SKKN mầm non: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC BẰNG VẬT THẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC ĐỐI VỚI TRẺ MẪU GIÁO 34 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA TRUNG - Pdf 41

A. LỜI MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Khám phá khoa học với trẻ mầm non bao gồm tất cả các yếu tố của tự nhiên
và xã hội, bao quanh đứa trẻ, các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau và
có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sự tồn tại và phát triển toàn diện của trẻ
mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi nói riêng. Vì vậy việc cho trẻ khám
phá khoa học là một trong những hoạt động vô cùng cần thiết và quan trọng đối
với trẻ, hoạt động này góp phần tích cực trong việc giúp trẻ phát triển toàn diện
các lĩnh vực nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội, thẩm mỹ và thể lực.
Trong chương trình giáo dục trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 3-4
tuổi nói riêng có rất nhiều hoạt động học và các hoạt động giúp trẻ phát triển
toàn diện, một trong những hoạt động học góp phần xây dựng nền móng tri thức
ban đầu cho trẻ đó là hoạt động khám phá khoa học. Hoạt động khám phá khoa
học giúp trẻ khám phá môi trường xung quanh trẻ, Trẻ được trải nghiệm thông
qua các hoạt động học và trực tiếp khám phá chúng: Biết được tên, đặc điểm,
mùi vị, công dụng..các đối tuợng mà trẻ khám phá. Tuy nhiên qua quá trình tìm
hiểu và sử dụng một số biện pháp cho trẻ khám phá khoa học tôi thấy các
phương pháp như: Dùng hình ảnh qua tranh minh hoạ hay qua băng đĩa chưa
giúp trẻ nhận thức sâu sắc về đối tượng hay sự vật mà trẻ cần khám phá, hoặc trẻ
nhận thức được đặc điểm của sự vật, hiện tượng nhưng chưa sâu sắc, chưa kích
thích được trí tượng tượng, tìm tòi và khả năng ghi nhớ của trẻ về sự vật, hiện
tượng đó còn hạn chế. Vì tất cả những những lý do này, tôi luôn mong muốn
mình phải làm thế nào để giúp trẻ học thật tốt bộ hoạt động khám phá khoa học.
Tôi rất quan tâm và trăn trở về việc làm sao để có những phương pháp hay và
hữu ích nhất giúp trẻ thỏa mãn được nhu cầu khám phá và tìm hiểu thế giới xung
quanh và trong quá trình giúp trẻ nhận biết về thế giới xung quanh tôi quan sát
và thấy được rằng cho trẻ khám phá khoa học bằng vật thật đã giúp trẻ lĩnh hội
kiến thức nhanh hơn và có hiệu quả hơn. Đặc biệt với trẻ 3 - 4 tuổi nhận thức
của các cháu còn hạn chế, vốn hiểu biết mới chỉ là sơ đẳng thì việc lựa chọn và
sử dụng đồ dùng là vật thật cho trẻ khám phá khoa học rất quan trọng. Khám
phá khoa học bằng vật thật làm cho trẻ thích thú vì trẻ không chỉ được nhìn mà

mình, bày tỏ tình cảm với người thân trong gia đình. Với tất cả những gì diễn ra
xung quanh trẻ thì việc cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh có vai trò
rất quan trọng. Thông qua hoạt động học trẻ được khám phá một thế giới của
riêng mình, khám phá môi trường xung quanh. Trẻ được cung cấp vốn kiến thức
sơ đẳng về thế giới xung quanh mình, không những phát triển nhận thức mà trẻ
còn được rèn luyện óc quan sát, tri giác, khả năng ghi nhớ, chú ý, tư duy và
tưởng tượng...Khám phá môi trường xung quanh nhằm củng cố hệ thống hoá
kiến thức, mở rộng vốn hiểu biết về thế giới xung quanh trẻ, qua đó làm giàu
vốn từ của trẻ.Trẻ được khám phá thế giới xung quanh mình, những điều trẻ
chưa biết hoặc đã biết nhưng chưa cụ thể. Trẻ được trải nghiệm thông qua các

