MỤC LỤC
1. PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………...…1
1.1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………………1
1.2. Mục đích nghiên cứu..………………………………………………………1
1.3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………….2
1.4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………...………….2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM………………………………….2
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh ngiệm……………………………………..2
2.2. Thực trạng dạy kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm
non Nga thiện trong những năm vừa qua………………………………………..3
2.2.1. Thuận lợi…………………………………………………………………..4
2.2.2. Khó khăn………………………………………………………………….4
2.2.3. Kết quả khảo sát ban đầu………………………………………………….5
2.3. các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi ở
trường mầm non Nga Thiện……………………………………………………..5
Biện pháp 1: Lựa chọn những nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp để dạy
trẻ...........................................................................................................................5
Biện pháp 2: Tích hợp giáo dục kỹ năng sống trong các nội dung, các hoạt động
giáo dục trong chương trình giáo dục Mầm non………………………………...8
Biện pháp 3: Giúp trẻ phát triển các kỹ năng sống qua việc tổ chức các hoạt
động tập thể vui tươi, lành mạnh trong nhà trường………………….…………11
Biện pháp 4: Tích cực tạo điều kiện để trẻ được trải nghiệm trong thực tế tạo cơ
hội cho trẻ rèn luyện kỹ năng sống qua các tình huống………………………..13
Biện pháp 5: Sưu tầm các bài thơ, câu chuyện có nội dung giáo dục kỹ năng
sống ngoài chương trình để tạo môi trường giáo dục kỹ năng sống phong phú
cho trẻ…………………………………………………………………………..15
Biện Pháp 6: Phối hợp với gia đình, cộng đồng tạo môi trường giáo dục an toàn,
thân thiện……………………………………………………………………….17
2.4. Hiệu quả…………………………………………………………………...17
* Hiệu quả trên trẻ……………………………………………………………...18
* Hiệu quả của bản thân………………………………………………………..18
của con hơn, hay nói đúng hơn là chạy theo “Thành tích”. Một số khác lại cho
rằng con nhỏ thì không nên bắt con vào khuôn phép mà mất đi nét hồn nhiên vì
vậy luôn bao bọc, nựng con, tất cả mọi việc đều làm giúp con.
Đối với giáo viên mầm non: Giáo viên thường luôn quan tâm đến việc làm
sao để kích thích tính tích cực học tập của trẻ, làm sao để trẻ được tham gia và
trải nghiệm vào các hoạt động vui chơi hay học tập tích cực để từ đó trẻ lĩnh hội
được các kinh nghiệm sống giúp trẻ mạnh dạn, tự tin và sẵn sàng ứng phó với
các tình huống trong cuộc sống.
Đối với trẻ mầm non: Tình trạng trẻ còn thụ động, không biết ứng phó
trong các hoàn cảnh nguy cấp, không biết cách tự bảo vệ bản thân trước nguy
hiểm hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác. Có nhiều nguyên nhân khác nhau
nhưng trong đó việc thiếu kỹ năng sống là nguyên nhân sâu xa nhất.
Với vai trò là giáo viên lớp 5 – 6 tuổi, trong những năm học gần đây tôi
luôn lo lắng liệu học sinh của mình có đủ kỹ năng sống để ứng phó với những
tình huống trong thực tế, đặc biệt là khi trẻ bước vào lớp một hay không? Vì vậy
tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi tại trường mầm non Nga Thiện” làm đề tài nghiên cứu cho năm học này.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
- Đánh giá thực trạng dạy kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường
Mầm non Nga Thiện.
- Nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ mầm non.
2
- Giúp trẻ chuyển tải những gì mình biết (Nhận thức), những gì mình cảm
nhận (Thái độ), và những gì mình quan tâm( Giá trị) thành những khả năng thực
thụ giúp trẻ biết phải làm gì và làm như thế nào (Hành vi) trong những tình
huống khác nhau của cuộc sống hàng ngày. Từ đó phát triển toàn diện nhân cách
trẻ.
quyết định, nhận thức được hậu quả…; Học làm người gồm các kỹ năng cá nhân
như: Ứng phó với căng thẳng, giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác,
làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để cùng làm, gồm các kỹ năng
3
thực hiện công việc và các nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách
nhiệm.
