Vấn đề chán học, bỏ học của học sinh dân tộc thiểu số tại trường THCS Tân Lĩnh- xã Tân Lĩnh- huyện Lục Yên – tỉnh Yên Bái - Pdf 41

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THỊTHU

HƯỚNGVẤN ĐỀCHÁN HỌC, BỎHỌC CỦA HỌC
SINHDÂN TỘC THIỂU SỐTẠI TRƯỜNG THCS TÂN
LĨNH –XÃ TÂN LĨNH –HUYỆN LỤC YÊN –TỈNH
YÊN BÁI

LUẬN VĂN
THẠCSĨCHUYÊNNGÀNHCÔNGTÁCXAHỘI
Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn ThịNhư Trang
Hà Nội -2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Dưới sựhướng dẫn
khoa học của TS. Nguyễn ThịNhư Trang. Các kết quảtrong Luận văn đều có nguồn
gốc rõ ràng, tin cậy.Hà Nội, tháng 12 năm2016Tác giảLuận vănHoàng ThịThu
Hướng
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập , nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình. Với
lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành
tới:T.S Nguyễn Thị Như Trang, một người rất tâm huyết với nghề CTXH, cô đã
hết lòng giúp đỡ, động viên tôi trong những lúc khó khăn và hướng dẫ tôi chu đáo,
tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận
văn.CácthầycôởkhoaxãhộihọctrườngĐHKHXH&NVvàcacthâycôđãgiảngdạycacm

2.1 Lý thuyết hệthống25
2.2 Lý thuyết nhu cầu26
3. Một sốchính sách vềgiáo dục của Đảng và Nhà nước đối với dân tộc thiểu
sốđang được triển khai tại tỉnh Yên Bái27
4. Khái quát tình hình, đặc điểm của cơ sởnghiên cứu31
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CHÁN HỌC, BỎ HỌC CỦA HỌC SINH
DÂN TỘC THIỂU SỐTẠI TRƯỜNG THCS TÂN LĨNH-XÃ TÂN LĨNH –
HUYỆN LỤC YÊN –TỈNH YÊN BÁI34
2.1 Mức độcam kết với học tập của học sinh34


2.2 Mức độvà lí do nghỉhọc không phép38
2.3 Nguy cơ bỏhọc sớmError! Bookmark not defined.
CHƯƠNG III. CÁC YẾU TỐTÁCĐỘNG ĐẾN TÌNH TRẠNG CHÁN HỌC,
BỎHỌC CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐTẠI TRƯỜNG THCS TÂN
LĨNH-XÃ TÂN LĨNH –HUYỆN LỤC YÊN –TỈNH YÊN BÁIError! Bookmark
not defined.
3.1 Các yếu tốkéo học sinh ra khỏi trường họcError! Bookmark not defined.
3.2 Các yếu tốđẩy học sinh ra khỏi trường họcError! Bookmark not defined.
3.3 Các yếu tốgiữhọc sinh ởlại trường họcError! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN –KHUYẾN NGHỊError! Bookmark not defined.
1. Kết luậnError! Bookmark not defined.
2.Một vài khuyến nghịvềgiải pháp và đềxuấtError! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAMKHẢO39
PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2. 1.1 : Lý do thích đi học34




DTTS: Dân tộc thiểusố
ĐBDTTS: Đồng bào dân tộc thiểu số
HSDTTS: Học sinh dân tộc thiểu số
HDI: Chỉsốphát triển con người
GVCN: Giáo viên chủnhiệm
GDP: Tổng thu nhập quốc nội
GD-ĐT: Giáo dục đào tạo
PHHS: Phụhuynh học sinh
PVS: Phỏng vấnsâu
NVCTXH: Nhân viên công tác xã hội
THCS: Trung học cơsở
WTO:Tổchứcthươngmạithếgiới


MỞĐẦU

1.Lý do chọn đềtàiTrẻem là tương lai của nước nhà, trẻcần được thụhưởng những
điều kiện tốt nhất đểphát triển hoàn thiện vềthểchất và trí tuệ. Một trong những
phương cách đểtrẻhoàn thiện nhân cách là thông qua con đường giáo dục. Giáo dục
cơ bản của nước ta phân chia thành 3 cấp học nhằm giúp trẻtiếp cận với tri
thức ởtừng mức độ, tầng bậc khác nhau phù hợp với khảnăng tiếp nhận, phân tích
thông tin, ứng với quá trình phát triển tâm sinh lý của trẻ. Mục tiêu của giáo dục
phổthông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện vềđạo đức, trí tuệ, thểchất, thẩm
mỹvà các kỹnăng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội
Chủnghĩa, xâydựngtư cáchvàtráchnhiệmcôngdân.Giáo dục con người là một trong
những nhiệm vụtrọng tâm của Đảng và nhà nước ta, đặc biệt là ưu đãi trong giáo
dục cho đồng bào dân tộc thiểu số(ĐBDTTS), các nhóm đặc biệt khó khăn. Đây
là điều có ý nghĩa động viên các nhóm người có hoàn cảnh đặc biệt có cơ hội tiếp
cận với nền giáo dục phổthông và góp phần bình đẳng xã hội giữa các nhóm người,