2


hot ng hc bng vt tht v trc tip khỏm phỏ chỳng. Hn th hot ng hc
cũn giỏo dc l giỏo, giỏo dc v sinh, dinh dng cho tr.
II.Thc trng ca vn trc khi ỏp dng sỏng kin kinh nghim
1.Thuận lợi :
*Đi ví giỏo viờn:
Trng mm non Nga Trung cú 100% giỏo viờn t chun v trờn chun.
Trng cú i ng Cỏn b giỏo viờn nhit tỡnh nng ng, cú chuyờn hot ng
nghip v vng vng, c tip thu chuyờn giỏo dc mm non mi. luôn luôn
nâng cao ý thức trách nhiệm, thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn và kỷ
luật lao động cao.
Ban giỏm hiu luụn quan tõm u t v c s vt cht v ch o sỏt sao
trong cụng tỏc chuyờn hot ng, nh trng ó trang b y ti liu, hc liu.
Lp hc trang b cỏc thit b hin i phc v cho ging dy: mỏy chiu, ti vi,
u a.
* Đi vi hc sinh
Nm hc 2015-2016 tng s hc sinh lp tụi l 39 chỏu, a s cỏc chỏu ú

cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
3.Kết quả của thực trạng:
Năm học 2015-2016 Tôi đựợc phân công chủ nhiệm lớp Mẫu giáo bé (3 - 4
tuổi), tôi nhận thấy hoạt động cho trẻ khám phá khoa học về môi trường xung
quanh còn hạn chế trẻ chưa tích cực tham gia vào các hoạt động trải nghiệm.
Để có phương pháp, biện pháp dạy trẻ có những kiến thức sâu rộng, biết
được tầm quan trọng của thế giới xung quanh trẻ và kỹ năng, cách hoạt động tìm
hiểu các đối tượng.Chính vì vậy đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát trên trẻ để
nắm được kết quả cụ thể. Tôi tiến hành khảo sát trẻ trên nhiều hình thức: Trong
các giờ hoạt động, mọi lúc mọi nơi, đón trả trẻ…vv
*Kết quả thực trạng:
Vào đầu năm học tôi đã khảo sát chất lượng trẻ với kết quả như sau:
Trước khi áp dụng các phương pháp
Số trẻ (39 trẻ)

trên
Số trẻ

Tỉ lệ %

Trẻ chú ý vào nội dung

20/39

51

Trẻ thích được nói lên ý
kiến của mình.

18/39

- Rèn thói quen tập trung chú ý
Trong giờ học rèn tác phong ngồi học ngay ngắn, đúng tư thế, không nói
chuyện, giờ nào việc ấy không nói leo trong giờ học, chú ý cô giáo phát biểu ý
kiến giơ tay xin phép cô, trả lời rõ ràng, mạch lạc, đủ câu. Đối với những cháu
khá giỏi tôi luôn động viên, khuyến khích để cháu học giỏi hơn, còn những cháu
trung bình tôi đặc biết chú trọng quan tâm, để ý nhiều hơn để tìm hiểu nguyên
nhân vì sao trẻ tiếp thu kiến thức còn hạn chế từ đó để có những hình thức,
phương pháp tiếp cận giáo dục trẻ phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ.
- Giúp trẻ có kỹ năng giao tiếp
Đối với những cháu nhút nhát, nói chậm, nói chưa rõ câu, những trẻ tiếp
thu chậm, ít nói, ít giao tiếp với bạn bè, tôi thường xuyên gần gũi, quan tâm, trò
chuyện cùng trẻ mọi lúc mọi nơi. Trong giờ học thường xuyên gọi cháu lên trả
lời để cháu mạnh dạn hơn, rói rõ hơn, luôn có sự động viên, khuyến khích trẻ
tạo cảm giác thoải mái khi trẻ trả lời dù đúng hay sai để trẻ hứng thú, tập trung
trong giờ học.
Kết quả: Qua một thời gian thực hiện 100% các cháu đã vào nề nếp, giờ
nào việc ấy, lớp đã có nề nếp ý thức học tập tốt, không gò bó, thoải mái, các
cháu ngồi ngoan tập trung chú ý học bài. Đặc biệt những cháu nhút nhát đã
mạnh dạn hơn rất nhiều và đã chủ động giao tiếp trò chuyện với các bạn với cô
giáo cùng lớp.
2. Tăng cường cho trẻ quan sát vật thật để phát triển các giác quan, khắc
sâu nhận thức về đối tượng tìm hiểu.

