I. MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đẫ biết ở mỗi quốc gia mỗi dân tộc đều có một ngôn ngữ
riêng, có một chữ viết riêng. Qua ngôn ngữ, qua chữ viết đó con người thể hiện
những tâm tư, tình cảm những ước mong về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Và đất
nước Việt Nam chúng ta, một đất nước với bề dày văn hóa và lịch sử đã sáng tạo
ra chữ viết riêng, ngôn ngữ riêng cho dân tộc mình, là niềm tự hào cho mỗi
người Việt khi được nói tiếng việt.
Ông cha ta đã có câu nét chữ là nét người. Đúng như vậy có những nét chữ
thể hiện được tính cách con người cẩn thận, ngay ngắn, có những chữ thể hiện
con người phóng khoáng tài hoa. Đối với trẻ mầm non là giai đoạn nhảy cảm
nhất là ngôn ngữ, ở giai đoạn này cần hình thành cho trẻ cá mặt về ngôn ngữ
như phát âm, phát triển từ, tạo câu và diễn đạt và người giáo viên Mầm non là
người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người, chuẩn
bị tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào lớp một.
Dạy trẻ làm quen với chữ viết là một trong những nội dung rất quan trọng
trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Việc cho trẻ làm quen
với chữ viết giúp trẻ bước đầu nhận biết được 29 chữ cái và phát âm chuẩn, các
chữ cái trong các từ trọn vẹn, phát triển ở trẻ những kỹ năng cần có giúp trẻ học
đọc, viết sau này. Mặt khác thông qua hoạt động làm quen với chữ viết còn phát
triển ở trẻ khả năng quan sát, so sánh tổng hợp, khát quát hóa và trừu tượng hóa
và đặc biệt là phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ khi làm quen với chữ viết,
các cơ ngón tay, cơ bàn tay của trẻ được hoạt động nhiều hơn qua đó giúp trẻ
phát triển thể lực.
Quá trình cho trẻ làm quen với chữ viết đã góp phần hình thành và phát triển
ngay từ tuổi ấu thơ, để phát huy được vai trò đó đòi hỏi phải có sự hướng dẫn,
giúp đỡ của người lớn, đặc biệt là cô giáo Mầm non.
Trẻ non mỗi ngày đến trường trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, một
cách rất khoa học, ngoài những nội dung mà giáo viên chăm sóc trẻ như ăn, ngủ,
ra thì giáo viên cò phải dạy trẻ các hoạt động học, như hoạt động âm nhạc, hoạt
động tạo hình, hoạt động thể dục, hoạt động khám phá khoa học vv…. Đặc biệt
tạo cho trẻ làm quen với chữ viết: Trẻ nghe các từ chỉ người, sự vật, hiện tượng,
đặc điểm, tính chất, hoạt động và các từ biểu cảm, từ khái quát.
Trẻ nghe kể chuyện, đọc thơ, đồng dao phù hợp với độ tuổi. Trẻ phát âm
rõ các từ trong tiếng Việt. Bày tỏ nhu cầu, tình cảm và hiểu biết của bản thân
2
bằng các câu khác nhau. Sử dụng đúng từ ngữ và các câu trong giao tiếp hàng
ngày. Trả lời và đặt câu hỏi.
