CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
- Tổng quan nghiên cứu vấn đề liên quan đến đề tài
luận văn
- Ở ngoài nước
Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ KNS được đưa ra
bởi những nhà tâm lí học thực hành, coi đó như một khả năng
xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân [39]. Năm
1979, Tiến sĩ người Mỹ, Gilbert Botvin - nhà khoa học hành vi
và giáo sư tâm thần học - đã nghiên cứu và đưa ra một chương
trình đào tạo KNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7
tới lớp 9. Thông qua các môđun tương tác, chương trình của ông
đã tạo cơ hội cho người học được tiếp cận với những kĩ năng xã
hội như: quyết đoán, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết
vấn đề để thể hiện sự từ chối sử dụng các chất gây nghiện.
Chương trình đào tạo KNS của Botvin đã được triển khai trong
nhiều trường học khác nhau, từ các trường công lập đến các
trung tâm tạm giam người chưa thành niên và đã thu được nhiều
kết quả ấn tượng. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa hút thuốc trong
thanh thiếu niên mà còn giúp tăng thêm giá trị trong mối quan
hệ giữa giáo viên và học sinh, tăng kết quả học tập và sự quan
tâm của nhà trường [46]. Với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế
như: UNICEF, UNESCO, UNFPA, WHO, chương trình
học tập hợp tác, làm việc nhóm, giao tiếp, lắng nghe và kết bạn;
(3) đối phó với tình cảm và cảm xúc; (4) Ra quyết định; (5) lớn
lên khoẻ mạnh; (6) giúp đỡ để trường học và gia đình trở thành
nơi an toàn hơn; (7) mỗi cá nhân là một người đặc biệt. Chương
trình này đã đạt được nhiều thành công lớn và càng được mở
rộng với sự nhấn mạnh thêm về HIV/AIDS [31]. Tại khu vực
Châu Á, được sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là
UNICEF, UNESCO, UNFPA, các nội dung về GDKNS đã được
nghiên cứu và triển khai rộng khắp ở cả Nam Á (Bangladesh,
Bhutan, ấn Độ, Nepal, Sri Lanka), Đông Á (Trung Quốc), Trung
Á (Mông Cổ), Đông Nam Á (Campuchia, Indonesia, Lào,
Myanmar, Philipin, Thái Lan, Đông Timor, Việt Nam) [33]; [37];
[38]. Tại khu vực Đông Nam Á, các nghiên cứu về giáo dục dựa
trên KNS xuất hiện ở các quốc gia chủ yếu vào 5 năm cuối của
thế kỉ XX [33]; [38]. Dựa trên các cách tiếp cận khác nhau qua
từng lĩnh vực cụ thể, các quốc gia đã từng bước triển khai để
đưa KNS vào giáo dục ở trong và ngoài nhà trường. KNS được
coi như một phương tiện hiệu quả trong việc phát triển kĩ năng
trong thanh thiếu niên để có thể lựa chọn lối sống lành mạnh và
tối ưu về mặt thể chất, xã hội và tâm lí. Ở Thái Lan, năm 1996,
GDKNS được nghiên cứu và triển khai cùng chương trình ngăn
chặn AIDS. Chương trình được thực hiện ở cả ba bậc học phổ
thông, chủ yếu thông qua các hoạt động ngoại khoá. Hiện nay,
Thái Lan đang trong giai đoạn duy trì và mở rộng phát triển
GDKNS trên nhiều lĩnh vực khác nhau và coi đó như là nội
dung bắt buộc phải đưa vào giảng dạy trong chương trình của
nhà trường ở tất cả các cấp học [33]; [38]. Ở Indonesia, năm
1997, GDKNS được đưa ra qua chương trình GDKNS cho cuộc
hợp tác giữa chính phủ Myanmar và tổ chức UNICEF nhằm đưa
KNS vào trong giáo dục để thúc đẩy lối sống lành mạnh và
ngăn ngừa lây nhiễm HIV. Nội dung của dự án tập trung vào các
vấn đề y tế và xã hội liên quan đến trẻ em, thanh thiếu niên và
đã có tác động rộng lớn trên cả quốc gia Myanmar [33]; [41;
[38].