5


Các sự vật, hiện tượng trong môi trường thiên nhiên và xã hội xung quanh
chúng ta rất đa dạng và phong phú vì vậy tôi cần lựa chọn các sự vật hiện tượng
gần gũi với trẻ để trẻ khám phá. Ở lứa tuổi này trẻ thích tò mò, ham muốn hiểu
biết các sự vật hiện tượng, đứng trước các sự vật cụ thể trẻ rất hiếu động, trẻ


6


Trẻ ở độ tuổi mẫu giáo bé rất thích cái mới lạ, hấp dẫn sinh động, còn
những cái mà quen thuộc, lặp đi, lặp lại nhiều lần sẽ gây cho trẻ sự nhàm chán
cho nên trong quá trình dạy trẻ tôi phải lựa chọn những hình thức sao cho sinh
động, hấp dẫn, sáng tạo và luôn có sự thay đổi để lôi cuốn sự chú ý của trẻ, đặc
biệt trong phần giới thiệu bài, vì đây là phần để gây hứng thú cho trẻ nhiều nhất
trong hoạt động dạy.
Ví dụ: Chủ đề thế giới thực vật.
Khi tôi dạy trẻ “Làm quen với một số loại quả” chủ đề thế giới thực vật.
Trước hết tôi bám sát vào yêu cầu để đảm bảo nội dung kiến thức truyền
thụ cho trẻ và tìm nội dung tích hợp vào tiết dạy sao cho phù hợp, làm nổi bật
trọng tâm của bài, tạo giờ học thoải mái, hấp dẫn, sôi nổi, thu hút được sự hấp
dẫn, kích thích tư duy của trẻ.
Để phần giới thiệu hấp dẫn tôi đã sử dụng trò chơi “Chiếc túi kỳ lạ”
Giới thiệu: Buổi sáng khi cô ngủ dậy một cô tiên xuất hiện gửi tặng cô và các
con “chiếc túi kỳ lạ” chúng mình cùng khám phá xem cô tiên tặng quà gì nhé.
Tôi cho trẻ sờ và đoán trong túi có gì. Trẻ sờ túi và nói tên từng loại quả.
Sau đó dẫn dắt vào bài và khám phá đặc điểm, tác dụng sự đa dạng của từng loại
quả bằng quả thật, đó là món quà cô tiên tặng trong đó có quả cam, quả chuối,
quả xoài. Ở trong đề tài này tôi dùng hoàn toàn bằng quả thật để trẻ quan sát,
khám phá thực tế.

Hình ảnh cô và trẻ làm quen các loại quả
7


Tôi cũng lần lượt thực hiện trình tự các bước có tích hợp hoạt động toán,

được nếm mùi vị. do đó 90% trẻ rất thích thú, nắm được kiến thức bài học, tích
cực tham gia hoạt động.

8


3. Khám phá khoa học thông qua thí nghiệm thực hành
Với phương châm trẻ làm thí nghiệm và thực hành để phát hiện “khám phá
khoa học mới” tôi phát hiện trẻ khám phá khoa học một cách khác nhau cháu
hứng thú với những gì chưa biết, chưa làm và đặc biệt hứng thú với thí nghiệm
khám phá cái mới lạ. Được trực tiếp làm thí nghiệm với các vật mới lạ quả là
một điều thích thú đối với trẻ. Thật vậy, cứ để cho cháu được hoạt động, được
trải nghiệm, được thử, sai, đúng và cuối cùng cháu tìm ra một kết quả nào đó sẽ
là một điều lý thú đối với trẻ. Trẻ sẽ say mê với phát hiện mới và đưa ra được
hàng trăm hàng nghìn câu hỏi: Cô ơi, mẹ ơi vì sao xung quanh ta lại có nhiêu cái
lạ thế? lại có cháu nói cô ơi cháu biết rồi, trẻ phán đoán và tìm ra câu trả lời trí
tưởng tượng của trẻ sẽ bay xa bay cao và phát triển một cách tốt nhất đấy các
bạn ạ. Với giải pháp này tôi đã áp dụng rất thành công ở trẻ lớp tôi tôi đưa ra
đây một số thí nghiệm :
* Thí nghiệm 1: Thí nhiệm về tác dụng của cây cần nước, ánh sáng và
không khí:
- Mục đích:
+ Thông qua thí nghiệm trẻ biết được cây sống được là nhờ có nước, ánh
sáng và không khí.
+ Giáo dục trẻ cây xanh có tác dụng rất lớn với môi trường sống
+ Khuyến khích trẻ trồng cây xanh, yêu quý và bảo vệ cây xanh
- Chuẩn bị: Hai chậu cây, nước
- Tiến hành:
+ Cô lấy 2 chậu cây xanh 1 chậu cô cho trẻ tưới nước hàng ngày, một chậu
5 ngày không được tưới nước.