vănhóaxãhộianninhtrênđịabàntỉnhnhàtrongtrướcmắtvàlâudài. Để một nền kinh tế
phát triển bền vững thì nhân tố con người luôn đóng vai trò quyết định. Vì vậy,
không chỉ Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều coi giáo dục là quốc sách
hàng đầu. Cùng với xu hướng trên, Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện để nâng cao
dân trí, đào tạonhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và nâng cao trình độ
chuyên môn kỹ thuật cho người lao động, nhằm đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu công
nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước. Giáo dục đóng vai trò quan trọng là vậy, tuy
nhiên thời gian gần đây, dư luận đang “nóng” lên vì những thông tin học sinh bỏ
học. Tình trạng học sinh bỏ học hàng loạt đang gia tăng ở các địa phương. Đặc biệt
chiếm phần lớn ở học sinh dân tộc thiểu số cácvùng miền núi. Vấn đề này nếu
không được quan tâm đúng
mức sẽ đưa đến những hậuquả xấu cho bản thân học sinh bỏ học, gia đình của các
em và cũng ảnh hưởng không nhỏ đến xã hội.Có thể thấy rằng, việc khắc phục tình
trạng bỏ học của học sinh hiện nay nói chung và học sinh DTTS nói riếng là vấn đề
hết sức bức thiết và đòi hỏi sự quan tâm của nhiều thành phần. Xuất phát từ thực tế
đó, tôi đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu của mình cho luận văn cao học là đề tài: “
Vấn đề chán học, bỏ học của học sinh dân tộc thiểu số tại trường THCS Tân Lĩnh –
Xã Tân Lĩnh –Huyện Lục Yên –Tỉnh Yên Bái” nhằm góp phần tìm hiểu thực trạng
và đưa ra một vài giải pháp đề xuất làm giảm vấn đề chán học, bỏ học của
HSDTTS.2. Tổng quan vấn đềnghiên cứu2.1 Các nghiên cứu trên thếgiớiGiáo dục
được xác định là chiến lược lâu dài cho phát triển bền vững. Vào đầu thập niên 80
Liên hợp quốc đã đưa mục tiêu phấn đấu “phổcập hóa giáo dục tiểu học” cho mọi
người dân, tất cảmọi người đi học tiểu học phải được “miễn phí”. Ngoài ra, một
sốquốc gia còn xác định những lớp học đầu tiên phải được đưa vào chương trình
bắt buộc 4, 6 hoặc
9năm,tùytheođặctrưngcủamỗiquốcgia.Đặctrƣngvềpháttriểnkinhtếcũng quy định
nền giáo dục của quốc gia cũng được phát triển hoàn thiện, một sốnước đặt giáo
dục là nhiệm vụtrọng tâm trong từng thời kỳphát triển, đểtạo ra nguồn lực chất



sinh. Thậm chí rằng, Robert Balfanz and Nettie Legters (2004) còn chỉ ra rằng có
nhữngvùng,miềncótỷlệhọcsinhbỏhọccaothườnglànhữngtrườngyếu về năng lực, có
nhiều học sinh dân tộcthiểu số và kết quả học tập của trường thông thường kém ở
nhữngmôn như toán, văn...Hơn nữa các trường này thường là những trường được
đặt ở các vi trí mà cộng đồng xung quanh đó có tỷ lệ cao về thất nghiệp, tội phạm
và có trình độ học vấn không cao.B. Alfred Liu (1976) đề cập đến các nội dung rất
thú vị về sự biếnđổixãhội,sựgiatăngdânsốvớivấnđềpháttriểngiáodục.Theonghiên


