ chơi trò chơi đôi bàn tay đẹp, miệng ai xinh hơn, ai sạch sẽ hơn,
Để trẻ biết gĩư gìn vệ sinh trong ăn uống và có thói quen vệ sinh cá nhân như: rửa
tay sạch trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, không nói chuyện, cười đùa trong giờ
ăn, không làm cơm rơi vãi.
+ Trẻ biết hoạt động chế biến các món ăn đơn giản.
Tôi đã tổ chức cho trẻ được thực hành chế biến một số món ăn đơn giản như: Cho
trẻ làm quen với quy trình làm muối lạc, pha sữa, trứng rán, làm bánh mỳ kẹp bơ.
Thông qua tổ chức hội thi “Bé tập làm nội trợ” lồng ghép với hội thi “Bé khoẻ bé
ngoan”, tại lớp. Nhờ đó tôi thu được kết quả rất khả quan, có gần 90 % trẻ thực
hiện đúng các quy trình và hoạt động chế biến các món ăn đơn giản như trên.
Qua hoạt động “Tập làm nội trợ” trẻ được thực hành, trải nghiệm và học tập
một cách tích cực các bài học về dinh dưỡng như cách ăn, cách chọn thức ăn giàu
dinh dưỡng.
- Động viên khuyến khích, huy động sự tham gia của các bậc cha mẹ trong việc tổ
chức cho trẻ thực hiện các nội dung “Tập làm nội trợ” Qua đó trẻ gọi tên, phân
biệt được các loại quả, các món ăn cách trang trí sắp sếp và vệ sinh sau khi tiến
hành hoạt động “Tập làm nội trợ” như: Đóng góp các thực phẩm để trẻ thực hành
9


(đóng góp rau, củ, quả, tiền….) thu thập các tài liệu, tranh ảnh có liên quan; tham
gia “Triển lãm” tranh “ Bé tập làm nội trợ”; tham gia tổ chức hội thi “bé tập làm
nội trợ” liên hoan sinh nhật, lễ, tết với trẻ; phụ huynh trò chuyện hướng dẫn trẻ
thực hành “Tập làm nội trợ” qua các trò chơi: Tập làm bánh trôi, bánh chay.

Hình ảnh minh hoạ phụ huynh tham gia hướng dẫn trẻ quy trình làm bánh trôi,
bánh chay tại lớp để chuẩn bị tổ chức hội thi “ Bé khoẻ, bé ngoan”

Đậy là hoạt động chính giúp trẻ tiếp thu những kiến thức cơ bản về các loại
thực phẩm, các chất dinh dưỡng - sức khoẻ và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thông qua các hoạt động cho trẻ khám phá về các loại rau, củ, quả các loại,
các con vật nuôi trong gia đình. Tôi dạy trẻ biết gọi tên các loại thực phẩm, tên gọi
các món ăn chế biến từ các loại thực phẩm ấy và giúp trẻ biết được nguồn gốc các
loại thực phẩm các chất có trong các thực phẩm ấy.
Ví dụ: Khi cho trẻ khám phá về các con vật nuôi trong gia đình cụ thể là con gà mái
trẻ biết được gà mái đẻ ra trứng, trứng là thực phẩm có nhiều chất đạm ăn trứng
giúp cơ thể trẻ nhanh lớn. Qua đó động viên những trẻ chưa thích ăn trứng để trẻ tự
giác ăn, động thời giáo dục những trẻ thích ăn trứng gà ăn ở mức độ vừa phải nếu
ăn trứng gà hàng ngày sẽ bị mắc bệnh không tốt cho sức khoẻ. Trứng có thể chế
biến thành các món ăn: Trứng rán, trứng luộc, trứng đúc thịt, trứng có thể dùng nấu
canh cà chua.
* Với hoạt động làm quen với tác phẩm văn học.
Như chúng ta đã biết văn học là tác phẩm nghệ thuật, ngôn ngữ của văn học là
ngôn ngữ biểu cảm lôi cuốn người nghe, các tác phẩm văn học có các tình huống
hấp dẫn thu hút sự chú ý của trẻ. Chính vì vậy những hoạt động làm quen với tác
phẩm văn học là những hoạt động lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm một cách nhẹ nhàng và thoải mái nhất từ đó trẻ lĩnh hội nhanh
những kiến thức mà cô truyền thụ.
Ví dụ: Qua bài thơ “Bắp cải” trẻ biết được đặc điểm cây bắp cải, cô giới thiệu cho
trẻ biết bắp cải là một loại rau có rất nhiều vitamin và chất khoáng, bắp cải có thể
nấu canh, luộc, xào. Qua truyện “Hai anh em” trẻ biết phân biệt nguồn gốc của hạt
gạo, gạo nấu thành cơm nuôi sống con người, trong gạo có rất nhiều chất bột
11