Như vậy, kỹ năng sống là hành động tích cực, có liên quan đến kiến thức
và thái độ trực tiếp hướng vào hoạt động của cá nhân, hoặc tác động vào người
khác, hoặc hướng vào những hoạt động làm thay đổi môi trường xung quanh,
giúp mỗi cá nhân ứng phó có hiệu quả các yêu cầu, thách thức của cuộc sống.
Lứa tuổi mầm non là giai đoạn học - tiếp thu - lĩnh hội những giá trị sống
để phát triển nhân cách. Kỹ năng sống là những kỹ năng nền tảng để hình thành
và phát triển về các mặt thể chất, tình cảm - xã hội, ngôn ngữ, nhận thức, giúp
trẻ sẵn sàng đi học lớp một ở trường tiểu học sau này. Cụ thể là:
- Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ được an toàn, khỏe mạnh, khéo léo bền bỉ,
có khả năng thích ứng với thay đổi của điều kiện sống.
- Trẻ biết kiểm soát cảm xúc, thể hiện tình yêu thương, đồng cảm với mọi
người xung quanh.
- Có kỹ năng sống giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, tự trọng và tôn trọng người
khác, có khả năng giao tiếp tốt, trẻ biết lắng nghe, nói năng lịch sự, hòa nhã, cởi
mở, ham hiểu biết, sáng tạo, có những kỹ năng thích ứng với hoạt động học tập
ở lớp một như: Sẵn sàng hòa nhập, nỗ lực vượt qua, khó khăn để hoàn thành
nhiệm vụ, có trách nhiệm với bản thân, với công việc, với các mối quan hệ xã
hội…
Từ đó, chương trình giáo dục mầm non đã đưa ra các nội dung đơn giản và
hết sức gần gũi, thiết thực với trẻ như: Giao tiếp và ứng xử phù hợp với những
người gần gũi xung quanh, kỹ năng nhận và hoàn thành nhiệm vụ, kỹ năng học
học, tích cực nghiên cứu tài liệu về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non từ
đó có biện pháp giáo dục phù hợp.
* Đối với nhà trường:
Trường, lớp có đủ đồ dùng đồ chơi, trang thiết bị cần thiết trong các hoạt
động chăm sóc và giáo dục trẻ. Không gian hoạt động sạch sẽ, an toàn, hệ thống
cống rãnh hợp vệ sinh.
* Đối với phụ huynh:
Sự “bùng nổ” nhu cầu học kỹ năng sống của trẻ em là một trong những dấu
hiệu đáng mừng của xã hội. Điều đó thể hiện sự quan tâm của các bậc phụ
huynh đối với việc giáo dục con em mình.
Phụ huynh luôn sát cánh cùng nhà trường cho nên công tác phối kết hợp
giữ gia đình trẻ và cô giáo đạt hiệu quả cao.
2.2.2. Khó khăn.
* Đối với trẻ:
Trẻ lớp tôi đa số là con em nông thôn nên sự hiểu biết về kỹ năng sống còn
nhiều hạn chế. Một số trẻ ngoan ngoãn và nhanh trí thì có nhiều kỹ năng cơ bản
tốt, với sự hướng dẫn, động viên của cô giáo trẻ luôn biết phát huy những kỹ
năng tốt đó. Ngược lại, một số trẻ nhận thức còn chậm hay nghịch ngợm thì kết
quả dạy kỹ năng sống của cô trên trẻ đó đạt kết quả thấp. Bên cạnh đó có một số
trẻ được bố mẹ và người thân cưng chiều khiến vốn kỹ năng sống của trẻ chưa
có.
* Đối với giáo viên:
Là một giáo viên trẻ mới vào nghề, chưa có nhiều kinh nghiệm.Thường chỉ
quan tâm đến việc truyền thụ kiến thức cho trẻ qua các giờ học ít chú trọng đến
việc rèn luyện kỹ năng sống.
Khối lượng công việc lớn, không có nhiều thời gian cho công tác phối hợp
với gia đình và xã hội trong việc giáo dục trẻ.