cứu này thì sự biến đổi xã hội có được là do sự tác động của các yếu tố hệ
tưtưởng,côngnghệvànhânkhẩu. Biến đổi xã hội sẽ dẫn đến những biến đổi trong
các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có sự biến đổi của hệ thống giáo dục. Sự
biến đổi này chính là để thích nghi với những nhu cầu đặt ra trong quá trình chuyển
hóa của xã hội. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, việc kiểm soát yếu tố
nhân khẩu có một vai trò quan trọng. Vì quy mô dân số là chỉ số chủ chốt trong
việc phát triển hệ thống giáo dục cả về lượng và chất. Không thể hình thành các
chương trình chuyên biệt nếu không có đủ số lượng học sinh, cũng không thể hình
thành các chương trình phát triển
nếu không tính đến yếu tố về quy mô dân số.Một nghiên cứu về mối quan hệ giữa
nhân khẩu học với với việc lập kế hoạch giáo dục của Stelios N. Georgiou cho
thấy, việc nâng cao tỷ lệ nhập học và chất lượng giáo dục là mục tiêu của kế hoạch
hóa phát triển giáo dục. Xây dựng và thực hiện các mục tiêu này trong phát triển
giáo dục cần phải tính đến các yếu tố nhân khẩu như cấu trúc tuổi và giới tính dân
cư.Nghiên cứu về tình trạng bỏ học của Ấn Độ trên cơ sở thốngkê khá
đầyđủtheotừngnămvàtheocácđặcđiểmkinhtếxãhộicơbảnnhưđôthị-nông thôn, giới
tính và đã áp dụng phân tích theo đoàn hệ để chỉ ra xu hướng và số bỏ học theo
từng nhóm tuổi và từng lớp học. Kết quả nghiên cứu cho thấy với quy định
giáodục bắt buộc và miễn phí cho tất cả trẻ em đến 14 tuổi theo hệ thống giáo dục
của Ấn Độ, đến giữa năm 1978, số học sinh từ lớp 1 –5 khoảng 69 triệu, tăng gấp 3
lần so với số học sinh năm 1950. Số học sinh từ lớp 6-8 khoảng 18 triệu gấp gần 6

khỏe yếu do suy dinh dưỡng, trường ở xa nhà, không thích học và những yếu tố
nhà trường như cơ sở vật chất, chất lượng giáo viên. Những nguyên nhân này liên
quan đến những rào cản về kinh tế xã hội và có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với
nhau (Barton, 2006; Barsaga, 1995).Tóm lại, các yếu tố tác động đến học sinh bỏ
học được nghiên cứu khá nhiều trên thế giới. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vấn đề
bỏ học sớm của học sinh liên quan đến trình độ phát triển kinh tế xã hội của một
quốc gia,từnhữngchínhsáchvềkinh tế,dânsố,nhânkhẩuđềuảnhhưởngrõrệt đến vấn đề
này. Ngoài ra những nguyên nhân về bình đẳng giới, sự phân cấp giữa thành thị,
nông thôn, giữa nhóm người có thu nhập cao với nhóm có thu nhập thấp và nhóm
DTTS với nhóm người đa số cũng có ảnh hưởng đến việc xã hội hóa giáo dục. Từ
thực tế này chỉ ra rằng bất bình đẳng trong tiếp cận với giáo dục cho trẻ em vẫn
còn diễn ra ở khắp nơi trên thế giới, điều này cần thiêt có sự vào cuộc nghiên cứu
của nhiều ngành khácnhau.2.2 Nghiên cứu ởViệtNamPhát huy truyền thống hiếu
học của dân tộc, lấy con người là trung tâm trong quá trình phát triển, nhân tài
được xem là nguyên khí của quốc gia nên Đảng ta xác định “giáo dục đào tạo là
quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”.
“pháttriểngiáodụcđàotạonhằmnângcaodân trí, đào tạo nhân lực, bồidươngnhântài”.
Giáo dục phát triển đồng hành cùng đất nước qua từng thời kz khác nhau. Các
phong trào bình dân học vụ, diệt giặc dốt, xóa mù chữ ra đời để mọi người dântừ
già đến trẻ có thể tiếp cận với nền học vấn tối thiểu. Trường học được đầu tư ngày
càng nhiều, chi phí cho giáo dục không ngừng tăng qua các năm. Thời kz nào cũng
vậy, tuổi trẻ luôn được xem là trụ cột củanước nhà. Chính vì vậy muốn xây dựng
một xã hội khỏe mạnh phồn vinh đòi hỏi phải có những con người khỏe mạnh về
thể chất, tinh thần, vững chắc về tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm. Chính vì vậy đòi
hỏi hệ thống giáo dục phải có những bước tiến vững chắc, đi tắt, đón đầu nhằm gặt


hái được nhiều thành công trong hiện tại và cả tương lai. Bên cạnh những thành
tựu đã đạt được trong suốt thời gian qua thì nền giáo dục của nước ta còn tồn tại
nhiều hạn chế, như chương trình học quá tải, chất lượng không đảm bảo và không

ta đang trong quá trình phát triển và hội nhập. Trên cơ sởkhảo sát các đối tƣợng
nghiên cứu gồm trẻem, nhà trường, gia đình, cộng đồng, chính sách của Đảng và
Nhà nước vềgiáo dục, đào tạo và chăm sóc, bảovệtrẻem tại 3 tỉnh thuộc Tây Bắc là