Ở Campuchia, năm 2001, chương trình GDKNS được phát
triển bởi một nhóm liên ngành của Bộ Giáo dục, thanh niên và
thể thao (MoEYS). Chương trình này là một phần của kế hoạch
quốc gia “Giáo dục cho mọi người”, được thực hiện ở cả chính
khoá và ngoại khoá trong cả hai cấp học: tiểu học và trung học.
Một số dự án thí điểm đã được thực hiện bởi MoEYS cùng với
sự hỗ trợ của một số tổ chức phi chính phủ để phát triển các
KNS, cùng với nó là phát triển các tập sách về KNS (tập trung
vào nông nghiệp, chăn nuôi và vệ sinh) [33]; [38]. Đến nay, trên
thế giới đã có rất nhiều công trình, dự án nghiên cứu về KNS và
GDKNS. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng rất phong phú,
đa dạng cả trong lĩnh vực chính quy và không chính quy, trong
đó số lượng các công trình nghiên cứu về GDKNS cho trẻ em
và vị thành niên chiếm ưu thế hơn. Nhìn chung, trong các
nghiên cứu này, KNS và GDKNS đã được chỉ ra khá rõ về vai
trò, khái niệm, cách phân loại, các nguyên tắc, lí thuyết nền tảng
làm cơ sở cho việc tiếp cận GDKNS. Việc triển khai GDKNS
cũng được áp dụng mạnh mẽ vào trong giáo dục chính quy và
giáo dục không chính quy. Trong hệ thống giáo dục chính quy,
việc đưa các KNS lồng ghép, tích hợp vào các môn học được
giảng dạy ở nhà trường là biện pháp được nhiều quốc gia lựa
chọn và đã đạt được nhiều kết quả tốt.
Việt Nam; Khái quát được cách thức giáo dục kĩ năng sống ở
Việt Nam, những phương pháp cụ thể và hình thức đã được sử
dụng để tiến hành GDKNS; Đánh giá về GDKNS ở Việt Nam
và rút ra những bài học kinh nghiệm; Xác định những thách
thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh GDKNS ở Việt
Nam trên cơ sở thực tiễn Việt Nam và đối chiếu với mục tiêu 3
và mục tiêu 6 của Chương trình Hành động Dakar [21]. Năm
2005, có một số tài liệu, đề tài nghiên cứu được triển khai liên
quan đến GDKNS trong các trường trung học cơ sở và trung
học phổ thông như: Dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ “Giáo
dục dân số và sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua hoạt
động ngoại khoá trong nhà trường”; đề tài cấp Bộ “Giáo dục
một số KNS cho học sinh trung học phổ thông”, mã số B. 200575- 126 do trung tâm nghiên cứu Giáo dục học, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội triển khai nghiên cứu, nội dung các đề tài này
chủ yếu đề cập đến thực trạng, quan niệm GDKNS, những KNS
cần được giáo dục cho lứa tuổi học sinh trung học phổ thông ở
Việt Nam [3]; [21]. Đến năm 2007, các kết quả nghiên cứu của
đề tài đã được biên tập và in thành sách: “Giáo dục kĩ năng
sống” (2007), “Giáo trình chuyên đề GDKNS” (2009, 2010)
được sử dụng làm giáo trình, tài liệu tham khảo cho các trường
cao đẳng, đại học. Nhìn chung, các nghiên cứu này đã đưa ra
những vấn đề chung về KNS: quan niệm, đặc tính, cách phân
loại KNS và vai trò cấp thiết của việc GDKNS trong xã hội hiện
đại; đồng thời thiết kế một số chủ đề GDKNS cho học sinh
THPT. Qua đó, người học có cái nhìn tổng quan về KNS và
GDKNS, có những KNS cần thiết cho chính bản thân mình, đặc
học Giáo dục Việt Nam với văn phòng UNESCO Hà Nội,
2006)... [22];[24];[3].
Như vậy, nhiều quốc gia đã thực hiện GDKNS thông qua
nhiều hình thức trải nghiệm khác nhau song có thể khái quát
thành hai hình thức: trong dạy học các môn học và ngoài các
môn học. Các cơ sở lí luận về KNS đã được hình thành khá rõ
với các khái niệm, nội dung, các cách phân loại KNS; các con
đường thực hiện GDKNS; nguyên tắc, phương pháp GDKNS.
