Nâng cao hiệu quả giờ dạy có thí nghiệm môn vật lí lớp 6 trường THCS minh sơn bằng phương pháp tổ chức các hoạt động dạy học thí nghiệm - Pdf 41

Nâng cao hiệu quả giờ dạy có thí nghiệm môn Vật lí lớp 6 Trường THCS Minh Sơn
bằng phương pháp tổ chức các hoạt động dạy học thí nghiệm- Đoàn Bích Hạnh

MỤC LỤC
PHẦN

Mục lục

Danh mục chữ cái viết tắt

TRANG

1

2

1. Đặt vấn đề

3

2.Giải quyết vấn đề

5

2.1 Cơ sở lí luận

5

2.2 Thực trạng của vấn đề

6

Giới hạn đo

ĐCNN

Độ chia nhỏ nhất


1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Quá trình dạy và học tích cực đòi hỏi phải có sự biến đổi không
ngừng cả về tư duy lẫn hành động của người dạy và người học. Trong
quá trình đó không thể thiếu niềm đam mê khoa học. Đã là giáo viên bất
kể ai cũng đều mong muốn khơi dậy ở học sinh niềm đam mê đó, nhưng
làm thế nào? Đó là cả một thách thức, một quá trình sáng tạo không
ngừng, đòi hỏi chính bản thân người thầy trước hết phải có một niềm đam
mê lớn.
Cũng như hết thẩy các thầy giáo, cô giáo dạy bộ môn Vật lí THCS
trong những năm học qua, tôi luôn tìm tòi, từng bước thực hiện việc đổi
mới phương pháp giảng dạy, bởi tôi biết rằng phương pháp giảng dạy là
một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng nhằm truyền đạt kiến thức
tới học sinh đạt hiệu quả tốt nhất. Phương pháp giảng dạy phù hợp, khoa
học sẽ là con đường giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả,
phát huy trí lực của người học. Mỗi cấp học, mỗi bộ môn đều phải có một
phương pháp giảng dạy đặc trưng, phải không ngừng đổi mới hoàn thiện


và đây cũng chính là một trong những yếu tố, động lực nhằm không
ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh hiện nay.
Việc giảng dạy bộ môn Vật lí THCS có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh
một hệ thống kiến thức vật lí cơ bản ở trình độ phổ thông, bước đầu hình
thành cho học sinh những kĩ năng và thói quen làm việc khoa học; góp

rất quan trọng. Nếu hình thành cho các em phương pháp tiến hành thí
nghiệm tốt thì khi học lên các lớp cao hơn các em đã có sẵn phương pháp
học tập đặc trưng của bộ môn, các em sẽ không lúng túng trong việc tiến
hành các thí nghiệm, từ đó giúp các em nắm bắt được kiến thức, kĩ năng
thông qua thí nghiệm tốt hơn và nâng cao được chất lượng học tập bộ
môn.


Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của thí nghiệm Vật lí
lớp 6 trong việc đáp ứng mục tiêu của bộ môn, cũng như khắc phục một
số những khó khăn khi tiến hành các thí nghiệm Vật lí ở trường THCS tôi
đã chọn đề tài“Nâng cao hiệu quả giờ dạy có thí nghiệm môn Vật lí
lớp 6 Trường THCS Minh Sơn bằng phương pháp tổ chức các hoạt
động dạy học thí nghiệm” làm nội dung sáng kiến của mình.
Tôi thực hiện đề tài này nhằm mục đích giúp giáo viên : Hiểu mục
đích, cách khắc phục một số khó khăn và tổ chức tốt các hoạt động trong
một giờ học có thí nghiệm vật lí trong chương trình Vật lí lớp 6.
Nhiệm vụ của đề tài nêu và giải quyết một số vấn đề sau:
- Cơ sở lí luận.
- Thực trạng việc làm thí nghiệm của giáo viên và học sinh lớp 6ABC
trường THCS Minh Sơn
- Biện pháp thực hiện.
- Hiệu quả của sáng kiến.
Đề tài được tôi thực hiện với học sinh khối 6 trường THCS Minh
Sơn - Hữu Lũng Lạng Sơn. Thời gian thực hiện : Từ tháng 9 năm 2011
đến tháng 4 năm 2012. Với mong muốn đưa ra được phương pháp hướng
dẫn học sinh làm thí nghiệm có hiệu quả nhất tôi áp dụng phương pháp
nghiên cứu sau:
- Làm thử theo sáng kiến kinh nghiệm.
- Hướng dẫn học sinh áp dụng kinh nghiệm để làm thí nghiệm.