Lai Châu, Điện Biên, Sơn La tác giảluận án đã phân tích được mối quan hệvà tác
động qua lại giữa các yếu tốxã hội đến vấn đềtrẻem bỏhọc. Việc phân tích trình
trạng bỏhọc củatrẻem tại vùng Tây Bắc được xem xét trong mối quan hệvới
hệthống giáo dục hiện nay của Việt Nam đểtừđó đưa ra một sốgiải pháp nhằm
giảm thiểu tỷlệtình trạng bỏhọc của trẻem vùng Tây Bắc hiện nay. Đây là đềtài
có { nghĩa khoa học và thực tiễn, không trùng lặp với các đềtài khoa học và luận
án tiến sĩ đã bảo vệtrước đó nó góp phần trong việc tham khảo đưa ra những giải
pháp đểgiải quyết tình trạng này ởđịa phương nghiên cứu. Trong phạm vi nghiên
cứu là khu vực Tây Bắc tác giảđã chỉra những yếu
tốnhưkinhtế,vănhóa,chínhsách...mangđặctrưngcủavùngdântộcthiểu sốmiền núi phía
Bắc nên có thểmang một vài điểm tương đồng cho
cácvùngkhácnhưTâyNguyên.Luận văn “Cacgiảiphapkhắc phục tình trạng
bỏhọccuangười đồng bào dân tộc thiểu sốởhuyện Kon Rẫy –Kon Tum”. Luận
văn chuyên ngành kinh tế

phát triển. Mã số60 31 05. Người thực hiện Lê ThịBích Ngân, người hướng dẫn
Đoàn Gia Dũng. Luận văn đềcập đến các nguyên nhân qua đó chú trọng đến những
giải pháp đểgiúp khắc phục tình trạng bỏhọc của người dân tộc thiểu sốtại huyện
Kon Rẫy –tỉnh Kon Tum. Người viết đưa ra những giải pháp cụthểcho từng đối
tượng có ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng bỏhọc của ngươi đồng bào dân tộc
thiểu số. Đối với giađình thì cần nhìn nhận đúngđắn vềlợi ích và giá trịmang lại
của giáo dục đối với tương lai con trẻ,không đưa con cái lên nương làm rẫy, thực
hiện kếhoạch hóa gia đình, áp dụng các phương thức sản xuất hiệu qua hơn đểcải
thiện kinh tế. Phải thay đổi thói quen đốt rừng làm nương rẫy. tích cực thực hiện
theo sựtư vấn giúp đỡcủa chính quyền địa phương trong việc nên trồng cây gì, nuôi

đống trên địa bàn xã chăm lo cho giáo dục về vật chất, tình thần và đặc biệt là huy
động học sinh ra lớp học. Khi tham mưa phải kiên trì , khéo lẻo và có tính thuyết
phục những vấn đề thật cụ thể như: (nhà trường làm cái gì, cái địa phương phải hổ
trợ là gì?). Hiệu trưởng mở một hội nghị về công tác duy trì sĩ số, chống lưa ban
,chống bỏ học vào đầu mỗi năm học và mờiđại diện các cấp Ủy Đảng, Ủy ban
nhândânxã ,các ban ngành, trưởng các thôn buôn, các chi hội khuyến học về tham
dự xây dựng biện pháp phối kết hợp thực hiện công tác duy trì sĩ số học sinh, vận
động học sinh đến trường kịp thời. Khi có học sinh nghỉ học nhà trường lập danh
sách báo cao ngay cho Đảng ủyvà ủyban nhân xã để chỉ đạo các cấp, thôn buôn
phối kết hợp với nhà trường để có biện pháp vận động học sinh đi học kịp thời .
Đề nghị với với Đảng ủy và ủyBan cùng các ban ngành tổ chứctrong xã xây dựng
thôn văn hóa, gia đình văn hóa đưa tiêu chí không có học sinh bỏ học và học sinh
trong độ tuổi không đến trường thì mới công nhận và chi bộ có con em trong thôn
bỏ học cũng không công nhận chi bộ vững mạnh. Nhà trường nên thành lợp ban
duy trì nề nếp và ban duy trì sĩ số học sinh hiệu trưởng làm trưởng ban, TPTĐội
làm phó ban, giáo viên chủ nhiệm lamg ủy viên để giúp cho nhà trường về việc vận
động khi có học sinh nghỉ học kịp thời cũng như phối kếthợp với thôn buôn, phụ
huynh học sinh được tốt hơn.Đối vớiGiáo viên:Giáo viên chủ nhiệm dựa trên kế