Làm quen với việc sử dụng sách bút. Làm quen với một số ký hiệu thông
thường trong cuộc sống, làm quen với việc đọc sách. Ngôn ngữ là điều kiện, là
phương tiện, là công cụ giao tiếp giữa con người với con người. Trong quá trình
học tập và lao động, con người ngoài giao tiếp bằng ngôn ngữ bằng chữ viết,
chính vì vậy chữ viết chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình học tập và lao
động. Đối với trẻ 5-6 tuổi, việc cho trẻ làm quen với chữ cái có ý nghĩa vô cùng
quan trọng, thông qua hoạt động làm quen với chữ viết giúp trẻ rèn luyện việc
phát âm đúng, trong hoạt động làm quen với chữ cái, trẻ được luyện phát âm
đúng âm của các chữ cái. Khi trẻ chơi các trò chơi dân gian kết hợp với ca dao,
đồng dao trong hoạt động làm quen với chữ cái giúp trẻ có cơ hội trong việc
luyện phát âm đúng. Làm quen chữ viết sẽ góp phần không nhỏ vào việc phát
triển vốn từ. Trong hoạt động làm quen với chữ cái, trẻ được làm quen với nhiều
tranh kèm từ, được trò chuyện với cô về các sự vật hiện tượng trong thế giới
xung quanh vì vậy trẻ biết thên nhiều tên gọi, nhiều từ chỉ tính chất, công cụ,
môi trường sống của các sự vật, hiện tượng xung quanh. Góp phần giúp trẻ biết
cách tạo câu và diễn đạt phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. Trong hoạt động làm
quen với chữ viết trẻ được trò chuyện cùng với cô nên có nhiều cơ hội để luyện
nghe đáp, trả lời đũng câu hỏi, biết cách trò chuyện. Các hoạt động trải nghiệm
làm cho trẻ tự tin hơn trong giao tiếp. Góp phần giáo dục tình cảm và mở rộng
hiểu biết cho trẻ, trong hoạt động làm quen với chữ cái, trẻ được biết tên những
con vật, cây cỏ, hoa lá, các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử mà trẻ chưa
Ban giám hiệu và phụ huynh luôn quan tâm tạo mọi điều kiện giúp cô và
trẻ. Điều này có tác dụng rất lớn trong việc tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen
với chữ viết.
Các cháu trong lớp cùng một độ tuổi, đa số các cháu đều nhanh nhẹn.
Đa số phụ huynh trong lớp quan tâm đến việc học tập của con em mình,
cùng phối kết hợp với giáo viên trong lớp để thống nhất phương pháp giáo dục
trẻ đặc biệt là hoạt động làm quen với chữ viết.
b. Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên tôi còn gặp phải những khó khăn như sau:
Trường chưa đạt chuẩn quốc gia, chưa có phòng chức năng, chưa có vườn
cổ tích, đồ dùng đồ chơi ngoài trời còn thiếu.
4
Đồ dùng, đồ chơi của nhà trường, cũng như của lớp phần nào còn hạn chế
để phục vụ cho hoạt động làm quen với chữ viết như máy tính vv..
Khả năng làm đồ dùng đồ chơi của bản thân còn hạn chế
Giáo viên trong nhà trường ứng dụng công nghệ thông tin chưa linh hoạt.
Đa số phụ huynh đi làm ăn xa các cháu ở nhà với ông bà nên việc trao đổi
với phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn.
Một số trẻ trong lớp còn nói ngọng phát âm chưa rõ ràng, nhận thức của
trẻ không đồng đều.
* Kết quả khảo sát ban đầu:
Số trẻ được khảo sát là 24 cháu:
STT
Kết quả
Nội dung
4
18
7
29
8
33
18
5
20
7
29
8
33
25
7
6
25
7
29
5
21
7
29
5
20
6
25
6
25
6
chữ in mờ theo đúng quy
trình
Trẻ biết thao tác và quy
trình dở sách
Chưa đạt
3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Biện pháp 1: Dạy trẻ làm quen với chữ cái trong hoạt động học:
Hoạt động làm quen với chữ viết là hoạt động cơ bản, qua đó cô giáo
cung cấp hướng dẫn và truyền thụ cho trẻ các kỹ năng. Để hoạt động làm quen
5
với chữ viết được thành công và trẻ hiểu bài yêu cầu đặt ra với giáo viên khi cho
trẻ làm quen với chữ cái là kiến thức khi truyền thụ đến trẻ phải hết sức ngắn
gọn, dễ hiểu tránh sự rập khuôn, sáng tạo đổi mới. Vì thế trước khi lên lớp một
hoạt động dạy trẻ làm quen với chữ cái tôi phải chuẩn bị đồ dùng chu đáo, soạn
bài kỹ.
Ví dụ: Chủ đề: Trường Mầm Non
Đề tài cho trẻ làm quen với nhóm chữ O, Ô, Ơ
Hoạt động của cô
Hoạt động của trẻ
Hoạt động 1
Cho trẻ chơi trò chơi: “Vuốt hạt nổ”
Trẻ tìm bạn chơi
thường, viết thường.