- Kỹ năng phân tích, xử lý các thông tin và các dữ liệu thu được từ các
quan sát thí nghiệm.
- Kỹ năng vận dụng các kiến thức để giải thích các hiện tượng vật lý đơn
giản để giải quyết một số vấn đề trong thực tế cuộc sống.
- Khả năng đề xuất các dự đoán hoặc giả thiết đơn giản về mối quan hệ
hay về bản chất của các hiện tượng vật lý.
- Khả năng đề xuất phương án thí nghiệm đơn giản để kiểm tra dự đoán
hoặc giả thiết đã đề ra.
- Kỹ năng diễn đạt rõ ràng, chính xác bằng ngôn ngữ vật lý.
Khối lượng nội dung của tiết học Vật lý được tính toán để có thời gian
dành cho các hoạt động tự lực của học sinh và đáp ứng những yêu cầu
sau:


- Tạo điều kiện để cho học sinh có thể quan sát trực tiếp các hiện tựơng
vật lý.
- Tạo điều kiện để cho học sinh thu thập và xử lý thông tin, nêu ra được
các vấn đề cần tìm hiểu.
- Tạo điều kiện để cho học sinh trao đổi nhóm, tìm phương án giải quyết
vấn đề, tiến hành thí nghiệm, thảo luận kết quả và rút ra những kết luận
cần thiết.
- Tạo điều kiện để cho học sinh hiểu được nội dung chính của bài học
trên lớp.
- Tạo điều kiện rèn luyện kĩ năng quan sát cẩn thận, tỉ mỉ, kĩ năng lắp ráp
dụng cụ thí nghiệm chính xác và tác phong làm việc khoa học.
2.2.2. Yêu cầu của việc làm các thí nghiệm vật lí
- Thí nghiệm phải đảm bảo thành công.
- Thí nghiệm phải ngắn gọn một cách hợp lí.
- Thí nghiệm phải đảm bảo cho cả lớp quan sát.
- Sử dụng các vật chỉ thị thích hợp.

hình được ý đồ thí nghiệm, mục đích thí nghiệm và chưa chú ý đến kết
quả thí nghiệm dẫn đến các em chưa tập trung khi làm thí nghiệm.
Có tình trạng như trên theo tôi xuất phát từ những nguyên nhân:
Học sinh mới từ cấp tiểu học lên không được tiếp xúc với các dụng cụ thí
nghiệm nên khả năng thực hành của học sinh còn chưa cao và còn rất
lúng túng khi sử dụng, lắp ráp, tiến hành các thí nghiệm. Đặc biệt là các
em chưa có được phương pháp, chưa biết cách để thực hiện một thí
nghiệm vật lí từ đó các em chưa có sự tập trung chú ý cần thiết khi làm thí
nghiệm.