hoạch chủ nhiệm của nhà trường để lên kế hoạch chủ nhiệm lớp theo năm, tháng
và tuần.Trong 1 học kz giáo viên phải đến thăm phụ huynh học sinh ít nhất ½ lượt
họ sinh của lớp mình phụ trách .Giáo viên chủ nhiệm tham gia sinh hoạt 15 phút
đầu giờ và nâng cao chất lượng tiết sinh hoạt cuối tuần nên đánh giá nhận xét lớp
khoảng 10-15 phút thời gian còn lại tổ chức các hoạt động văn nghệ, thơ, ca...
( trách tình trạng biến tiết sinh hoạt cuối tuần thành những hình phạt , phê bình
kiểm điểm học sinh làm cho học sinh chán nản và tiêu cực )
Bài viết cũng đã chỉ ra một số biện pháp đưa ra ở trên còn mang tính hình thức chỉ
năm trên giấy tờ, chưa đưa ra áp dụng mộtcách có hiệu quả, sự phối kết hợp chưa
đồng và chưa có thống nhất cao ( giữa nhà trường và chính quyền địa phương và

cản. Bên cạnh đó tác giả đã chỉ ra các nguyên nhân từ xã hội, từ bản thân trẻ, các
nhân tố tác động khác.
Côngtácxãhộitronglĩnhvựchọcđườngđượcnhắcđếnnhiềutrong những năm gần đây
nhằm góp phần cùng giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong giáo dục. Thực tế ta
đã thấy, đầu tư cho giáo dục là sự phát triển bền vững. Những thành quả đầu tư
hôm nay là phồn vinh của xã hội ngày mai, là sự phát triển vững chắc khi mà tầng
lớp tương lai kếcận giỏi giang có thể gánh vác nhiệm vụ của thế hệ trước xây đắp.
Vậy nhưng giáo dục trong thời đại hiện nay của nước đối mặt với vô số thách thức.
Đã có một vài trường ở thành phố Hồ Chí Minh áp dụng CTXH trong học đường
nhưng một thời gian ngắn các dự án bị cắt hoặc không được tiếp tục... Gần đây, khi
báo chí dư luận xã hội nói nhiều về những tình trạng xảy ra trong môi trường học
đường mà ít nhiều là do trẻ bị “ô nhiễm” từ chính môi
trườngsốngcủatrẻnêndầndầnxãhộimớinhìnnhậnlạiquátrìnhgiáodục
củatừnggiađình,củacảhệthốnggiáodụccủacảnướctrongđónhiềuý kiến của những
người có uy tín cho rằng giáo dục của nước ta thiên về dạy chữ hơn là dạy người ,
trẻ em thiếu các kỹ năng sống cần thiết trong hội nhập chính vì vậy trẻ thiếu
khảnăng giao tiếp, kỹ năng ứng phó khi có khủng hoảng xảy ra hay khi đối đầu với
một vấn đề quá sức chịu đựngcủa trẻ, khiến trẻ bị hụt hẫng, căng thẳng và gây ra
những hành vi không mong muốn, kể cả vấn đề trẻ bỏ học giữa chừng cũng là biểu
hiện của hành vi thiếuhệ thống hành vi chuẩn mực để đương đầu với những khó
khăn trong quá trìnhhọc tập đến từ chủ quan hay kháchquan. Với những nghiên
cứu chỉ ra ở trêncó tác dụng rất lớn trong việc tham khảo trong việc xây dựng luận
văn. Các nghiên cứu đã là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để có thể xây dựng những
chính sách lớn hơn, thiết thực hơn cho vùng nghiên cứu. Tuy nhiên với luận văn “
Vấn đề chán học, bỏ học của học sinh dân tộc thiểu số tại trường THCS Tân lĩnh –
xã Tân Lĩnh-huyện Lục Yên-tỉnh Yên Bái ”. Tôiđã xây dựng đề cương nghiên cứu
về những yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của HSDTTS dưới góc nhìn của
ngành CTXH, những yếu tố này mang tính đặc trưng của địa phương. Qua đó ứng
dụng những lý thuyết của CTXH để đề xuất những nhưng giải pháp dựa trên
những yếu tố tác đến vấn đề chán học, bỏ học ở địa phương nhằm làm giảm hiện