đường, lúa gạo là do người nông dân trồng, chăm sóc, từ đó mà trẻ quý trọng sản
phẩm mà người lao động làm ra, yêu quý người lao động
* Với hoạt động tạo hình

Ví dụ: Quan sát vườn rau trẻ được gọi tên các loại rau, quan sát đặc điểm của các
loại rau, củ, quả...; các con vật tôm, cá, cua, ngao ốc, gà, vịt ....
12


* Tổ chức các trò chơi.
Tôi cũng tìm những trò chơi phù hợp với hoạt động có lồng ghép giáo dục dinh
dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Từ đó trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ
nhàng, nhớ lâu. Tôi đã sử dụng các trò chơi: bé tập làm nội trợ, thi tài phân loại các
thực phẩm theo 4 nhóm chất, tôi thích ăn món nào, cùng mẹ đi chợ, vườn rau sạch
của bé, trang trại gia đình, xếp chuồng cho các con vật, cùng thi tài chế biến món
ăn....
Ngoài việc lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm vào
các tiết học, việc tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi, tạo điều kiện để trẻ tiếp thu và
phản ánh những hiểu biết của mình về dinh dưỡng là hoạt động hết sức quan trọng.
Trẻ được tiếp xúc với các đồ vật đồ chơi, qua trò chơi tạo điều kiện để trẻ tự học
hỏi nhau, thể hiện sự hiểu biết của mình về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm.
Qua các trò chơi tôi tạo điều kiện để trẻ vui chơi với đồ chơi, khi trẻ gọi tên các
thực phẩm, trẻ học cách chế biến món ăn và trẻ được thực hiện các thao tác chế
biến món ăn, cách chế biến thực phẩm và vệ sinh thực phẩm, vệ sinh cá nhân và vệ
sinh chung.
4.4 Với hoạt động góc
Việc tổ chức cho trẻ hoạt động góc với tất cả các góc mở giúp trẻ được trải
nghiệm hoạt động của người lớn, trẻ được làm thí nghiệm, từ đó giúp trẻ hiểu biết
thêm về dinh dưỡng.
- Qua hoạt động góc: Trẻ gọi tên các thực phẩm, biết đặc điểm của các loại thực
phẩm, trẻ tự học cách chế biến những thực phẩm thành những món ăn. Biết cách
tạo ra những thực phẩm trong cuộc sống, biết vệ sinh cá nhân và hành vi văn minh.
Ví dụ: Ở góc phân vai, trẻ mua hàng muốn mua loại thực phẩm gì thì hỏi người bán

Vào giờ chia ăn tôi tranh thủ giới thiệu các món ăn cho trẻ và thành phần các
món ăn chứa nhiều chất gì? Tác dụng của chất đó đối với cơ thể của trẻ, động viên
trẻ ăn món đó tập ăn dần, lúc đầu ăn ít sau đó ăn đủ...
Ví dụ: Tôi sử dụng hệ thống câu hỏi mở để giới thiệu và đàm thoại với trẻ về
các món ăn: Các con ơi! Hôm nay, các cô dinh dưỡng nấu cho các con ăn món ăn
gì? (Cá súp cà chua). Ăn cá chứa nhiều chất gì? ( chất đạm). Chất đạm giúp cơ thể
các con như thế nào? (giúp cơ thể các con nhanh lớn, thông minh, học giỏi). vì vậy
các con nên ăn cá nhé...
4.6. Hoạt động chiều
Trong hoạt động chiều, khi trò chuyện với trẻ ở giờ trả trẻ tôi hỏi trẻ hôm nay
các con được ăn những món gì? Cung cấp chất gì? Để trẻ nhớ được tên món ăn và
chất dinh dưỡng mà món ăn đó cung cấp. Đồng thời tôi cho trẻ quan sát tranh các
loại rau củ quả, các con vật, chơi các trò chơi phân loại các chất dinh dưỡng theo 4
nhóm bằng lô tô, đồ chơi bằng nhựa...
Chính vì tôi tổ chức tốt giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua
các hoạt động, biết tận dụng các điều kiện, biết vận dụng các kiến thức, kỹ năng
trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ giúp trẻ phát triển toàn diện nên qua hội
14


thi:”Bé khoẻ, bé ngoan” cấp trường, cấp Huyện đều đạt giải cao, trong đó: có 5
cháu đạt giải nhất hội thi cấp trường và hội thi cấp Huyện có ba cháu đạt giải nhì và
ba cháu đạt giải ba.
5. Phối kết hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh trong việc chăm sóc sức
khỏe và giáo dục dinh dưỡng tại gia đình bằng nhiều hình thức khác nhau.
- Thông qua các buổi họp phụ huỵnh
- Thông qua các góc trao đổi với phụ huynh.
- Tranh thủ trao đổi với phụ huynh trong giờ đón, trả trẻ.
Qua việc tuyên truyền đến các bậc phụ huynh giúp phụ huynh hiểu rõ về vai
trò quan trọng của giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ, đồng

- Tôi cùng trẻ dùng các que kem, giấy màu, màu nước phù hợp để gắn thành hình
con gà trống cho trẻ học và chơi.

