Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh dân tộc thiểu số các trường trung học phổ thông huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên - Pdf 24


Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM CHU QUANG TUẤN

QUẢN LÍ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
DÂN TỘC THIỂU SỐ CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. PHẠM VIẾT VƯỢNG
THÁI NGUYÊN – 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nước ta đang trong thời kì phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc
tế, bên cạnh nhiều thành tựu đã đạt được, cũng có những mặt trái đã tác động đến
giá trị đạo đức xã hội. Một bộ phận không nhỏ học sinh có biểu hiện lệch lạc về
lối sống như: ham chơi, lười học, coi thường kỷ luật nhà trường, tham gia vào
các tệ nạn xã hội, thậm chí vi phạm pháp luật. Tình trạng học sinh vi phạm đạo
đức xã hội là lời cảnh báo không chỉ đối với ngành giáo dục, mà còn đối với toàn
xã hội.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã nhận định: “Hiện
nay tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã
hội và phạm tội đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ”.
Đạo đức và giáo dục đạo đức là một phạm trù xã hội xuất hiện từ khi có xã
hội loài người. Lịch sử phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với giáo

Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề
nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Xuất phát từ thực trạng trên, trong những năm qua ngành giáo dục đã
quan tâm đến công tác giáo dục toàn diện cho các thế hệ học sinh (HS), trong đó
vấn đề GDĐĐ được coi là một nhiệm vụ quan trọng. Tuy nhiên nhà trường mới
chỉ chú trọng đến xây dựng nền nếp, kỷ cương, nội quy và những nội dung mang
nặng tính giáo huấn, sách vở, mà chưa thực sự chú ý đến giáo dục kĩ năng sống
(KNS), giá trị sống (GTS) cho học sinh. Do đó công tác GDĐĐ cho HS đặc biệt
là học sinh dân tộc thiểu số (DTTS) miền núi còn chưa đáp ứng được yêu cầu
của xã hội và sự phát triển chung của đất nước.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 3
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em
như: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, Sán chí Huyện vùng cao Võ Nhai của tỉnh,
có nền kinh tế còn chậm phát triển, trình độ dân trí chưa cao, các lĩnh vực văn
hóa xã hội còn gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên trong những năm gần đây quy mô
của các trường trung học phổ thông (THPT) ngày một phát triển và có nhiều biến
đổi, các trường THPT trong huyện tuy đã có nhiều cố gắng nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho HS, tuy nhiên công tác GDĐĐ cho HS đặc biệt là
học sinh DTTS vẫn còn nhiều bất cập, hiệu quả chưa cao.
Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh DTTS của các
trường THPT huyện Võ Nhai, cần có một công trình nghiên cứu nghiêm túc, có
hệ thống để tìm ra các biện pháp giúp hiệu trưởng các trường THPT quản lí tốt
công tác GDĐĐ cho HS đặc biệt là học sinh DTTS.
Là cán bộ quản lí của một trường THPT ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên, nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nêu trên chúng tôi chọn đề tài

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đất nước.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng quản lí GDĐĐ cho HS DTTS ở các trường
THPT trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên trong 3 năm học gần đây.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận.
Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu
có liên quan như: nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp quy của
Nhà nước, của ngành GD&ĐT về quản lý GDĐĐ cho học sinh trường THPT
trong giai đoạn hiện nay; nghiên cứu các giáo trình, sách báo, các công trình sản
phẩm có liên quan.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 5
7.2. Nhóm các phương pháp nghiện cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát các hoạt động GDĐĐ cho học sinh trong các
trường THPT ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Phương pháp điều tra thực trạng công tác GDĐĐ cho học sinh trong các
trường THPT ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Phương pháp chuyên gia xin ý kiến đề xuất các biện pháp quản lí GDĐĐ
cho học sinh DTTS.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GDĐĐ cho học sinh.
- Phương pháp khảo nghiệm khẳng định tính khả thi của các biện pháp
được đề xuất.
7.3. Nhóm các phương pháp bổ trợ.
- Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng phần mềm máy tính để xử lý số liệu, lập bảng biểu, sơ đồ.
8. Những đóng góp của đề tài