Cô giới thiệu tranh cô giáo, cho trẻ đồng thanh từ cô
giáo.
Cô giới thiệu chữ Ô
Cho cả lớp phát âm chữ ô 2-3 lần
Trẻ phát âm
Cho tổ đọc, nhóm đọc, cá nhân đọc
Trẻ đọc
6
Cho trẻ làm quen với các kiểu chữ ô in hoa, viết hoa,
viết thường, in thường.
Cô cho trẻ so sánh cấu tạo của chữ o, ô giống nhau đều Trẻ lắng nghe
có nét cong tròn khép kín khác nhau chữ o không có
dấu mũ ở trên, chữ ô có thêm dấu mũ trên đầu.
Cô giới thiệu tranh cầu trượt, cho trẻ đồng thanh từ cầu
trượt.
Cô cho cả lớp đọc
Trẻ đọc
Tổ đọc, nhóm đọc, cá nhân đọc.
Trẻ đọc
Cô giới thiệu các kiểu chữ viết hoa, viết thường, in
giáo thì những gì, mới lạ, đẹp mắt hấp dẫn là gây được sự chú ý của trẻ. Để trẻ
được làm quen với chữ cái ở mọi góc trong và ngoài lớp, tôi luôn cố gắng tạo
môi trường thật đẹp để cuốn hút trẻ. Ngoài ra tôi còn trang trí các góc chơi bằng
chính sản phẩm của cô và trẻ, góc học tập - sách tôi luôn dành các mảng tường
mở với bài tập sáng tạo để trẻ được tự do làm các bài tập theo khả năng, sở thích
của mình như trẻ tô, vẽ các chữ đã học, được ghi tên mình, vẽ các câu chuyện
theo trí tượng tượng và sáng tạo.
Ví dụ: Góc học tập phía trên khoảng trời rộng tôi dán tên góc “ Bé học chữ cái”
tôi trang trí theo chủ đề đang học.
Chủ đề: Thế Giới Thực Vật: Tôi cắt xốp màu, giấy màu để tạo thành cây
to sau đó cho trẻ vẽ, cắt dán hoặc sưu tầm tranh từ họa báo về các loại lá, hột hạt
rồi cho trẻ cắt các chữ cái l, m, n và cho tô màu để trang trí.
Hoặc cho trẻ viết chữ còn thiếu trong các từ, sau đó nối các từ dưới hình
ảnh có sẵn hoặc nối chữ cái theo yêu cầu có trong từ dưới hình ảnh có sẵn với
các chữ in đậm.
Những hình ảnh đó tôi thường thay đổi theo từng chủ đề, không những
góc “Bé học chữ cái” mà xung quanh lớp tôi đều viết tiếng và từ như hộp đựng
hoa lá, rổ đựng bình. Hoặc dán xung quanh lớp các cụm từ như “ Bút chì thông
minh, bảng thời tiết, bé lên lớp, tên của trẻ, tất cả những cái đó phải vừa tầm
nhìn với trẻ, hay là những sản phẩm của trẻ đều viết tên trẻ ở phía dưới, làm như
8
thế trẻ được sử dụng ngay trên hoạt động làm quen với chữ cái, trẻ học đến
nhóm chữ cái gì tôi thường cho trẻ tìm xung quanh nhóm chữ cái đó, phía dưới
tôi đặt giá để đựng đồ dùng phục vụ môn chữ cái đồ dùng của cô và trẻ như bút
chì, bút màu, vở tập tô. Ngoái ra còn có đồ dùng phục vụ cho buổi chơi như mũ
đội có gắn chữ, hoa lá, hột hạt các nét chữ rời, các chấm tròn để trẻ ghép chữ.
Ngay đầu năm học tôi đã tuyên truyền và vận động phụ huynh và trẻ trong
lớp cùng tham gia làm thêm đồ dùng, đồ chơi, trang trí lớp nhằm giúp trẻ lĩnh
100% trẻ trong lớp tích cực tham gia hoạt động môi trường chữ viết.
Biện pháp 3: Tích hợp vào các hoạt động khác.