đềnày?8. PhƣơngphápnghiêncứuPhương pháp nghiên cứu phân tích tài liệuLà
phương pháp thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu có sẵn
của các tác giả trong và ngoài nước. Phương pháp này được áp dụng phân tích các
tài liệu như: Các báo cáo của trường THCS Tân Lĩnh UBND xã, UBND, phòng
giáo dục, ban dân tộc huyện Lục yên, sở giáo dục đào tạo tỉnh Yên
Bái,...Phương pháp điều tra bảng hỏiPhương pháp điều tra bằng bảng hỏi là một
phương pháp phỏng vấn viết, được thực hiện cùng một lúc với nhiều ngườitheo
một bảng hỏi in sẵn. Người được hỏi trả lời { kiến của mình bằng cách đánh dấu
vào các ô tương ứng theo một quy ước nào đó.Tiến hành khảo sát 200 phiếu hỏi
với học sinh chia đều cho 4 khối (6,7,8,9). Về giới tính : trong 200 học sinh được
khảo sát có 95 nam chiếm 47,5% và 105 nữ chiếm 52,5 %.Về tỉ lệ giữa các lớp
được chia :KhốiTần sốTỷ lệ
%65025%74924,5%85427%94723,5%Tổng200100%Phương pháp phỏng vấn
sâu.Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu


và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức
của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy.
Tiến hành phỏng vấn sâu 10 học sinh, 5 phụ huynh, 5giáo viên và 1 người trong
Ban giám hiệu. Phương pháp xửlý và phân tích sốliệuCác câu trảlời từbảng hỏi
được xửlý bằng phần mềm SPSS. Thông tin định tính được chia làm hai cách: (i)
sửdụng trực tiếp những kỹthuật thực địa nếu có thểáp dụng, (ii) những lời trích
và những nghiên cứu trường hợp được sửdụng nhằm làm cho thông tin định
lượng rõ ràng hơn

Chính sách:Có thểhiểu là một tập hợp biện pháp được thểchếhóa, màmột
chủthểquyền lực, hoặc chủthểquản lý đưa ra, trong đó có sựưu đãi một hoặc một
sốnhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động
của họnhằm thực hiện một mục tiêu nào đó trong chiến lược phát triển của một
hệthống xãhội.Nhóm chính sách Giáo dụcđang đƣợc triển khai tại Yên Bái ( đính

Chải thuộc diện 62 huyện nghèo nhất cảnước, có 70 xã vùng cao và 58 xã thuộc
vùng đặc biệt khó khăn trên tổng số180 xã, phường, thịtrấn. Trong bối cảnh khó
khăn chung của tỉnh, ngành giáo dục và đạo tạo tỉnh Yên Bái luôn phải đối mặt với
không ít thách thức, như :địa hình núi cao hiểm trở, việc đến trường học của
những xã vùng sâu, vùng xa gặp nhiều trởngại, nhất là trong mùa mưa bão với
hiện tượng lũ quét, sạt lở, mưa đá...Cơ sởvật chất trường học yếu kém, trang thiết
bịphục vụcho việc dạy và học thiếu thốntâm l{, tập quán của đồng bào dân tộc
thiểu sốcòn nhiều lạc hậu. Đa sốhọc sinh là dân tộc thiểu sốvà con em đồng bào
ởnhững vùng quá khó khăn, không có động cơ tích cực học tập; cơ hội tìm kiếm
việc làm đểbảo đảm đời sống rất ít. Có những thời điểm, tại các huyện vùng cao
không thểhuy động học sinh đến lớp, như huyện Trạm Tấu năm học 2004 -2005,
chỉhuy động được 3 học sinh dân tộc H’Mông vào học trường Trung học
phổthông.Từthực tếđó, ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Yên Bái đã phối hợp với


các ngành, các địa phương, đoàn thể, đơn vịtrên địa bàn tỉnh chủđộng, tích cực tìm
kiếm và có những cách làm sáng tạo, phù hợp. Trước hết, ngành đã tham mưu,
đềxuất với Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh quantâm chỉđạo và
huy động các lực lượng xã hội cùng vào cuộc đểchung tay giải quyết những khó
khăn cho các cơ sởtrường học như làm nhà ởcho học sinh bán trú, quyên góp, ủng
hộlương thực, thực phẩm đểhọc sinh yên tâm ra lớp; tỉnh đã ban hành chính sách
riêng cho 2 huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải, hỗtrợhọc sinh bậc trung học
phổthông và bổtúc bậc trung học là người H’Mông 15kg gạo/tháng. Nhờthế,
sốlượng học sinh ra lớp tăng cao. Nghịquyết số10-NQ/TU của Ban chấp hành
Đảng bộtỉnh vềđẩy mạnh phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai
đoạn 2009 -2015; Nghịquyết số22/2009/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh
vềxây dựng trường phổthông dân tộc bán trú giai đoạn 2010 -2015; Nghịquyết
số42/2011/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh vềviệc phê duyệt Đềán Phát
triển giáo dục Mầm non tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011 -2015; Nghịquyết
số43/2011/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh vềviệc phê duyệt Đềán Xây