Qua khảo sát thực tế trước khi bắt đầu thực hiện đề tài tôi thu được kết
quả như sau:
Tổng số
học sinh

Lớp

6 A BC

Chưa làm được

Làm được thí nghiệm

72

thí nghiệm

SL

%


%

SL

%

SL

%

SL

%

3

4,2

15

20,8

32

44,5

22

30,5

2.3.1.1. Thí nghiệm biểu diễn
Thí nghiệm biểu diễn là thí nghiệm do giáo viên trình bày ở trên lớp.
Căn cứ vào mục đích, có thể chia thí nghiệm biểu diễn thành 3 loại:
a) Thí nghiệm nêu vấn đề
- Thí nghiệm này nhằm nêu lên vấn đề cần nghiên cứu tạo ra tình huống có vấn đề
làm tăng hiệu quả của dạy học.
+ Ví dụ: Khi dạy bài “Sự nở vì nhiệt của chất khí” - Vật lí 6, trước khi vào bài mới
giáo viên tiến hành thí nghiệm thả quả bóng bàn bị bẹp (bẹp vừa phải và quả bóng
bàn không bị thủng) vào ca đựng nước nóng. Kết quả là quả bóng bàn phồng lên.
“Tại sao lại có hiện tượng đó? Để giải thích được, chúng ta đi vào nghiên cứu bài
mới.”
b) Thí nghiệm giải quyết vấn đề
Thí nghiệm thuộc bài này được thực hiện giải quyết vấn đề đặt ra sau phần nêu
vấn đề. Bao gồm hai loại thí nghiệm:


+ Thí nghiệm khảo sát
Là thí nghiệm tiến hành nghiên cứu vấn đề đặt ra thông qua đó giáo viên hướng
dẫn học sinh đi đến khái niệm cần thiết.
+ Thí nghiệm kiểm chứng
Là thí nghiệm dùng để kiểm tra lại những kết luận được suy ra từ lí thuyết.
c) Thí nghiệm củng cố:
Thí nghiệm thuộc loại này dùng để củng cố kiến thức đã nghiên cứu bao gồm cả
những thí nghiệm nói lên ứng dụng của kiến thức Vật lí trong đời sống và trong kỹ
thuật.
+ Ví dụ: Sau khi học xong bài “Đo thể tích vật rắn không thấm nước” - Vật lí 6,
học sinh đã biết cách sử dụng và biết cách dùng bình chia độ để đo thể tích. Ở câu
C5 và C6 giáo viên hướng dẫn học sinh về tự làm một bình chia độ và tìm hai vật
rắn để đo thể tích bằng bình chia độ làm được.
2.3.1.2. Thí nghiệm thực hành vật lí

cùng thời gian và cùng một kết quả. Đây là thí nghiệm được sử dụng nhiều nhất
hiện nay vì có nhiều ưu điểm. Đó là:
- Trong khi làm thí nghiệm các nhóm trao đổi giúp đỡ nhau và kết quả trung bình
đáng tin cậy hơn.
- Việc chỉ đạo của giáo viên tương đối đơn giản vì mọi việc uốn nắn hướng dẫn,
sai sót, tổng kết thí nghiệm đều được hướng dẫn đến tất cả học sinh.
Bên cạnh những ưu điểm, còn một số hạn chế:
- Do trình độ các nhóm không đồng đều nên có nhóm vội vàng trong khi thao tác
dẫn đến hạn chế kết quả.
- Đòi hỏi nhiều bộ thí nghiệm giống nhau gây khó khăn về thiết bị.
+ Thí nghiệm thực hành loại phối hợp: Trong hình thức tổ chức này học sinh
được chia thành nhiều nhóm khác nhau, mỗi nhóm chỉ làm thí nghiệm một phần
nội dung trong thời gian như nhau, sau đó phối hợp các kết quả của các nhóm lại
sẽ được kết quả cuối cùng của đề tài.
Ưu điểm của loại thí nghiệm này:
- Rèn luyện cho học sinh ý thức lao động tập thể.
- Kích thích tinh thần thi đua làm việc giữa các nhóm.
Một số hạn chế của loại thí nghiệm này: Mỗi nhóm không được rèn luyện đầy
đủ các kĩ năng làm toàn diện thí nghiệm. Vì vậy cần khắc phục bằng cách cho các
nhóm luân phiên nhau làm lại thí nghiệm.
+ Thí nghiệm thực hành cá thể:
Trong hình thức tổ chức này các nhóm học sinh làm thí nghiệm trong cùng
thời gian hoặc cùng đề tài nhưng dụng cụ và phương pháp khác nhau.
- Ưu điểm của loại thí nghiệm này: Giảm được khó khăn về bộ thí nghiệm.