Hoạt động làm quen với chữ viết tương đối khô khan so với các hoạt động
khác vì thế để giúp trẻ hứng thú tham gia vào học một cách tích cực thì cô giáo
phải là người xác định chủ đề và lên kế hoạch tích hợp các hoạt động một cách
hợp lý để trẻ phát huy hứng thú, khuyến khích trẻ tích cực chủ động say mê vào
hoạt động học.
Ngoài việc dẫn dắt bằng ngôn ngữ thì sự khéo linh hoạt sáng tao, ứng xử sư
phạm của cô giáo trong một hoạt động phải nhanh nhẹn để mang lại sự chú ý
cao cho trẻ, cô giáo phải kết hợp nhuần nhuyễn các hoạt động khác vào hoạt
động làm quen với chữ viết sao cho phù hợp với chủ đề.
* Tích hợp vào hoạt động âm nhạc
Âm nhạc là món ăn tinh thần của con người. Đặc biệt là đối với trẻ nhỏ âm
nhạc là tâm hồn tươi vui rộn ràng và hứng khởi, nên tôi thường chọn những bài
hát phù hợp với từng chủ đề
Ví dụ: Chủ đề Trường Mầm Non
10
Hoạt động dạy trẻ làm quen nhóm chữ O, Ô, Ơ thì tôi tích hợp bài hát
“Vịt con học chữ” hay bài Chữ O vv...
Hoặc chủ đề: Thế Giới Động Vật
Hoạt động dạy trẻ làm quen nhóm chữ a,ă, â thì tôi tích hợp bài hát “ Tôm
cá cua thi tài”
* Tích hợp văn học:
Để tiết học lôgic và xuyên suốt cả bài học, khi vào tiết học làm quen chữ
cái tôi thường tích hợp bộ môn văn học. Đây cũng là bộ môn mà Bộ giáo dục
chọn làm chuyên đề mũi nhọn cùng lúc với chữ cái. Khi tích hợp một câu
chuyện hay một bài thơ có các nhân vật, sự vật, con vật có tên gọi trong đó có
chứa chữ cái mà cô sẽ cho trẻ làm quen.
hình vật thật có chứa các chữ cái mà cô sẽ cho trẻ làm quen.
Ví dụ: Khi dạy tiết làm quen chữ cái i, t, c, chủ điểm “thế giới động vật” cô cho
trẻ tìm hiểu chữ t qua từ “con tôm”, trẻ được quan sát con tôm và sẽ biết thêm
về đặc điểm bên ngoài của con tôm, từ đó làm tăng thêm sự hứng thú của trẻ vào
hoạt động học.
Hoặc trò chơi “thi gắn chữ cái”, nếu trẻ cầm một chữ cái nào đó lên mà
bên cạnh chữ cái là bông hoa, quả, con vật hoặc phương tiện giao thông phù hợp
với chủ điểm, với chữ cái trẻ gắn thì sẽ tăng thêm sự hiểu biết của trẻ, trẻ vừa
nhớ được chữ cái, vừa khắc sâu được hình ảnh về thế giới xung quanh.
Kết quả: Việc tích hợp các hoạt động khác vào bài dạy đã làm cho tiết
dạy không còn bị khô khan, cứng nhắc… nó không chỉ làm thay đổi không khí
của giờ học, tránh sự mệt mỏi, nhàm chán đối với trẻ mà còn giúp trẻ khắc sâu
kiến thức, yêu cầu của tiết học.
12
Biện pháp 4: Dạy trẻ làm quen chữ viết ở mọi lúc, mọi nơi.
Như chúng ta đã biết, ở lứa tuổi mẫu giáo “trẻ học bằng chơi, chơi mà
học”, ghi nhớ của trẻ không chủ định, trẻ chóng nhớ, mau quên. Do đó muốn
nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với chữ cái thì không chỉ dừng lại trên tiết
học mà phải thường xuyên, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi, các hoạt động trong ngày
của trẻ để cho trẻ làm quen với chữ cái một cách hợp lý.
* Cụ thể như:
+ Giờ đón trẻ:
Khi trẻ đến lớp cô có thể cho trẻ tìm hình ảnh của mình gắn đúng vào tên
của mình có trong bảng “Bé đến lớp, bé ở nhà”, hoặc cho trẻ gắn ký hiệu vào
bảng thời tiết.