góp cho lý luận GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”. Ông đề xuất nhiều
biện pháp giáo dục và nhấn mạnh con người phải được giáo dục từ lúc trẻ thơ,
bởi trẻ em như cây non trong vườn để cây cỏ lớn lên nhất thiết phải được sự
quan tâm, chăm sóc …. Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các nhà giáo hãy mãi mãi
là một tấm gương trong cuộc sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo… Ông
coi những trẻ em yếu kém về học tập và hạnh kiểm như là những trái cây chín
muộn, nếu biết cách kiên trì giáo dục sẽ đem lại kết quả tốt đẹp. J.A. Komensky
đặc biệt quan tâm tới giáo dục đạo đức, coi việc gương mẫu của người lớn đối
với trẻ em là cách giáo dục có tác dụng lớn lao.
Đặc biệt từ sau cách mạng tháng Mười Nga, các nhà giáo dục Xô Viết đã
có công xây dựng cơ sở phương pháp luận giáo dục và đề xuất những phương
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 7
pháp giáo dục mới. A.S.Makarenko cho rằng giáo dục là một công việc không
được phép sai lầm và ông đưa ra một nguyên tắc giáo dục đầy ý nghĩa đó là phải
tôn trọng và yêu cầu cao đối với con người.
V.A. Xukhômlinxki (1918 – 1970) – nhà giáo dục lỗi lạc người Ucraina,
cũng rất quan tâm đến GDĐĐ cho học sinh, ông đã đóng góp nhiều cho lí luận
và tổng kết kinh nghiệm giáo dục thế hệ trẻ. Trong quá trình giáo dục ông quan
tâm đặc biệt tới sự hài hòa giữa sự phát triển tình cảm đạo đức, thẩm mỹ với sự
phát triển trí tuệ, thể chất, cũng như kỹ năng lao động nghề nghiệp và ý thức
công dân. Ông nhấn mạnh mối quan hệ giữa giáo dục và tự giáo dục, tự quản rèn
luyện và giáo dục của tập thể HS. Ông cho rằng cần phải phối hợp các lực lượng
giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ. Tác
phẩm "Giáo dục con người chân chính phải như thế nào" của ông có giá trị to lớn
trong công tác giáo dục thế hệ trẻ.
1.1.2.Các nghiên cứu trong nước.
Việt Nam là đất nước có truyền thống đạo đức với nhiều giá trị tốt đẹp, đã

trình GDĐĐ cho học sinh và đưa ra một số định hướng đổi mới nội dung,
phương pháp GDĐĐ cho học sinh phổ thông.
Phạm Khắc Chương với công trình nghiên cứu: „Một số vấn đề GDĐĐ ở
trường THPT - Rèn ý thức đạo đức công dân‟. Đặng Quốc Bảo với nghiên cứu:
“Một số ý kiến về nhân cách thế hệ trẻ, thanh niên, sinh viên và phương pháp
giáo dục”.
Những năm gần đây đã có một số luận văn thạc sĩ về quản lý giáo dục đạo
đức cho học sinh như:
- Đặng Văn Chiến: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
THPT ở cụm trường Gia Lâm – Long Biên – Hà Nội”.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 9
- Mai Văn Trường: ”Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh các trường THPT huyện Yên Khánh – tỉnh Ninh Bình”.
- Nguyễn Trọng Hoàng “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
các trường THPT huyện Di Linh – tỉnh Lâm Đồng”
Các đề tài về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh được tiến
hành nghiên cứu ở các địa phương khác nhau, tuy vậy chưa có đề tài nào nghiên
cứu về các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh các dân tộc thiểu số
ở cấp THPT, điều mà luận văn của chúng tôi muốn hướng tới.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2.1. Đạo đức
Theo quan điểm triết học đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh các
mối quan hệ của con người với con người mà trung tâm là cái thiện và cái ác.
Đạo đức có nguồn gốc từ cuộc sống, nó vừa phản ánh, vừa chịu sự chi phối của
tồn tại xã hội, đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.
Theo Phạm Minh Hạc: “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lí, những quy định
và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người. Nhưng trong điều kiện hiện

đức được thực hiện bởi lương tâm cá nhân, bởi truyền thống dân tộc và sức mạnh
của dư luận tập thể và xã hội.
Đạo đức được thể hiện ở ba mặt: nhận thức, thái độ và hành vi đạo đức,
trong đó hành vi đạo đức là sản phẩm cuối cùng. Đạo đức của mỗi cá nhân được
hình thành nhờ có giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội và sự rèn luyện, tu
dưỡng của mỗi cá nhân