5
TB
%
CĐ
Y
%
1
- Nhóm kỹ năng nhận thức
bản thân
29
6
20,7 7 24,1 10 34,5
6 20,7
2
- Nhóm kỹ năng quản lí
cảm xúc
29
27,6
9
5 - Nhóm kỹ năng tương tác
29
5
17,3 5 17,3 7
24,1 12 41,3
31
Qua bảng khảo sát cho thấy kết quả chung trên trẻ còn thấp: Trẻ đạt (TốtKhá) chưa cao, tỷ lệ trẻ chưa đạt còn nhiều. Từ thực trạng trên để giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ tôi đã nghiên cứu tìm tòi sáng tạo và áp dụng các hình thức
giáo dục phù hợp giúp trẻ tiếp thu một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Từ đó giúp trẻ
phát triển một cách toàn diện hơn.
2.3. Các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6
tuổi ở trường mầm non Nga Thiện.
Biện pháp 1: Lựa chọn những nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp
để dạy trẻ.
Việc lựa chọn những kỹ năng sống phù hợp để dạy trẻ có vai trò hết sức
quan trọng, không những giúp trẻ tiếp xúc từ từ với các kiến thức văn hoá trong
suốt năm học mà còn giúp trẻ rèn luyện các kỹ năng qua thực tế và học tốt khi
có được cách tiếp cận một cách cân bằng, biết cách phát triển các kỹ năng nhận
thức, cảm xúc và xã hội. Vì vậy tôi đã tiến hành dạy trẻ các kỹ năng sau:
* Kỹ năng tự nhận thức bản thân:
- Kỹ năng này giúp trẻ nhận thức sự khác nhau giữa mình với các bạn khác,
nhận thức mỗi cá nhân có điểm riêng biệt cần được tôn trọng, phát triển những
suy nghĩ tích cực về bản thân mình. Trẻ nhận ra điểm yếu của mình cũng giúp
trẻ dự đoán được những khó khăn trong quá trình hoạt động từ đó tìm ra cách
khắc phục khó khăn đó.
Với vai trò là một người giáo viên, tôi luôn tôn trọng cá tính của từng cá
nhân trẻ trong lớp đồng thời dạy trẻ biết chấp nhận sự đa dạng của mình với các
bạn khác, từ đó có biện pháp giáo dục phù hợp để hạn chế điểm yếu, phát huy
điểm mạnh của từng trẻ.
Ví dụ: Tôi đã trò chuyện giúp trẻ tìm hiểu về bản thân thông qua 1 số câu
hỏi như: Con là ai? Con thích gì và không thích gì? Con thấy mình có những
tính tốt đẹp nào?
8
Hình ảnh trẻ trò chuyện cùng cô
* Kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội:
Tôi luôn tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào các mối quan hệ với trẻ khác từ
đó dạy trẻ học cách kiểm soát xung đột và điều chỉnh hành vi của mình, cách
giải quyết vấn đề.
Ví dụ: Có 2 trẻ đánh nhau, điều đầu tiên cần làm là hỏi hai trẻ lý do vì sao
lại như vậy để từng trẻ có cơ hội thể hiện suy nghĩ bằng lời nói về sự việc đó.
Sau đó giải thích cho trẻ hiểu bạn nào đúng, bạn nào chưa đúng. Giáo dục trẻ lần
sau chơi đoàn kết với bạn hơn.
* Kỹ năng học tập:
Mặc dù những kiến thức mà trẻ học ở trường mầm non chỉ là sơ đẳng
nhưng có vai trò rất quan trọng, là nền tảng vững chắc cho việc học văn hóa ở
trường phổ thông sau này. Với trẻ ở lớp tôi, trong mỗi hoạt động tôi đều xác
hành vi sai bằng cách dán hành vi đúng tương ứng với khuôn mặt cười, hành vi
sai tương ứng với khuôn mặt mếu.
Hình ảnh trẻ phân loại hành vi đúng - sai
Ví dụ: Với hoạt động khám phá khoa học “Một số hiện tượng tự nhiên”.