- Một số hạn chế của loại thí nghiệm này: Việc hướng dẫn của giáo viên rất phức
tạp. Vì vậy hình thức này đòi hỏi tính tự lực cao nên chỉ thích hợp cho các lớp
trên.
2.3.2. Yêu cầu đối với từng loại thí nghiệm.

như mong đợi. Vì vậy việc chuẩn bị một thí nghiệm chu đáo, có tính toán
đến các yếu tố ảnh hưởng đến thí nghiệm là một vấn đề mà các giáo viên
dạy vật lý khi chuẩn bị bài dạy của mình không thể không lưu tâm. Cũng
từ thí nghiệm này có thể học sinh dự đoán rằng không phải chất khí trong
bóng bàn nóng lên, nở ra làm vỏ quả bóng bàn phồng trở lại, mà do vỏ


quả bóng bàn gặp nóng nở ra, vậy khi đó giáo viên xử lý tình huống này
như thế nào để thuyết phục với các em. Lúc đó giáo viên phải tiến hành
một thí nghiệm khác với một quả bóng bàn đã bị thủng (có thể dùi một lỗ
nhỏ) nhúng vào nước nóng. Khi đó nhựa quả bóng bàn vẫn nóng lên
nhưng bóng không phồng lên được.
b) Thí nghiệm phải ngắn gọn một cách hợp lí.
Nếu thí nghiệm kéo dài sẽ khó tập trung sự chú ý của học sinh và dễ cháy
giáo án. Muốn vậy giáo viên phải hạn chế tối đa thời gian lắp ráp thí nghiệm. Thí
nghiệm đảm bảo thành công ngay không phải làm lại. Nếu thí nghiệm kéo dài có
thể chia ra nhiều bước, mỗi bước coi như một thí nghiệm nhỏ.
c) Thí nghiệm phải đảm bảo cho cả lớp quan sát.
Để làm tốt điều này, giáo viên cần phải:
- Chuẩn bị dụng cụ thích hợp, có kích thước đủ lớn, có cấu tạo đơn giản thể hiện
rõ được bản chất của hiện tượng cần nghiên cứu. Dụng cụ phải có hình dáng, màu
sắc đẹp, hấp dẫn học sinh, có độ chính xác thích hợp.
- Sắp xếp dụng cụ một cách hợp lí. Điều này biểu hiện:
+ Chỉ bày những dụng cụ cần thiết cho thí nghiệm, không bày la liệt những dụng
cụ chưa dùng đến hoặc chưa dùng xong.
+ Bố trí sao cho cả lớp đều nhìn rõ. Muốn như vậy nên sắp xếp dụng cụ trên mặt
phẳng thẳng đứng. Nếu không được phải đem đến tận bàn cho học sinh xem. Giáo
viên cũng cần chú ý không che lấp thí nghiệm khi thao tác.
d) Sử dụng các vật chỉ thị thích hợp
Nhằm tập trung sự chú ý của học sinh về những điều cần quan sát. Thí nghiệm