vềviệc ban hành Quy chếhoạt động của trường Phổthông dân tộc bán trú và Đềán
Xây dựng trường bán trú ban hành kèm theo Nghịquyết số22/2009/NQ-HĐND.
Các ngành chức năng đã dành ưu tiên đầu tư cơ sởvật chất, thiết bịcho các trường
phổthông dân tộc bán trú, bốtrí nguồn kinh phí hỗtrợhọc sinh bán trú theo Quyết
định số85/2010/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ. Các đoàn thểchính trị-xã hội
tích cực huy động lực lượng xã hội tình nguyện tham gia quyên góp tiền, hiện vật
đểhỗtrợđầu tư xây dựng nhà ở, trang bịđồdùng học tập, đồdùng sinh hoạt, tặng học
bổng cho học sinh các trường phổthông dân tộc bán trú, góp phần tham gia vận
động học sinh ra lớp. Các cơ quan truyền thông tích cực tuyên truyền vềmô hình
trường phổthông dân tộc bán trú đến nhân dân. Mô hình trường Phổthông dân tộc
bán trú (PTDTBT) đã làm thay đổi căn bản diện mạo giáo dục dân tộc thiểu sốtại
tỉnh Yên Bái.Toàn tỉnh đã có 38 trường PTDTBT trong đó có 9 trường bậc tiểu
học, 14 trườngbậc trung học cơ sở, 15 trường tiểu học và trung học cơ sở; sốlớp
ghép là 111, giảm 24 lớp so với thời điểm bắt đầu triển khai Nghịquyết.
( Nguồn -báo cáo sởgiáo Dục tỉnh Yên Bái năm 2013)
Mô hình trường PTDTBT giúp sốlượng học sinh bán trú tăng nhanh, việc duy trì sĩ
sốrất thuận lợi, khắc phục được tình trạng học sinh nghỉhọc, bỏhọc và là yếu
tốquan trọng hoàn thành công tác phổcập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở.
Tính đến tháng 3-2013 có 10.210 em học sinh được hưởng chếđộchính sách đối
với học sinh bán trú, tăng 5.214 học sinh, bằng 204% so với năm 2010, tăng 156%
so với sốlượng học sinh dựkiến năm 2013. Hiện nay, 69,5% học sinh trong các
trường phổthông ởYên Bái là diện học sinh bán trú.Bên cạnh những kết quảđạt
được, trong quá trình triển khai và thực hiện các nghịquyết, chương trình chính
sách của Nhà Nước, ngành giáo dục Yên Bái vẫn gặp nhiều khó khăn: cơ sởvật
chất chưa đáp ứng đủnhu cầu ăn, ở, sinh hoạt của học sinh, nhu cầu đi lại , công tác
bồi dưỡng tiếng dân tộc cho giáo viên chưa có điều kiện đểtổchức bài bản; sựphối
hợp giữa gia đình -nhà trường chưa được thường xuyên, công tác quản l{ học sinh
bán trú còn một sốbất cập,... đang là rào cản trong phát triển sựnghiệp giáo dục
-đào tạo của Yên Bái.4. Khái quát tình hình, đặc điểm của cơ sởnghiên cứuVịtrí
địa lí, điều kiện tựnhiênLục Yên là huyện miền núi củatỉnh Yên Bái, cách thành

viên dựbị. Trong năm qua công tác phát triển của Đảng của Chi bộlà nhiệm
vụđược cấp ủy nhà trường đặc biệt quan tâm. Năm 2014 Chi bộnhà trường đã được
công nhận Chi bộtrong sạch vững mạnh.Tổchức Đại hội thành công, các đồng chí
có uy tín được bầu giữi các chức vụtrong chi bộnhiệm kz2015-2017. Công đàn
trường đã phát huy tốt vai trò trách nhiệm của mình, phối hợp cùng nhà trường để
tổ chức nhiều hoạt động thiết thực góp phần hoàn thành kế hoạch nhiệm vụ đề ra.
Công đoàn trường được cấp trên nhiều năm công nhận Công đoàn cơ sở vững
mạnh xuất sắc. Năm học 2014-2015 có 01 nhà giáo được Công đoàn Giáo dục Việt
Nam tặng Bằng khen. Các đoàn thể khác của trường đã phát huy tốtvai trò trách
nhiệm của mình, phối hợp cùng nhà trường để tổ chức nhiều hoạt động thiết thực