sát, tri giác của trẻ phát triển tốt đa số trẻ thể hiện được tính tích cực chủ động
khi quan sát đối tượng trong quá trình quan sát trẻ tỏ ra nhanh nhẹn linh hoạt và
phát triển nhiều vốn kinh nghiệm và vốn từ của trẻ trở nên phong phú hơn khả
năng diễn đạt tổt hơn.
*Thí nghiệm 3: Những đồ vật bay và không bay
Mục đích:
- Giúp trẻ nhận biết và phân biệt được những thứ gió thổi bay và có những
thứ gió thổi không bay
- Nhận biết có những đồ vật bay được và không bay được tùy thuộc vào
chất liệu khác nhau
Chuẩn bị:
- Quạt trần, quạt nan, quạt mo, quạt giấy
11


- Các đồ dùng khác nhau: Giấy màu, vải mỏng, kẹp ghim, kéo, xắc xô…
Cách tiến hành:
- Đặt các đồ vật trên bàn, cho trẻ quan sát phỏng đoán “ Vật nào bay và
không bay khi mở quạt hoặc thổi ”
- Trẻ nêu ý kiến và giải thích lý do tại sao?
- Cô mở quạt và quan sát xem vật nào bay và không bay
- Trẻ lí giải hiện tượng
Giải thích và kết luận:
Những vật thường bay khi gặp gió là những vật nhẹ như giấy, vải. Còn
những vật như kẹp ghim, kéo… được làm từ sắt nặng nên khi gặp gió thì không
bay được.

Hình ảnh cô và trẻ làm thí nghiệm những đồ vật bay và không bay
* Thí nghiệm 4: Dạy về không khí
Đầu tiên cô cho trẻ chơi các trò chơi nhỏ:

Kết quả: 100% trẻ trong lớp rất hứng thú và tập trung chú ý cao khi được
học thông qua hoạt động thí nghiệm . 90% trẻ nắm được kiến thức về khám phá
khoa học
4. Khám phá khoa học thông qua hoạt động ngoài trời.
Trong các giờ hoạt động ngoài trời trẻ được tìm hiểu thêm về sự vật hiện
tượng vì thế ngoài kiến thức trẻ được biết trong giờ hoạt động chính thì những
đồ dùng là vật thật vẫn được sử dụng một cách có hiệu quả trong các giờ hoạt
động ngoài trời. Tôi đã hướng dẫn trẻ quan sát vật thật ở hoạt động ngoài trời đó
là: bằng nhiều hình thức khác nhau tôi đưa đối tượng quan sát là vật thật ra cho
trẻ quan sát, tôi cho trẻ quan sát và tìm hiểu về đối tượng từ tổng thể đến chi tiết
sau đó tôi cho trẻ so sánh đặc điểm khác và giống nhau của đối tượng đó với

13


một đối tượng khác, sau đó tôi kết luận lại các đặc điểm chính cũng như tác
dụng của đối tượng đó.
Ví dụ: với chủ đề: thế giới thực vật đề tài quan sát vườn rau trong trường
tôi cho trẻ ra vườn rau ở trường cho trẻ quan sát. Vì trường tôi có vườn rộng
trồng nhiều loại rau nên tôi cho trẻ đến tầng loại rau và cho trẻ quan sát tên gọi
các đặc điểm nổi bật, tác dụng của tầng loại rau. Trẻ còn được giáo dục biết
chăm sóc, tưới nước nhổ cỏ và không được dẫm lển rau, trẻ còn được giáo dục
vệ sinh trong ăn uống.

Hình ảnh cô và trẻ quan sát rau mồng tơi
Với chủ đề phương tiện giao thông đề tài: quan sát chiếc xe máy.
Vì có sẵn các phương tiện là xe của các cô giáo đi làm trong trường tôi đã
chuẩn bị chiếc xe máy thật cho trẻ quan sát. Tôi dùng thủ thuật trời tối trời sáng
và đưa xe ra cho trẻ quan sát tên gọi và từng đặc điểm nổi bật của xe, công dụng,
chất liệu... tôi đưa xe đạp cho tre so sánh xe đạp và xe máy. Được trực tiếp quan

nước con tôm, con cua, con cá. Tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin vào để hỗ
trợ cho hoạt động học đó là cho trẻ xem vi deo các con vật sống dưới nước.
15