Giáo dục đạo đức là những tác động có hệ thống của các nhà giáo dục
đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ kiến thức, thái độ và hành vi
đạo đức và hiện thực hóa nó trong cuộc sống hàng ngày.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 11
- Mục đích GDĐĐ cho HS là hình thành cho các em những nguyên tắc,
chuẩn mực ứng xử trong xã hội, nhờ đó mà các em lựa chọn các hành vi cho phù
hợp với các tình huống cụ thể. Giáo dục đạo đức nhằm giúp cho mỗi cá nhân
nhận biết các giá trị xã hội, biết hành động theo lẽ phải, biết sống vì mọi người,
vì sự tiến bộ và sự phồn vinh của đất nước. Sản phẩm của giáo dục đạo đức là ý
thức, thái độ hành vi đạo đức của con người được thể hiện trong cuộc sống gia
đình, học tập trong nhà trường và hoạt động ngoài xã hội. GDĐĐ có mối quan hệ
gắn bó chặt chẽ với giáo dục pháp luật.
- Chủ thể của quá trình GDĐĐ cho HS là các lực lượng giáo dục: gia đình,
nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò chủ đạo. Nói cách khác chủ
thể giáo dục chính là cha mẹ, thầy, cô giáo, anh chị phụ trách các đoàn thể xã
hội, các nhà quản lý nhà trường, xã hội
- Đối tượng của quá trình giáo dục là con em trong gia đình, là học sinh
trong nhà trường, là những thành viên của tập thể đây là lớp người tiếp nhận
những tác động giáo dục một cách tự giác để tự biến đổi mình.
- Nội dung giáo dục là những kiến thức về các chuẩn mực trong các quan

luật nghiêm, hoạt động có kế hoạch, có tổ chức và nề nếp tạo nên thói quen sống
có văn hóa, hình thành ý chí và nghị lực. Dư luận tập thể lành mạnh luôn trợ
giúp con người nhận thức những điều tốt đẹp, điều chỉnh hành vi sống có văn
hóa. Trong cuộc sống tập thể các cá nhân cùng nhau hoạt động, tinh thần đoàn
kết, nhân ái, tính hợp tác cộng đồng được hình thành. Trong sinh hoạt tập thể,
một mặt các cá nhân tác động lẫn nhau, mặt khác là sự tác động của các nhà sư
phạm tạo thành tác động tổng hợp có tác dụng giáo dục rất lớn. Tập thể vừa là
môi trường, vừa là phương tiện giáo dục con người, tổ chức tốt các hoạt động tập
thể là con đường phù hợp với tuổi trẻ.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 13
Thông qua tự tu dưỡng của mỗi cá nhân: Tự tu dưỡng là tự mình đưa
vào khuôn phép đạo đức, tự giáo dục được thực hiện khi cá nhân đã đạt tới một
trình độ phát triển nhất định, khi đã tích lũy được những kinh nghiệm sống,
những tri thức phong phú. Hướng dẫn HS tự giáo dục là yếu tố then chốt để
hình thành đạo đức một cách bền vững lâu dài.
Các con đường giáo dục đạo đức không phải là riêng rẽ, tách rời mà là
một hệ thống gắn bó với nhau, chúng bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để đạt được
mục tiêu giáo dục xã hội.
1.2.3. Học sinh dân tộc thiểu số
- Theo Luật Giáo dục thì: “học sinh là người đang theo học tại cơ sở giáo
dục của hệ thống giáo dục quốc dân”.
- Dân tộc thiểu số là cụm từ dùng để chỉ chung cho 53/54 dân tộc anh em
đang cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam có dân số ít hơn so với dân tộc
Kinh (đa số).
Như vậy: Học sinh dân tộc thiểu số (DTTS) là con em của các dân tộc ít
người đang theo học tại các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.
Các dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam thường định cư ở miền núi, có vị

chất lượng cuộc sống của nhiều DTTS vẫn còn ở mức rất thấp.
Cuộc sống gắn bó với thiên nhiên, với lao động thủ công là chủ yếu làm
nảy sinh tư duy cụ thể; tâm lý “ không có lúa ngô thì đói, không có cái chữ thì
đã chết ai đâu” vẫn tồn tại, ảnh hưởng xấu đến công tác giáo dục ở miền núi hiện
nay.
Một số phong tục tập quán lạc hậu đã trở thành yếu tố cản trở cho sự phát
triển kinh tế - văn hoá ở miền núi, như: tục tảo hôn, tục ma chay, cưới xin, các lễ
nghi cúng bái quanh năm trở thành nhu cầu tinh thần, một nét điển hình trong
nếp sống văn hoá khó thay đổi.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 15
Do vậy nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm tâm lý học sinh DTTS là một nhiệm
vụ quan trọng của công tác giáo dục ở miền núi. Học sinh DTTS có những đặc
trưng tâm lý sau đây:
+ Về nhận thức:
- Học sinh các dân tộc thiểu số còn gặp những khó khăn nhất định về ngôn
ngữ phổ thông, phát âm không chuẩn xác, chưa hiểu rõ các khái niệm khoa học,
diễn đạt chưa lưu loát.
- Khả năng nhận thức chậm, ngại suy nghĩ, dễ thừa nhận những điều người
khác nói, ít đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, ý nghĩa, diễn biến hoặc hệ quả của sự
việc, hiện tượng.
- Khả năng độc lập tư duy, óc phân tích còn kém, thường suy nghĩ một
chiều, thoả mãn với cái gì đã có sẵn, ít tìm tòi, ngại đổi mới. Thiếu mềm dẻo
trong tư duy, ít có khả năng thay đổi phương pháp suy nghĩ và hành động cho
phù hợp với hoàn cảnh mới, đôi khi tư duy còn máy móc rập khuôn.
- Năng lực phân tích tổng hợp, khái quát hoá ở học sinh dân tộc còn hạn
chế, thiếu tính toàn diện.
- Học sinh DTTS thường hay nhầm lẫn giữa thuộc tính bản chất và thuộc