góp phần hoàn thành kế hoạch nhiệm vụ đề ra.Nhà trường có 5 tổ chuyên môn, các
tổ chuyên môn hoạt động có hiệu quả, nhiều tổ thường xuyên được cấp trên công
nhận là tổ lao động tiên tiến như tổ Văn, tổ Hóa -Sinh -TD;Trong những năm qua,
nhà trường đã đào tạo được gần 10.000 học sinh;tỷ lệ học sinh giỏihàng năm đều
tăng lên về số lượng và chất lượng. Điều đáng ghi nhận là trong những năm gần
đây chất lượng văn hoá tăng rất nhanh. Nhà trường còn tổ chức các hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp được tổ chức thường xuyên như các chương trình ngoại
khoá, tổ chức các sân chơi, tổ chức văn nghệ, TDTT,....Đó là một chặng đường
đầy khó khăn và thử thách đối với thầy và trò của nhà trường.Cơ cấu tổchức
bộmáyTrong năm học vừa qua biên chếđội ngũ đủvềsốlượng (kểcảhợp đồng) đồng
bộcơ cấu bộmôn, chuẩn vềbằng cấp đó là những yếu tốthuận lợi đểnhà trường thực
hiện nhiệm vụnăm học. Năm học2014-2015
nhàtrườngtiếptụccócánbộgiáoviênđihoctrênchuân03 giáo viênTổng sốcán bộgiáo
viên, nhân viên: 32 người-Cán bộquản l{: 2 người-Nhân viên: 04 người (1biên chế,
3 hợp đồng dinh dưỡng )-Giáo viên : 26 người (22 biên chếtrong trường, 4 giáo
viên tăng cường)-Tỷlệgiáo viên đạt chuẩn: 26 người đạt tỷlệ: 100%.-Tỷlệgiáo viên
trên chuẩn: 9 người đạt tỷlệ: 30%-Giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp
trường: 14 người. Cấp Huyện 08 ngườiKết quảxếp loại chuyên môn nghiệp vụvà

tương đối thích (37%). Chỉcó phần nhỏhọc sinh không thích đi học. Chúng ta cùng
tìm hiểu l{ do các em thích đến trường qua bảng sốliệu sau:Bảng 2.1.1: Lý do thích
đi họcLý do thích đi họcTỷlệĐược gặp bạn bè89.3%53377.72.2Rất thíchTương đối
thíchKhông thích lắmKhông thích chút nào
Được vui chơi72.5%Được mọi người tôn trọng41.0%Ởtrường có thầy, cô em
qu{56.2%Ởtrường dễchịu hơn ởnhà7.3%Không phải làm việc nặng
nhọc7.9%Được mặc quần áo mới, sạch sẽ14.0%Được hiểu biết nhiều kiến thức
mới( sinh, hóa , l{, toán, tiếng anh,....)75.8%Được tham gia các hoạt động tập
thể70.8%Được hiểu biết nhiều thứcần thiết cho cuộc sống(kĩ năng sống như
chăm sóc sứa khỏe giới tính, nấu ăn,...)73.0%Có cơ hội tìm kiếm một công việc tốt
trongtương lai59.6%L{ dokhác5.1%Các em thích đi học với rất nhiều l{ do khác
nhau.Đến trường được gặp bạn bè (89,3%), được vui chơi (72,5 %) đây là cũng là
những điều dễhiểu và phù hợp với tâm l{ của các em. Các em cảm thấy thoải mái,
thấy được vui chơi khi đến trường, đâylà yếu tốt rất quan trọng đểkhích lệcác em
đến trường.Bên cạnh đó theo dõi bảng sốliệu chúng ta thấy tỷlệcao thứhai vềl{ do
các em đưa ra thích đến trường là vì được hiểu biết kiến thức mới ( toán, l{, sinh,.)
( chiếm 75,8%) , được hiểu biết nhiều thứcần thiết cho cuộc sống ( các kĩ năng
sống vềchăm sóc sức khỏe giới tính, kiến thức từmôn công nghệnhư nấu ăn, thêu
thùa,...) (73,0%). Đây là con sốkhác với suy nghĩ chủquan của cá nhân tôi trước
khi tiến hành nghiên cứu.Tỷlệcác em thích đến trường vìđược họckiến thức mới là
rất cao và điều này rất khác so với học sinh đô thị. Các nghiên cứu vềmức độcam
kết và hứng thú với học tập của học sinh đô thịlà chưa nhiều nhưng theo quan sát
trực tiếp chúng ta có thểthấymức độhứng thú với học hành của học sinh đô thịđang
ngày một suy giảm, bằng chứng là trong các giờhọc các em ít tham gia bài
giảng, các em thụđộngtrong lớp học,.( tỷlệphát biểu ít chiếm quá 50% nửa, rồi
đến tỷlệnhững học sinh chưa bao giờphát biểu khá cao (xấp xỉ37%), còn lại lượng
học sinh hăng hái phát biểu không đáng kể-nghiên cứu tại trường THPT Chuyên




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status