gì, số lượng bao nhiêu, còn thiếu những gì để có kế hoạch giải quyết trong năm
bằng cách đề xuất, kiến nghị nhà trường mua thêm hoặc tự làm hoặc hướng dẫn
học sinh tự làm. Cũng cần nói đến ở đây là việc ứng dụng công nghệ thông tin
trình chiếu hình ảnh, video về thí nghiệm đối với những thí nghiệm không có dụng
cụ hoặc đã hỏng không dùng được, tuy nhiên đây là biện pháp cuối cùng. Mặt
khác cần huy động được sự trợ giúp của cán bộ thiết bị và học sinh trong quá trình
chuẩn bị dụng cụ.
b) Trình tự tổ chức một thí nghiệm thựe hành
Tôi thường tiến hành theo các bước sau:
+ Xác định mục đích thí nghiệm
Giáo viên cần đặt vấn đề vào bài, gợi ý để học sinh phát hiện được nội dung kiến
thức cần nghiên cứu, từ đó tiếp tục gợi ý để học sinh nêu rõ mục đích của thí
nghiệm là gì để học sinh hiểu được và tập trung vào mục đích đó.
+ Giới thiệu dụng cụ thí nghiệm và cách bố trí.
- Giáo viên giới thiệu dụng cụ thí nghiệm cách bố trí thí nghiệm.
- Nêu những lưu ý khi sử dụng dụng cụ và thao tác thí nghiệm.
- Cho học sinh dự đoán hiện tượng xảy ra (nếu yêu cầu).
+ Tiến hành thí nghiệm
- Nêu trình tự tiến hành thí nghiệm: truyền tải các bước tiến hành chi tiết ngắn
gọn.


- Giáo viên thao tác mẫu.
- Phát dụng cụ cho các nhóm: Nhóm trưởng nhận dụng cụ, phân công nhiệm vụ
cho các thành viên.
- Nhóm trưởng điều khiển nhóm tiến hành thí nghiệm. Các nhóm học sinh tiến
hành thí nghiệm. Giáo viên theo dõi chung và giúp đỡ nhóm gặp khó khăn, nếu
cần thì giáo viên yêu cầu cả lớp ngừng thí nghiệm để hướng dẫn, bổ sung. Cần
tránh trường hợp một số em chuyên làm thí nghiệm, một số em chuyên ghi chép.
+ Xử lí kết quả thí nghiệm



các em tỏ ra rất hứng thú, thích được tận tay chọn dụng cụ thí nghiệm và tích cực
hơn trong học tập.
2.3.4. Kiểm tra việc thực hành vận dụng của học sinh
Khi kiểm tra bài cũ hoặc trong bài kiểm tra 45 phút, đưa các câu hỏi dưới
dạng thực hành. Đối với những dạng câu hỏi này chỉ khi học sinh hiểu về thí
nghiệm, kết quả thí nghiệm các em sẽ trình bày được tuy nhiên đối với khối lớp 6
chỉ nên đưa những câu hỏi dưới dạng tái hiện để học sinh làm quen dần.
Ví dụ: Trong bài kiểm tra 45 phút của học kì I đưa ra câu hỏi về đo thể tích vật rắn
không thấm nước:
Cho một bình chia độ, một hòn đá cuội (không bỏ lọt bình chia độ), một cái bát,
một cái đĩa và nước. Hãy tìm cách xác định thể tích hòn đá cuội.
2.3.5. Cho học sinh tự đánh giá
Cho học sinh trong cùng một nhóm đánh giá lẫn nhau về ý thức, tác phong
tham gia thí nghiệm. Biện pháp này áp dụng đối với các bài thực hành, nhằm mục
đích làm cho học sinh tích cực, tự giác, chủ động hơn trong khi thực hành. Giáo
viên quan sát cả lớp nhưng cũng không thể bao quát từng học sinh còn ở mỗi
nhóm học sinh biết rõ bạn nào tích cực, bạn nào không tích cực cho nên đánh giá
sẽ chính xác hơn. Giáo viên chuẩn bị sẵn phiếu tự đánh giá của học sinh và quy
định rõ điểm tối đa cho phần tự đánh giá là 3 điểm, điểm cho báo cáo thực hành là
7 điểm. Giáo viên căn cứ vào kết quả đánh giá của mỗi nhóm học sinh kết hợp với
quan sát của mình để quyết định cho điểm phần ý thức thái độ tham gia thực hành
của mỗi học sinh. Phiếu tự đánh giá này thu cùng báo cáo thực hành.
Mẫu phiếu tự đánh giá của học sinh:
PHIẾU QUAN SÁT, ĐÁNH GIÁ THỰC HÀNH- TIẾT ... VẬT LÍ ....
Nhóm: …..Lớp.......