được xem các con vật trên máy trình chiếu rõ nét hình ảnh sống động hấp dẫn
trẻ rất thích thú.
Kết quả: Trong năm học tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt
động học cũng như hỗ trợ hoạt động học khám phá khoa học rất thành
công.Việc đưa công nghệ thông tin vào hoạt động khám phá khoa học đã giúp
trẻ sớm được tiếp xúc với công nghệ thông tin do đó trẻ rất hứng thú học và hoạt
động một cách tích cực.
6. Phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường.
Gia đình chính là cái nôi đầu tiên trong cuộc đời của trẻ, tư duy, tính cách
và tình cảm của trẻ ảnh hưởng rất nhiều từ gia đình. Vì vậy cùng với việc dạy trẻ
ở lớp giáo viên cần phối kết hợp với gia đình để hai bên cùng dạy dỗ, chăm sóc,
giáo dục các cháu phát triển toàn diện. Nếu như gia đình và giáo viên có chiều
hướng chăm sóc, giáo dục khác nhau thì kết quả sẽ không như mong đợi. Bởi trẻ
không chỉ học ở trường, ở mọi lúc mọi nơi mà học cả ở nhà nữa. Vì vậy tôi đã
phối hợp với các bậc phụ huynh thật tốt bằng nhiều hình thức. Hằng ngày tôi
thường xuyên trao đổi trực tiếp với các bậc phụ huynh về tình hình học tập cũng
như sức khỏe của trẻ ở trên lớp trong giờ đón, trả trẻ, trao đổi với phụ huynh vào
những buổi họp phụ huynh đặc biệt chú trọng những cháu chậm ngôn ngữ, trí
tuệ phát triển chậm, những cháu nhút nhát, sức khỏe yếu để gia đình bồi dưỡng
thêm cho trẻ. Đồng thời tôi tư vấn cho phụ huynh một số biện pháp, phương
pháp, nội dung bộ hoạt động khám phá khoa học để phụ huynh dạy trẻ:
Ví dụ: Trong gia đình mình có những ai, dạy trẻ cách xưng hô, giao tiếp
ứng xử văn hóa trong gia đình và với người ngoài. Thường xuyên trò chuyện với
trẻ mọi lúc mọi nơi như trong giờ ăn mẹ hỏi trẻ nay gia đình mình ăn những
món gì, những món ấy cung cấp cho ta chất gì hay trẻ cầm bát ăn hỏi trẻ đây là

Số trẻ ( 39 trẻ)

Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng các
các phương pháp trên phương pháp trên
Số trẻ

%

Số trẻ

%

Trẻ chú ý vào nội dung

20/39

51

35/39

90

Trẻ thích được nói lên ý
kiến của mình.

18/39

46

37/39

các tiết mẫu về phương pháp sử dụng đồ dùng là vật thật trong các hoạt động
học
- Đầu tư thêm trang thiết bị, những đồ dùng, đồ chơi có chất lượng để trẻ
khám phá tốt.
- Trang bị thêm tài liệu về cách nghiên cứu các đồ dùng, đồ chơi là vật thật
để sử dụng vào hoạt động học có hiệu quả cao.
- Mua sắm thêm các trang thiết bị thí nghiệm phù hợp với trẻ.
Trên đây là Một số biện pháp sử dụng đồ dùng dạy học bằng vật thật trong
hoạt động khám phá khoa học đối với trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi. Để hoàn thành
sáng kiến kinh nghiệm này, mặc dù được sự quan tâm giúp đỡ của đồng nghiệp
và đặc biệt là của ban giám hiệu nhà trường. Nhưng không tránh khỏi những
thiếu sót rất mong được sự góp ý của ban lãnh đạo cấp trên và của đồng nghiệp
để sáng kiến này đạt hiệu quả tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Trần Thị Hiền

Nga sơn, ngày 18 tháng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết SKKN

Hỏa Thị Hải

18


NỘI DUNG

SỐ TRANG

1

A. LỜI MỞ ĐẦU

2

2

I. Lí do chọn đề tài.

2

3

II. Mục đích nghiên cứu.

3

4

III. Đối tượng nghiên cứu.

3

5



1. Xây dựng nề nếp học tập cho trẻ.

6

11

2. Tăng cường cho trẻ quan sát vật thật để phát triển các
giác quan, khắc sâu nhận thức về đối tượng tìm hiểu.

6

12

3. Khám phá khoa học thông qua thí nghiệm thực hành.

10

13

4. Khám phá khoa học bằng vật thật thông qua hoạt động
ngoài trời.

14

14

5. Ứng dụng côngnghệ thông tin trên hoạt động học.

16

19

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status