Ví dụ: mưa thì trẻ phải tìm gắn chữ cái m, nắng thì phải tìm gắn chữ cái
n…Có thể cho trẻ luyện phát âm qua đọc thơ, đọc đồng dao như luyện phát âm
chữ cái g qua việc cho trẻ đọc bài đồng dao “gánh gánh gồng gồng”
Cô cho trẻ tô chữ in mờ, chữ in rỗng và tìm cắt chữ trong họa báo gián
thành sách làm bộ sưu tập.
Biện pháp 5: Làm quen chữ viết thông qua ngày hội, ngày lễ
Thông qua ngày hội, ngày lễ cũng cần cho trẻ làm quen với chữ viết trong
đó có hát, múa, đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch có chuẩn bị mũ các con vật, hoa
văn nghệ. Để giúp trẻ cũng cố kiến thức đã học, học dưới hình thức biểu diễn
văn nghệ. Cứ vài tháng tôi lại tổ chức hội thi “Những chữ cái kì diệu” hay
“Chữ cái thông minh”, có nhận xét và có quà cho các cháu đạt giải. Trong hội
thi có mời các bậc phụ huynh của trẻ tham gia. Tôi nhận thấy phụ huynh rất
phấn khởi về kết quả của con mình, nó có tác dụng rất lớn cho việc đưa trẻ tới
trường Mầm non. Từ những việc đó để phụ huynh có hướng bồi dưỡng, kèm cặp
cho trẻ. Trong cuộc thi trẻ rất hào hứng, mạnh dạn, tự tin tham gia vào các hoạt
động, thích được biểu diễn và say mê biểu diễn dọc thơ về các chữ cái như bài
thơ “Bé học chữ” và bé chỉ ra được các chữ cái có trong bài thơ bằng cách tìm
thẻ chữ cái hoặc viết chữ cái lên bảng.
Trong các ngày hội, ngày lễ tôi tham mưu với nhà trường nên dành nhiều
thời gian cho các cháu tham gia thi “Tô chữ cái”. Trong cuộc thi, trẻ sẽ phải
nhớ được tư thế ngồi, cách cầm bút cho đúng, cách tô chữ theo đúng quy trình,
tô trùng khít và không tô ra ngoài. Trong hội thi, trẻ có sự thi đua lần nhau như
vậy những trẻ còn yếu sẽ cố gắng hơn, nhừng trẻ khá sẽ càng phát huy năng lực
của mình…Và chất lượng chữ viết của trẻ từ đó cũng được nâng cao.
14
Biện pháp 6: Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy trẻ làm quen
với chữ cái.
Nâng cao năng lực nghiệp vụ cho giáo viên nhằm thu hút sự hứng thú của
trẻ và trẻ tích cực hoạt động. Trẻ được làm quen và nhận biết, phát âm những
chữ cái, kết hợp với những âm thanh sống động kích thích trẻ tham gia vào hoạt
động tốt nhất vì vậy khi tiếp cận với máy tính trẻ rất thích và hứng thú tham gia
của gia đình tham gia vào các hoạt động của trường mầm non. Để nâng cao chất
lượng chăm sóc giáo dục trẻ nói chung và hoạt động làm quen chữ viết nói
riêng, tôi luôn trao đổi với phụ huynh về nội dung, chương trình học của trẻ qua
góc tuyên truyền với phụ huynh.
Ban chấp hành của lớp xây dựng nội dung chương trình, phương pháp cho
trẻ làm quen với chữ viết, tổ chức họp phụ huynh để triển khai về nội dung
chương trình hoạt động cho trẻ làm quen với chữ viết cho phụ huynh để tiện
việc theo dõi con em mình. Giáo viên gặp gỡ trao đổi về tình hình học tập của
trẻ. Phát sản phẩm của trẻ cho phụ huynh nghiên cứu góp ý. Phụ huynh thu gom
nguyên vật liệu mang đến lớp nộp. Mua sách cho trẻ học, dạy trẻ học ở nhà. Tổ
chức họp phụ huynh một năm 3 lần...
Ví dụ: Khi dạy trẻ đến chủ đề: “Phương tiện giao thông” Tôi treo kế hoạch hoạt
động của chủ đề, đánh máy in các bài thơ, đồng dao. Và găm vào góc tuyên
truyền với phụ huynh để giúp phụ huynh biết được bé đang học ở chủ đề nào và
yêu cầu phụ huynh hướng dẫn cho trẻ gạch chân chữ cái đang học ở trong tuần.