- Hay tôi cùng trẻ tận dụng vỏ quả trứng và xốp màu cắt dán tạo thành và bể cá,
làm cây cam, cây xoài, rồi dùng giấy làm các quả bồi và nhiều đồ chơi khác. Trong
qua trình trẻ và cô cùng thực hiện trẻ được gọi tên các thực phẩm, được khám phá
trải nghiệm về đặc điểm các thực phẩm đó.

- Ngoài ra tôi cũng cùng trẻ đã cùng các loại phế liệu sẵn có ở địa phương để cắt
tạo ra những con vật, những loại quả… phục vụ cho các hoạt đông học tập, hoạt
động chơi và trưng bày tại môi trường xung quanh lớp đẹp, hấp dẫn, phù hợp với
16


chủ đề, chủ điểm như: bộ ấm chén, lợn con… Tôi còn cắt tỉa các hộp nước rửa bát,
ống luồng tạo thành hình thù một đàn lợn 10 con có kích thước khác nhau, dùng để
trồng và gieo các loại hạt cho trẻ quan sát khám phá sự nảy mầm và lớn lên của
cây.
Thông qua làm đồ dùng đồ chơi giúp trẻ gọi tên đồ dùng đồ chơi, phân loại đồ
dùng đồ chơi, biết cách sử dụng đồ dùng khi làm đồ chơi, biết chơi với đồ chơi đó
như thế nào trong mỗi góc chơi.

Kết quả: Tôi đã làm 10 cây bắp cải, cây xanh, 10 con lợn, vườn củ cà rốt, 10
củ su hào và nhiều đồ dùng ăn uống khác được nhà trường đánh giá, xếp loại A
VI. KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM
Bằng những biện pháp và hình thức mới cải tiến trên, kết quả giáo dục dinh
dưỡng và an toàn thực phẩm cho trẻ lớp tôi có những chuyển biến đáng phấn khởi,
sức khỏe của trẻ tăng lên rõ rệt. Đặc biệt hơn đối với trẻ 5 – 6 tuổi lớp tôi đang thực
hiện chương trình phổ cập giáo dục. Theo quy định của Sở Giáo dục và đào tạo
phải giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở thể cân nặng và thấp còi chỉ còn 8%. Qua việc

26
2
7,4 0
0
Trẻ biết gọi tên các loại thực
27
1
phẩm đơn giản
Phân loại nhận biết phân biệt
27
17 63
6 22,2 4 14,8 0
0
2
được 4 nhóm thực phẩm
thông thường
27
14 52
13
48
0
0
0
0
Trẻ biết ăn nhiều loại thực
3
phẩm khác nhau
Trẻ biết sử dụng dụng cụ ăn,
27
14 52

Từ kết quả trên bản thân tôi rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.
C.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. KẾT LUẬN
Gần một năm nghiên cứu và tìm tòi sau đó áp dụng các biện pháp vào việc
chăm sóc giáo dục trong trẻ 5 - 6 tuổi về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm,
để đạt được kết quả tốt không phải là dễ. Chính vì vậy trong các hoạt động ngoài
việc truyền thụ kiến thức cơ bản của từng môn tôi khéo léo lồng ghép, kết hợp giáo
dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm sao cho phù hợp, nhẹ nhàng, thoải
mái. Ngoài các hoạt động có chủ định ra tôi cũng khéo léo lồng ghép giáo dục dinh
dưỡng cho trẻ vào các hoạt động khác, từ đó trẻ sẽ lĩnh hội một cách nhanh chóng
và thoải mái, không gò ép.
- Để giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ 5 - 6 tuổi người
giáo viên cần phải có năng lực và trình độ chuyên môn, có kiến thức về dinh dưỡng
để làm tốt nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ, ngoài ra cần phải có lòng yêu nghề
mến trẻ.
- Bản thân tôi luôn tự học hỏi đồng nghiệp, tìm tòi những biện pháp hay trong tài
liệu sau đó áp dụng vào việc chăm sóc giáo dục trẻ.
- Cần phải chuẩn bị tốt đồ dùng và đồ chơi đẹp rõ ràng cả về màu sắc và đặc điểm
cho trẻ khám phá.
- Thường xuyên tạo cơ hội cho trẻ được trực tiếp quan sát những thực phẩm thật.
- Luôn tìm tòi tranh có liên quan về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm đẹp,
hấp dẫn. Giới thiệu góc học tập và trao đổi với phụ huynh.
- Tôi luôn kết hợp giữa gia đình và nhà trường để giúp trẻ tiếp cận và lĩnh hội
những kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm một cách tốt
hơn.
- Học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, nghiên cứu tài liệu để từ đó rút
cho mình những bài học hay nhất góp phần vào việc chăm sóc và giáo dục trẻ đạt
kết quả cao.
II. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status