Tôi cho trẻ khám phá trải nghiệm các hình ảnh về mưa, các hiện tượng tự nhiên,
sấm, chớp, sét. Tôi tạo tình huống để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, để giúp trẻ
có kiến thức ứng phó với mưa, các hiện tượng tự nhiên đúng cách để bảo vệ sức
khỏe như: Khi trời mưa các con phải làm gì? (Mặc áo mưa, đội mũ); Khi có sấm
sét các con phải như thế nào? (Không đứng dưới gốc cây to).
Cứ như vậy thông qua các hoạt động có chủ định tôi khéo léo lồng các nội
dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Trẻ được lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ
nhàng, thoải mái, không gò ép, thụ động. Từ đó, nhóm kỹ năng học tập của trẻ
cũng được nâng lên rõ rệt.
10
* Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi
Đối với trẻ mầm non, vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ ở trường.
Thông qua hoạt động chơi, trẻ được đóng các vai khác nhau trong xã hội, trẻ
đóng vai và tái hiện lại những gì trẻ nhìn thấy trong cuộc sống. Tất cả những
kiến thức và kinh nghiệm cuộc sống mà trẻ có sẽ được trẻ thể hiện qua họat
động vui chơi. Chính vì vậy, tôi rất chú trọng đến việc tạo các tình huống khi trẻ
chơi để trẻ tìm cách giải quyết, cũng như quan sát những điều trẻ thể hiện được
những kiến thức mà trẻ đã có. Qua đó giúp trẻ phát triển các kỹ năng ý thức về
bản thân, quan hệ xã hội, giao tiếp, thực hiện công việc, ứng phó với những thay
đổi và có nhiều cơ hội được trải nghiệm.
Ví dụ: Ở trò chơi hoạt động góc, sau khi trẻ chơi xong, trẻ để đồ chơi bừa
bãi, tôi hỏi trẻ “Con đã cất đồ chơi chưa?”, “Con nhìn xem các bạn đang làm
gì?”, “Con cùng cất đồ chơi với các bạn nhé”. Dần dần tạo cho trẻ có kỹ năng
biết về thế giới xung quanh trẻ một cách sâu rộng hơn. Nhờ đó khi bước vào giờ
học trẻ đã được rèn luyện kỹ năng tự tin để tham gia trả lời câu hỏi một cách sôi
nổi và hứng thú hơn. Và như vậy giờ học trở thành cuộc trò chuyện giữa cô và
trẻ chứ không mang tính áp đặt, gò bó.
* Ở hoạt động ăn – ngủ
- Trong giờ ăn: Tôi thường tạo ra các tình huống để giáo dục trẻ các nghi
thức văn hóa trong ăn uống và giao tiếp như: Phải ăn hết xuất, khi ăn không nói
chuyện riêng, khi ho, hắt hơi phải lấy tay che miệng, ăn chậm, nhai kỹ, không ăn
miếng to, ăn vội vàng, phải giữ gìn vệ sinh chung trong ăn uống, không làm cơm
rơi vãi. Trước khi ăn phải mời cô, mời bạn và mọi người xung quanh. Khi ăn
xong phải cất bát, thìa, ghế đúng nơi quy định, uống nước súc miệng và lau
miệng sạch sẽ.
- Trong giờ ngủ: Tôi cho trẻ làm vệ sinh cá nhân sau đó trẻ tự lấy gối, đi
ngủ đúng giờ, không nói chuyện, khi ngủ dậy biết cất gối, đồ dùng cá nhân gọn
gàng.
Như vậy, sau khi áp dụng biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông
qua hoạt động và ở mọi lúc mọi nơi tôi thấy trẻ tự tin hơn trong giao tiếp, sống
gọn gàng ngăn nắp, vệ sinh sạch sẽ đúng nơi quy định, thực hiện giờ nào việc
ấy, biết nhường nhịn bạn, vui chơi đoàn kết. Từ đó kết quả đạt được của nhóm
kỹ năng nhận thức về bản thân, nhóm kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội, cũng
như nhóm kỹ năng hợp tác ở trẻ cũng được hình thành và phát triển.
Biện pháp 3: Giúp trẻ phát triển các kỹ năng sống qua việc tổ chức các
hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh trong nhà trường.