Chẳng hạn khi làm quen chữ cái “m, h” tôi đánh và in bài thơ:
16
Đèn hiệu giao thông
Mắt đỏ báo “Dừng”
Mắt đỏ,vàng, xanh
Mắt xanh báo “Đi”
Đêm ngày đứng canh
Mắt vàng “chờ nhé”
Chưa đạt
Kh
Tỉ lệ
TB
Tỉ lệ
Yếu
Tỉ lệ
42
8
33
5
21
1
4
33
29 chữ cái in thường, viết 10
thường
Trẻ biết so sánh phân biệt và
2
phát âm đúng 29 chữ cái in 8
thường và viết thường
3
Trẻ biết ghép các chữ cái rời
12
thành các từ
17
4
5
6
7
Trẻ biết gạch chân chữ cái 10
42
8
42
8
33
5
21
1
4
mờ theo đúng quy trình
Trẻ biết thao tác và quy trình 8
33
9
38
5
21
2
8
hội, trong quá trình hình thành nhân cách con người. Do vậy trong công tác giáo
dục mầm non phải được tiến hành một cách khoa học có mục đích, có hệ thống
nhằm tạo dựng những nền tảng ban đầu vững chắc cho quá trình phát triển sau
này của mỗi cá nhân trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước. Nhận thức được
điều đó, sau khi vận dụng sáng kiến kinh nghiệm vào thực tế giảng dạy, bản thân
tôi thấy mình cần phải không ngừng học hỏi, nghiên cứu tài liệu, vận dụng linh
hoạt hơn nữa các phương pháp, biện pháp, hình thức phù hợp để giúp trẻ tiếp
nhận chữ viết, nâng cao chất lượng cho trẻ 5-6 tuổi làm quen chữ cái một cách
tốt nhất và đạt kết quả cao nhất. Thực hiện nghiêm túc chương trình, nắm vững
mục đích, yêu cầu đặt ra để cung cấp kiến thức cho trẻ. Tích cực làm đồ dùng,
đồ chơi, biết áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy một cách phù hợp,
không lạm phát. Người giáo viên phải nắm vững kiến thức, kĩ năng cơ bản của
hoạt động làm quen chữ viết và đặc biệt phải năng động sáng tạo, biết đổi mới
phương pháp dạy học. Kết hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh để có sự giúp đỡ
và thống nhất nội dung dạy trẻ phù hợp
Bản thân không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, tham khảo tài liệu, tham quan học tập để đổi mới phương pháp dạy học.
Bản thân nâng cao trình độ chuyên môn. Đồng nghiệp học hỏi kinh
nghiệm trong giảng dạy. Nhà trường lưu lại làm tài liệu, vận dụng để học tập.
Qua sáng kiến, bản thân đã rút ra được bài học kinh nghiệm như sau: Nắm
vững chương trình phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. Chuẩn bị đồ dùng
đồ chơi, tạo môi trường hứng thú cho trẻ hoạt động và phối, kết hợp với phụ
huynh trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ.
2. Kiến nghị:
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi thấy rất khó khăn và thiếu thốn về đồ
dùng và phương tiện thực hiện như máy chiếu, máy tính. Vì vậy tôi đề nghị với
ban giám hiệu tiếp tục tham mưu với lãnh đạo cấp trên hỗ trợ kinh phí để mua
máy tính, màn chiếu để phục vụ cho việc dạy và học của cô và trẻ đạt hiệu quả
tốt hơn.
19
1. Lý do chọn đề tài................................................................................. Trang 1
2. Mục đích nghiên cứu........................................................................... Trang
2
3. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................... Trang
2
4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................... Trang
2
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.................................... Trang 2
1. Cơ sở lý luận của SSKN...................................................................... Trang 2
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN........................... Trang 4
3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề ............................. Trang 5
4. Hiệu quả............................................................................................. Trang 17
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ............................................................ Trang 18
1. Kết luận............................................................................................. Trang 18
2. Kiến nghị........................................................................................... Trang 19
22