- Học sinh dân tộc thiểu số sống ở miền núi, phụ thuộc nhiều vào thiên
nhiên, nên tính chất cộng đồng rất mạnh mẽ.
- Gia đình, dòng họ sống khép kín, đã tác động mạnh mẽ đến đời sống tâm
lý của học sinh, các em như ngại đi xa, sẵn sàng bỏ học vì những lý do, điều kiện
khách quan.
- Họ thường đầu hàng trước những khó khăn trong cuộc sống. Chưa xác
định rõ động cơ học tập, học đến đâu hay đến đó, dễ nản lòng… sự hiểu biết về
xã hội còn ít.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 17
- Lối sống tự do, phóng khoáng, không thích gò bó, có những thói quen
chưa tốt như lề mề, chậm chạp, thiếu ngăn nắp
- Học sinh DTTS hăng hái, nhiệt tình, thích được khen, muốn chiếm được
uy tín trước bạn bè, thầy, cô giáo.
- Thích được vui chơi tập thể, thích hoạt động ngoại khoá, giao lưu xã hội,
văn nghệ, thể thao là tiền đề nảy sinh nhu cầu hoạt động.
- Trong giao tiếp bạn bè các em vẫn thường xuyên sử dụng tiếng dân tộc.
Khi nói chuyện với người lớn tuổi, cũng như với bạn ít sử dụng chủ ngữ, hay nói
trống không, chưa biết cách thưa, gửi.
- Gặp người lạ các em ngại tiếp xúc, ngại trao đổi, nhưng hay tò mò quan
sát. Kỹ năng định hướng trong giao tiếp chưa được hình thành, thường bộc lộ
cảm xúc thẳng thắn, thiếu mềm mỏng,.
+ Về tình cảm:
- Học sinh các dân tộc có tinh thần đoàn kết, đặc biệt với những người
cùng một dân tộc hoặc với những người cùng là dân tộc thiểu số.
- Họ gắn bó với bản làng, yêu quê hương, gia đình, người thân, bạn bè.
Có lòng vị tha đối với cộng đồng, sẵn sàng đem lợi ích, năng lực cá nhân để
phục vụ cộng đồng.

dân tộc thiểu số bị chi bởi các yếu tố sau đây:
1.4.1. G
Gia đình là tế bào, là đơn vị nhỏ nhất của xã hội, là tập hợp của những
người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống. Gia đình hạt nhân
trong xã hội hiện đại bao gồm hai thế hệ cha mẹ và con cái. Gia đình truyền
thống còn có cả ông bà, chú bác, cô dì cùng chung sống với nhau.
Một gia đình hạnh phúc, cuộc sống kinh tế no đủ, mọi người thương yêu
quý mến nhau, cha mẹ gương mẫu, biết cách giáo dục, là nền tảng vững chắc để
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 19
con cái học tập tu dưỡng và phát triển đúng hướng. Gia đình có vai trò định
hướng, động viên, giám sát quá trình phát triển về nhận thức, ý thức tình cảm và
hành vi đạo đức của các em, có thể ngăn chặn, đẩy lùi những đua đòi, tệ nạn xã
hội.
Gia đình không hạnh phúc, người thân không quan tâm là một thiệt thòi
lớn đối với các em. Đây cũng là một trong những nguyên nhân rất cơ bản dẫn
đến tình trạng sút kém đạo đức của học sinh THPT hiện nay.
Hiện nay có một bộ phận cha mẹ bận quá nhiều việc hay mải lo làm giàu,
đã không có thời gian, buông lỏng thậm chí không quan tâm đến giáo dục đạo
đức, lối sống cho con cái, đây chính là nguyên nhân khiến các em mắc vào các tệ
nạn xã hội, đi vào ngõ cụt. “Không có gì tác động lên tâm hồn non trẻ bằng sự
làm gương. Giữa muôn vàn tấm gương, không có tấm gương nào gây ấn tượng
sâu sắc, bền chắc bằng tấm gương của bố mẹ và thầy giáo” (Nivicốp N.).
Trong gia đình, HS lứa tuổi THPT đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm
hơn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với con cái một số vấn đề quan trọng trong gia đình.
HS THPT cũng đã quan tâm đến gia đình, trong đó có nền nếp, lối sống, sinh
hoạt và điều kiện kinh tế của gia đình.
Đối với học sinh DTTS đời sống gia đình còn nhiều khó khăn hơn, cha mẹ

Ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập đã trở nên xác định
và thể hiện rõ ràng hơn, có hứng thú ổn định đối với một môn học hay lĩnh vực
nào đó. Điều này kích thích nguyện vọng chọn nghề tương lai.
Tuy nhiên, ở các trường THPT miền núi xa xôi nơi cư trú, còn có những
khó khăn trên nhiều phương diện so với các trường THPT ở đồng bằng và thành
phố, nên học sinh gặp nhiều khó khăn trong tu dưỡng phấn đấu vươn lên, các em
cần được quan tâm giáo dục nhiều hơn từ các thầy, cô giáo.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 21
1.4.3. Môi trƣờng
Ở lứa tuổi HS THPT các em có bước phát triển lớn về mặt xã hội, có xu
hướng đi tìm cái mới bên ngoài gia đình và nhà trường, để phát triển kỹ năng
mới, tự khẳng định mình.
Các em rất thích khám phá những điều mới lạ, thích có một “lối sống hiện
đại”, theo mốt, thỏa mãn cái tôi, trong khi đó những kỹ năng sống cơ bản lại
chưa được chuẩn bị đầy đủ.
Môi trường sống, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, những quan niệm đạo
đức, lối sống hiện đại có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, tình cảm và hành vi
đạo đức của học sinh THPT, kể cả mặt tích cực và tiêu cực. Nếu không có định
hướng giáo dục, biện pháp ngăn ngừa thì những cái xấu, mặt trái trong đời sống
xã hội thường có nguy cơ xâm nhập và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát
triển nhân cách của các em.
Tình bạn là cảm tình quan trọng nhất ở lứa tuổi THPT, thanh niên khát
khao có nhưng quan hệ bình đẳng trong cuộc sống. Giai đoạn này họ đã có nhu
cầu sống tự lập, mối quan hệ với cha mẹ trở nên phức tạp dần dần trở nên bình
đẳng hơn.
Ở lứa tuổi này, quan hệ với bạn bè được mở rộng và chiếm vị trí quan
trọng trong các hoạt động. Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi phát triển

công và ngược lại thất bại của các hoạt động có một phần rất lớn là do quản lý
yếu kém.
Khái niệm quản lý được tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau:
- Theo Từ điển tiếng Việt "Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động
theo những yêu cầu nhất định". ( 25 ;tr 34 )
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ 23
- Theo Taylor "Quản lý là tạo ra các mối quan hệ giữa người với người,
giữa người với máy móc, quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì
cần làm và cái đó làm thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. [8, tr.89]
- Theo A.Fayon - Nhà kinh tế người Pháp cho rằng: "Quản lý là đưa xí
nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn nhân lực (nhân, tài, vật lực)
của nó".
Một định nghĩa về quản lý giáo dục được các nhà khoa học và quản lý
thừa nhận: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý
đến các đối tượng quản lý, nhằm tạo ra môi trường thuận lợi, làm cho các hoạt
động đạt tới chất lượng và hiệu quả cao nhất.
Quản lý có 4 chức năng, đó là: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra
đánh giá:
- Chức năng kế hoạch:
Đây là chức năng xây dựng các định hướng và đề ra các quyết định thực
hiện trong thời gian cụ thể. Lập kế hoạch bao gồm việc xác định sứ mệnh, chức
năng, nhiệm vụ, dự báo tương lai của tổ chức trên cơ sở thu thập thông tin về
thực trạng của tổ chức, từ đó xác định các mục tiêu dựa trên việc tính toán các
nguồn lực, các giải pháp. Mục đích của việc lập kế hoạch là lựa chọn một đường
lối hành động hợp lý nhất mà mọi cá nhân, mọi bộ phận của tổ chức phải tuân
theo. Lập kế hoạch là chức năng nền tảng của quản lý.
- Chức năng tổ chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status