Nội dung phong trào“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”,
có nội dung: Nhà trường cần tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách
thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh. Tổ chức
12
các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực khác phù hợp
khỏe mạnh, nhanh nhẹn, hứng thú tham gia vào các hoạt động một cách tự tin
hơn, vui vẻ, sôi nổi, hòa đồng với bạn bè và cô giáo, luôn biết động viên nhau
gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách tốt nhất. Từ đó, làm giàu thêm kỹ
năng sống cho trẻ, trẻ mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, tham gia trò chơi một
cách thành thạo, tích cực tham gia các hoạt động do lớp, trường tổ chức và thành
tích đạt được của lớp luôn luôn dẫn đầu.
Biện pháp 4: Tích cực tạo điều kiện để trẻ được trải nghiệm trong thực
tế tạo cơ hội cho trẻ rèn luyện kỹ năng sống qua các tình huống.
Trước đây khi giáo dục kỹ năng sống và dạy trẻ nhận biết một số nguy cơ
không an toàn và cách phòng tránh thì tôi thường giáo dục trẻ với những lời dặn
dò nhắc nhở đơn giản nên kết quả không cao, trẻ không được thực hành trải
nghiệm. Vì vậy, trong năm học này, tôi nghiên cứu lựa chọn những tình huống
bất trắc thường xảy ra đưa ra những tình huống cụ thể để dạy trẻ có kỹ năng ứng
biến khi gặp tình huống khó khăn, biết cách suy nghĩ và giải quyết.
Từ những kiến thức về giáo dục kỹ năng sống đã được tôi cung cấp ở trên,
tôi luôn suy nghĩ tìm ra các tình huống tạo điều kiện để trẻ được thực hành trải
nghiệm trong thực tế như:
14
Ví dụ: Khi thực hiện chủ đề “Bản thân”. Trước đây thông qua câu chuyện
“Chú vịt xám” hoặc nội dung bài hát “Đàn Vịt con” tôi chỉ dùng lời giáo dục
trẻ:
+ “Khi đi chợ hoặc đến những nơi công cộng thì phải đi với bố mẹ, không
được chạy lung tung để khỏi bị lạc”.
Tôi chưa đưa ra tình huống dạy trẻ “Nếu chẳng may bị lạc trẻ sẽ phải xử lý
như thế nào?”.
Với cách giáo dục như vậy tôi thấy kết quả đạt trên trẻ chưa đạt hiệu quả.
Trẻ ghi nhớ một cách thụ động, và thường chóng quên. Và điều cốt yếu trẻ
tôi gợi mở: cũng có trường hợp kẻ xấu có thể gây hại cho bé hoặc lấy trộm đồ
15
của gia đình lại chính là người thu tiền điện, hoặc chính là người quen biết với
bố mẹ bé để giúp trẻ suy đoán tìm cách giải quyết. Sau đó tôi giúp trẻ rút ra
phương án tối ưu nhất trong trường hợp này:
+ “Tuyệt đối không mở cửa, kể cả đó có thể là người quen của bố mẹ,
người thu tiền điện, hẹn họ nhắn lại gì hoặc tối đến gặp bố mẹ”.
Trong thời gian gần đây, cháy nổ là hiểm hoạ luôn rình rập với tất cả mọi
nhà. Chính vì vậy, với trẻ mẫu giáo tuy trẻ còn nhỏ tuổi song tôi nghĩ rằng cũng
cần dạy cho trẻ một số kỹ năng ứng biến nếu chẳng may có điều đó xảy ra. Tôi
đã đưa tình huống:
+ “Nếu bé thấy có khói, hoặc cháy ở đâu đó bé sẽ phải làm thế nào?” Qua
tình huống này tôi dạy trẻ:
+ “Khi thấy có khói hoặc cháy ở đâu, trước hết bé phải chạy xa chỗ cháy.
Hãy hét to để báo với người nhà và những người xung quanh có thể nghe thấy.
Nếu không có người ở nhà thì chạy báo cho hàng xóm”.