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về KNS hiện nay, đặc biệt
những nghiên cứu về quản lý giáo dục KNS thông qua hoạt
động trải nghiệm còn mới mẻ. Do đó, nghiên cứu về lí luận và
thực tiễn quản lý GDKNS thông qua trải nghiệm thực sự là
khoảng trống, cần nghiên cứu làm rõ, đặc biệt ở các trường
THPT huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng.
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số ở
trường trung học phổ thông qua hoạt động trải nghiệm
- Các khái niệm cơ bản
* Khái niệm kĩ năng và kĩ năng sống
Kĩ năng: Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển
học Hà Nội, kĩ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức thu
nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [20; tr.517].
Theo cách giải thích này thì kĩ năng và kiến thức luôn gắn liền
và có quan hệ mật thiết với nhau. Kĩ năng gắn với việc chủ thể
đưa kiến thức đã được học vào hành động trong thực tế. Theo từ
điển Anh - Anh: kĩ năng (Skill) được mô tả là khả năng đưa ra
các giải pháp trong một số vấn đề nhất định, nó có thể được
hình thành thông qua rèn luyện, đào tạo. Còn “ability” được mô
tả là các phẩm chất bên trong cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi để
năng là khả năng cho phép con người thực hành một hành vi
nhất định” [45; tr.8]. Theo cách giải thích này thì kĩ năng luôn
gắn liền với năng lực hoạt động, làm việc, giải quyết vấn đề của
con người. Do đó, kĩ năng hoàn toàn có thể nhận thấy, đo đạc và
đánh giá được. Điều đó cũng có nghĩa rằng để có được kĩ năng
thì con người cần phải trải qua một quá trình rèn luyện, thực
hành các hành vi của bản thân trong thực tiễn cuộc sống. Mặc
dù có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng, chủ yếu là khác
nhau ở phạm vi vận dụng tri thức của chủ thể hành động vào
thực tiễn, nhưng nhìn chung các tác giả đều thống nhất ở các
điểm sau:
- Thứ nhất, KN có nguồn gốc tâm lí, nhưng có hình thức
vật chất là hành vi hoặc hành động, kĩ năng luôn gắn liền với
việc thực hiện các thao tác hay hành động nhất định.
- Thứ hai, KN luôn gắn liền với tri thức, tức là nó gắn liền
với việc triển khai và vận dụng những kiến thức mà cá nhân lĩnh
hội được thông qua quá trình học tập, rèn luyện vào thực tiễn.
- Thứ ba, KN hoàn toàn có thể giáo dục và rèn luyện được.
Sự hình thành và mức độ phát triển của kĩ năng thể hiện qua
tính đúng đắn, thành thạo và sáng tạo của chủ thể hành động.
Nó được tích lũy, rèn luyện thông qua sự kết hợp giữa tri thức
và kinh nghiệm của mỗi cá nhân trong các hoạt động thực tiễn
hàng ngày. Từ những đặc điểm trên, chúng tôi quan niệm: kĩ
năng là khả năng chủ thể thực hiện được hành động dựa trên
vốn tri thức, kinh nghiệm đã có để đạt được kết quả theo những
tiêu chí nhất định, phù hợp với mục đích và điều kiện hành
động.
Như vậy, kĩ năng có các đặc điểm cơ bản sau:
giúp cá nhân có thể giải quyết vấn đề có hiệu quả và khắc phục
những khó khăn của cuộc sống hàng ngày. KNS bao gồm một
nhóm các năng lực tâm lí xã hội và kĩ năng nhận biết, làm chủ
bản thân để giúp mọi người thông báo, ra quyết định, giải quyết
vấn đề, suy nghĩ, phê bình, sáng tạo và giao tiếp hiệu quả, xây
dựng mối quan hệ lành mạnh, thông cảm với người khác và để
đối phó với những thách thức của cuộc sống. KNS có thể dẫn
đến các hành động đối với bản thân cá nhân hay hành động đối
với những người khác, cũng như những hành động đối với môi
trường để làm cho nó trở nên thân thiện và an toàn [45]; [41];
[42]; [43]; [44]. So sánh cách biểu đạt khái niệm KNS của
WHO với cách biểu đạt khái niệm KNS của UNESSCO chúng
tôi thấy rằng: nội hàm khái niệm KNS đã được thu hẹp hơn.