STT


2.3.6. Ứng dụng công nghệ thông tin
Đây là biện pháp được áp dụng trong các bài thực hành đồng loạt, hoặc
trong các bài dạy mà thí nghiệm không có dụng cụ hoặc dụng cụ hỏng không có
độ chính xác (Ví dụ như bài: Một số ứng dụng của sự nở vì nhiệt). Giáo viên thực
hiện thí nghiệm ảo hoặc cho học sinh xem video clip giới thiệu về thí nghiệm.
Biện pháp này giúp giáo viên đạt được mục tiêu kiến thức đề ra, giúp học sinh
quan sát được hiện tượng và rút ra được kết luận cần thiết.
2.3.7. Ví dụ một số thí nghiệm cụ thể trong chương trình Vật lí 6.
*)Ví dụ 1: Bài 4 “Đo thể tích vật rắn không thấm nước”
Thí nghiệm đo thể tích vật rắn không thấm nước.
a) Khó khăn khi học sinh thực hiện
Nhiều học sinh đổ nước vào bình tràn khi nước mấp mé miệng tràn
nhưng chưa tràn nước ra ngoài do còn màng căng của nước với thành
bình. Nhúng vật vào để lấy nước tràn và coi phần nước tràn ra ngoài đó
bằng thể tích của vật.
Nguyên nhân: Khi nước mấp mé miệng tràn nhưng chưa tràn nước ra
ngoài do còn màng căng của nước với thành bình, nếu nhúng vật vào thì
nước phải dâng lên một chút mới tràn ra ngoài. Lấy phần nước tràn để xác
định thể tích của vật. Làm như vậy thì thể tích phần nước tràn ra bé hơn
thể tích của vật, dẫn đến sai số lớn trong phép đo.
b) Hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm theo trình tự sau để khắc phục sai
sót trên:
+ Mục đích thí nghiệm
Lấy lượng nước tràn ra bằng bình tràn có thể tích bằng thể tích vật rắn
không thấm nước.
+ Dụng cụ
- Bình chia độ, bình tràn, dây buộc, 1 bình chứa, ca đựng nước, hòn đá
(không bỏ lọt bình chia độ). Kẻ bảng 4.1 vào vở.
+ Tiến hành thí nghiệm (giáo viên phát phiếu học tập cho các nhóm)
Bước 1: Ước lượng thể tích của vật (cm3), ghi kết quả vào bảng.

* Kĩ năng
- Sử dụng được một số dụng cụ đo.
- Rèn luyện kĩ năng hoạt động nhóm để tiến thành thí nghiệm.
+ Chuẩn bị
* Dụng cụ:
- Cân đồng hồ GHĐ 5kg, ĐCNN 20g; bình chia độ ĐCNN 0,1 ml;
- Sỏi: Yêu cầu học sinh chuẩn bị rửa sạch, lau khô (học sinh chuẩn bị sỏi,
giáo viên kiểm tra từ hôm trước).


* Phiếu tự đánh giá của học sinh (theo mẫu ở trên) và phiếu giao việc
cho từng nhóm (Các bước tiến hành thí nghiệm).
+ Các bước tiến hành (yêu cầu học sinh nghiên cứu sách giáo khoa để
trả lời).
Giáo viên thao tác mẫu và hướng dẫn học sinh theo các bước:
Bước 1: Chia sỏi làm 3 phần: 5 viên ghi số 1, 5 viên ghi số 2, 5 viên ghi số
3.
Bước 2: Đo khối lượng:
+ 5 viên số 1, ghi kết quả vào báo cáo.
+ 5 viên số 2, ghi kết quả vào báo cáo.
+ 5 viên số 3, ghi kết quả vào báo cáo.
Bước 3: Đo thể tích:
+ 5 viên số 1, ghi kết quả vào báo cáo.
+ 5 viên số 2, ghi kết quả vào báo cáo.
+ 5 viên số 3, ghi kết quả vào báo cáo.
Bước 4: Tính khối lượng riêng của sỏi theo công thức:

(3 lần đo)

Bước 5: Hoàn thành báo cáo.