Từ những tình huống cụ thể trong cuộc sống mà rất dễ xảy ra đối với trẻ,
bằng cách cho trẻ thảo luận, yêu cầu trẻ suy nghĩ, vận dụng vốn hiểu biết của
mình đã có để tìm cách giải quyết vấn đề. Thông qua đó cô giúp trẻ tìm ra
phương án tối ưu nhất, đó cũng chính là kinh nghiệm mà ta cần dạy trẻ. Thông
qua hoạt động đó cũng giúp trẻ có sự tư duy lôgic, có khả năng tư duy, so sánh,
phán đoán các vấn đề và đặc biệt hơn nữa là trẻ biết cách diễn đạt suy nghĩ của
mình, từ đó phát triển kỹ năng sống cho trẻ, đặc biệt nhóm kỹ năng nhận thức về
bản thân được phát triển mạnh.
Biện pháp 5: Sưu tầm các bài thơ, câu chuyện có nội dung giáo dục kỹ năng
sống ngoài chương trình để tạo môi trường giáo dục kỹ năng sống phong phú
cho trẻ.
các phụ huynh cũng hay bỏ qua. Nhưng bây giờ, các con đòi đội mũ bảo hiểm
khi đi học. Tôi thấy rằng, qua câu chuyện trẻ đã nhận thức được sự cần thiết của
việc đội mũ bảo hiểm khi đi xe. Biết được nếu không thực hiện tốt thì có thể xảy
ra rủi ro như thế nào. Từ đó tạo cho trẻ ý thức chấp hành luật giao thông từ bé.
Với chủ đề “Bản thân” tôi đưa tình huống và giáo dục cho trẻ qua câu
chuyện:
CHUYỆN: “Ổ KHOÁ”
Chuyện kể về bạn Kiên được mẹ đưa đến nhà người quen chơi. Khi vào
nhà vệ sinh để rửa tay bạn Kiên đã tò mò vặn chốt cửa. Cửa chốt Kiên không
sao mở được… Kiên sợ quá khóc oà lên… Cuối cùng bác Luyến phải thuê thợ
cắt kính vào cắt để có thể thò tay vào mở khoá cửa… Khi Kiên đã bình tĩnh, mẹ
ôn tồn giải thích và nhắc nhở. Lần sau, đi đâu con không được nghịch khoá như
thế nữa nhé, khoá mỗi nhà có cách sử dụng khác nhau.
- Với câu chuyện này tôi giáo dục trẻ: Khi vào nhà vệ sinh tự ý mở và chốt
khoá cửa. Bên cạnh đó tôi còn đưa ra những tình huống khác đối với trẻ như:
Không tự ý xả nước ở vòi vì dễ xảy ra bỏng khi sử dụng bình nóng lạnh.
17
- Ngoài những câu chuyện kể trên tôi còn sưu tầm các bài thơ: “Khách đến
nhà”, “Dạ vâng”, “Nhận quà”, “Chào hỏi”, “Biết lỗi”, “Lời cô bé nhớ”. Đây
là những bài thơ có nội dung giáo dục trẻ kỹ năng trong giao tiếp ứng xử với
mọi người đó là: Biết chào khi có khách đến nhà, lễ phép với người lớn, khi
nhận được quà biết nói cảm ơn và biết nói “xin lỗi” khi mắc lỗi. Hay bài thơ
“Nhặt lá rụng” có nội dung giáo dục trẻ kỹ năng sống sạch sẽ, gọn gàng.
Như vậy, thông qua việc sử dụng biện pháp này tôi thấy tất cả các nhóm kỹ
năng của trẻ được phát triển hơn, đặc biệt là nhóm kỹ năng giao tiếp và quan hệ
xã hội.
Biện pháp 6: Phối hợp với gia đình, cộng đồng tạo môi trường giáo dục
năng tôi khảo sát đều đã đạt được kết quả tốt. Trẻ tự tin, hòa đồng và xử lí các
tình huống một cách tự tin hơn, nhanh nhạy hơn.
18
2.4. Hiệu quả
- Từ khi áp dụng những sáng kiến, kinh nghiệm trên cùng với sự cố gắng
nỗ lực của bản thân, sự đồng thuận hợp tác của tập thể sư phạm, sự ủng hộ tích
cực của các bậc cha mẹ đã giúp tôi đạt được một số kết quả trong việc dạy trẻ
lớp mình các KNS cơ bản thể hiện ở các kết quả sau:
* Hiệu quả trên trẻ.