+ Dụng cụ
Lực kế, khối trụ kim loại, giá đỡ, ròng rọc và dây kéo.
+ Tiến hành thí nghiệm
Bước 1: Đo lực kéo vật theo phương thẳng đứng:
- Bố trí thí nghiệm như hình 16.3.
- Đọc số chỉ của lực kế và ghi kết quả vào bảng 16.1.
Bước 2: Đo lực kéo vật qua ròng rọc cố định:
- Bố trí thí nghiệm như hình 16.4, kếo từ từ lực kế.
- Đọc và ghi số chỉ của lực kế vào bảng 16.1.
Bước 3: Đo lực kéo vật qua ròng rọc động:
- Bố trí thí nghiệm như hình 16.5.
- Đọc và ghi số chỉ của lực kế vào bảng 16.1.
(Các bước tiến hành thí nghiệm và bảng ghi kết quả của các nhóm giáo
viên chuẩn bị ra phiếu học tập và phát cho các nhóm)
+ Xử lí kết quả thí nghiệm
Từ bảng kết quả thí nghiệm yêu cầu học sinh so sánh:
- Chiều, cường độ của lực kéo vật lên trực tiếp và lực kéo vật qua ròng rọc
cố định. Rút ra kết luận về tác dụng của ròng rọc cố định.


- Chiều, cường độ của lực kéo vật lên trực tiếp và lực kéo vật qua ròng rọc
động. Rút ra kết luận về tác dụng của ròng rọc động.
*) Ví dụ 4 : Bài 21 “Một số ứng dụng của sự nở vì nhiệt”
*Thí nghiệm hình 21.1a, hình 21.1b
a) Nội dung thí nghiệm
Dùng lửa đèn cồn nung một thanh thép được gông chắc hai đầu trên
một giá. Một đầu của thanh thép được chốt bằng chốt gang, đầu còn lại
vặn chặt bằng đai ốc.
b) Mục tiêu thí nghiệm
Thông qua thí nghiệm học sinh biết được về sự dãn nở vì nhiệt của

chậu nước)
? Thí nghiệm được tiến hành theo các bước nào? Quan sát cái gì trong
thí nghiệm? (Bố trí nghiệm như hình 21.1a, lắp thanh thép vào giá đỡ, đưa
chốt ngang vào một đầu và vặn ốc vào đầu còn lại. Đốt nóng thanh thép,
quan sát hiện tượng xảy ra với chốt ngang)
- Hoạt động 2: Giáo viên giới thiệu dụng cụ, chú ý cho hs kiểm tra độ cứng
của chốt ngang rồi gv tiến hành thí nghiệm (đốt nóng khoảng 4’), học sinh
quan sát chốt ngang, ghi lại kết quả quan sát được
- Hoạt động 3: Giáo viên nêu câu hỏi :
? Các em quan sát được hiện tượng gì xảy ra với chốt ngang? (chốt
ngang bị gãy)
? Hiện tượng gì xảy ra với thanh thép khi nó nóng lên? Hiện tượng xảy ra
với chốt ngang chứng tỏ điều gì? (Thanh thép nở (dài) ra khi nóng lên. Khi
dãn nở vì nhiệt nếu bị ngăn cản thanh thép có thể gây ra lực rất lớn).
-Hoạt động 4: Gv giới thiệu thí nghiệm hình 21.1b, cho thanh thép nguội đi
bằng cách phủ lên nó bằng một khăn ướt, quan sát hiện tượng xảy ra với
chốt ngang.
+Trước khi tiến hành thí nghiệm, cho học sinh dự đoán hiện tượng xảy ra?
Nêu nguyên nhân ? (dự đoán: chốt ngang có thể cũng bị gãy)
+Gv tiến hành thí nghiệm kiểm tra, học sinh quan sát, từ đó rút ra nhận
xét: Khi co lại vì nhiệt, nếu bị ngăn cản thanh thép cũng có thể gây ra lực
rất lớn.
- Hoạt động 5: Yêu cầu học sinh rút ra kết luận chung về lực xuất hiện
trong sự co dãn vì nhiệt. Giáo viên chốt lại, nhấn mạnh: Sự co dãn vì
nhiệt, nếu bị ngăn cản có thể gây ra những lực rất lớn.
- Hoạt động 6: Giáo viên cho học sinh quan sát tranh phóng to hình 21.2
và 21.3, nêu câu hỏi:
C5. Em quan sát ảnh chụp chỗ tiếp nối hai đầu thanh ray xe lửa có gì đặc
biệt? Tại sao phải làm như vậy?
C6. Hai gối đỡ của đầu cầu thép có cấu tạo giống nhau không? Tại sao