- Từ những nỗ lực của bản thân, cùng với sự giúp đỡ của đồng nghiệp cũng
như sự hợp tác của của các bậc phụ huynh đã giúp tôi đạt được một số kết quả
trong việc dạy trẻ các kỹ năng sống cơ bản, thể hiện ở kết quả sau:
T
T
Nội dung khảo sát
Số
trẻ
Kết quả trên trẻ
Đạt
T
%
K
- Nhóm kỹ năng quản lí
29
cảm xúc
16 55,2 7
24,1
6
20,7 0
0
3
- Nhóm kỹ năng giao tiếp
29
và quan hệ xã hội
16 55,2 8
27,6
5
17,2 0
0
3,5
Qua bảng khảo sát lần 2 cho thấy sau khi áp dụng các biện pháp giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ, kết quả chung trên trẻ tăng lên rõ rệt: Trẻ đạt (Tốt - Khá)
tăng cao, (Trung bình) giảm và chiếm tỷ lệ ít; Đặc biệt trẻ chưa đạt chiếm rất ít.
Điều này cho thấy kết quả rất khả quan trong công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ sau khi áp dụng đề tài nghiên cứu ở các tỷ lệ đạt khá cao.
* Hiệu quả của bản thân.
Bản thân chịu khó trò chuyện với trẻ, trả lời những câu hỏi của trẻ, giải
quyết hợp lý, công bằng với mọi tình huống xảy ra giữa các trẻ trong lớp. Trong
giảng dạy, chú ý đến hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm nhiều hơn.
Mạnh dạn, tự tin điều khiển các cuộc họp phụ huynh học sinh, biết tự
chuẩn bị, phối hợp chặt chẽ, trao đổi thường xuyên với cha mẹ trẻ.
* Hiệu quả của đồng nghiệp.
Thông qua các biện pháp thôi triển khai trên trẻ 5 – 6 tuổi lớp mình, tôi
cũng đã tham mưu với đồng nghiệp trong việc lựa chọn nội dung kỹ năng phù
hợp với từng lứa tuổi cũng như các biện pháp phù hợp để giáo viên có thể áp
dụng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tốt nhất, đem lại hiệu quả trên các nhóm lớp
là tương đối như nhau. Đồng thời thông qua sáng kiến này không những riêng
19
bản thân tôi mà còn giúp cho các giáo viên trong trường có thêm những kinh
nghiệm hay hơn nữa trong việc dạy trẻ kỹ năng sống trong trường mầm non.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đóng một vai trò vô cùng quan trọng,
không chỉ giúp trẻ phát triển tư duy, óc quan sát, ghi nhớ, chú ý có chủ định mà
còn giúp trẻ so sánh, phân tích, tổng hợp. Còn là những kinh nghiệm bổ ích đối
dung chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức, từ đó tổ chức các hoạt
động phù hợp, hứng thú, mang lại chất lượng cho việc giáo dục trẻ. Không
20
ngừng tìm tòi, học hỏi, sáng tạo để tổ chức các hoạt động giáo dục ngày càng
phong phú, sinh động, lôi cuốn trẻ hơn.
- Phải phối hợp chặt chẽ với phụ huynh trong công tác chăm sóc và giáo
dục trẻ.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ được rút ra trong quá trình tôi giảng
dạy nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ. Những kinh nghiệm trên của tôi không tránh
khỏi thiếu sót và hạn chế. Những vấn đề đó nếu được cấp trên, các đồng chí,
đồng nghiệp đóng góp ý kiến xây dựng, tôi sẽ khắc phục trong quá trình chăm
sóc và giáo dục trẻ nói chung và giáo dục kỹ năng sống nói riêng trong những
năm học tiếp theo đạt kết quả tốt hơn.
XÁC NHẬN CỦA
Nga Thiện, Ngày 10 tháng 04 năm 2016
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.
Người thực hiện
Trần Thị Hà
Yên Thị Lệ