nghiệm vật lí phải tuân theo quy trình cụ thể, đó là:
Cho học sinh thảo luận để hiểu rõ mục tiêu thí nghiệm và do đó tạo
ra hứng thú nhận thức ở hs-> Cho hs tìm hiểu đầy đủ các chức năng của
từng bộ phận trong dụng cụ thí nghiệm được sử dụng-> Cho hs thảo luận
về các bước tiến hành thí nghiệm, những yêu cầu cần quan sát hay đo
đạc trong mỗi bước thí nghiệm. Phải chuẩn bị bảng biểu hoặc biên bản
ghi chép các quan sát-> Xử lí các kết quả thu được từ thí nghiệm ...Từ đó
rút ra các kết luận về sự vật, hiện tượng hoặc quá trình vật lí như là những
kiến thức mới. Có làm được như vậy theo tôi mới đạt được mục đích đặt
ra.
* Ví dụ 5: Bài 23 “Thực hành đo nhiệt độ”


a) Một số khó khăn
Khi học sinh vẩy nhiệt kế nếu cầm không chặt rất dễ rơi, vỡ nhiệt kế
thuỷ ngân rất nguy hiểm. Trong quá trình theo dõi sự thay đổi nhiệt độ
theo thời gian trong quá trình đun nước có thể bị vỡ bình chia độ và vẽ
đường biểu diễn mất nhiều thời gian.
b) Khắc phục
- Giáo viên yêu cầu học sinh đứng lên chú ý để không va vào bàn ghế
hoặc rơi vỡ. Dùng lưới tản nhiệt để tránh vỡ bình chia độ khi đun.
- Cho học sinh tự chuẩn bị dụng cụ và bố trí thí nghiệm từ chiều hôm
trước. Học sinh chuẩn bị báo cáo có kẻ sẵn các ô vuông để vẽ đường biểu
diễn.
c) Hướng dẫn học sinh
+ Xác định mục đích thí nghiệm
* Kiến thức : Biết cách đo nhiệt độ bằng nhiệt kế y tế.
* Kĩ năng
- Biết sử dụng các nhiệt kế thông thường để đo nhiệt độ theo đúng quy
trình.

và yêu cầu học sinh rút kinh nghiệm.

* Ví dụ 6 : BÀI SOẠN Tiết 14 - Bài 12 .
Thực hành : xác định khối lượng riêng của sỏi.
I) MỤC TIÊU:
- Kiến thức : + Biết cách xác định khối lượng riêng của vật rắn.
+ Biết cách tiến hành 1 bài thực hành vật lý.
- Kĩ năng: + Rèn kĩ năng sử dụng dụng cụ thí nghiệm (dụng cụ đo khối
lượng, đo thể tích)
+ Kĩ năng sử dụng công thức vật lý tính toán.
- Thái độ : Rèn tính nghiêm túc, cẩn thận, chính xác cho hs. Tinh thần hợp
tác trong hoạt động nhóm.
II)
CHUẨN
- Mỗi nhóm:+ - Cân đồng hồ GHĐ 5kg, ĐCNN 20g; 1 cốc nước

BỊ:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status