KNS được gắn với năng lực tâm lí của mỗi cá nhân và thể hiện
thông qua hành động, cách ứng xử, giao tiếp với người khác
(năng lực xã hội) một cách có hiệu quả. Theo UNICEF (Thái
Lan: 1995): KNS là khả năng phân tích tình huống và hành vi,
khả năng phân tích hậu quả của hành vi và khả năng phòng
tránh một số tình huống nào đó. KNS là một cách tiếp cận để
giải quyết sự cân bằng giữa các yếu tố: kiến thức, thái độ và kĩ
năng. UNICEF đưa ra quan điểm này dựa trên các bằng chứng
nghiên cứu cho thấy: sự thay đổi hành vi của con người không
thể có được nếu như không có kiến thức, thái độ và kĩ năng dựa
trên năng lực của cá nhân [35]; [41]. Như vậy, theo quan điểm
của UNICEF, KNS được xem xét và nhấn mạnh đến việc con
người tham gia phòng tránh và giải quyết các vấn đề trong cuộc
của KNS là kĩ năng tự quản bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết
để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.
Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi
người, khả năng ứng xử phù hợp với người khác, khả năng ứng
phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. [4]; [5]; [6];
[7]; [8]; [9]. Theo cách biểu đạt này, KNS được mô tả có những
đặc điểm tương đồng, giống với cách biểu đạt về KNS của
WHO, UNICEF. KNS bao gồm các khả năng tâm lí bên trong
mỗi cá nhân để làm chủ cảm xúc, hành vi của bản thân và năng
lực ứng xử trong thực tiễn bên ngoài khi tham gia vào các hoạt
động sống, học tập và làm việc.
Trong nghiên cứu này, KNS được quan niệm là: khả năng
cá nhân được thể hiện thông qua hành động làm chủ bản thân,
hành động ứng xử tích cực với mọi người xung quanh và ứng
phó, giải quyết có hiệu quả các tình huống, vấn đề trong cuộc
sống dựa trên những tri thức, thái độ và giá trị mà chủ thể có
được. Theo đó có thể thấy rằng:
- KNS có hình thức vật chất là hành động. Nó chỉ được thể
hiện khi con người tham gia giải quyết các tình huống, các vấn
đề cụ thể gắn liền với các mối quan hệ với bản thân, với người
khác và với xã hội xung quanh.
- KNS giúp con người sống thành công và làm việc hiệu
quả.
- KNS chỉ có được khi cá nhân đã có những tri thức, thái
độ và giá trị nhất định.
- KNS khác với các kĩ năng để sống còn (livelihood skills,
GDKNS. Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Ở
cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục chỉ quá trình giáo dục
tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện
thông qua các hoạt động giáo dục. Đó là những hoạt động do
các cơ sở giáo dục tổ chức, thực hiện theo kế hoạch, chương
trình giáo dục và trực tiếp điều hành, chịu trách nhiệm về
chúng. Trong các hoạt động giáo dục thì hoạt động dạy học giữ
vai trò nền tảng và chủ đạo. Các hoạt động giáo dục được tổ
chức trên cơ sở các giá trị, nhằm tạo ra môi trường hoạt động và
giao tiếp có định hướng cho người học, tuân theo những nguyên
tắc chung, những mục tiêu chung, những chuẩn mực giá trị
chung, những biện pháp chung. [2].
Dựa vào cách hiểu về khái niệm giáo dục ở cấp độ nhà
trường, căn cứ vào khái niệm về KNS mà đề tài đã xác định,
trong nghiên cứu này, chúng tôi quan niệm rằng: GDKNS là
trang bị cho người học những kiến thức, thái độ, giá trị và tạo
cơ hội cho họ rèn luyện, trải nghiệm trong cuộc sống thực tiễn
từ đó giúp họ có thể làm chủ bản thân, ứng xử tích cực với mọi
người xung quanh và ứng phó, giải quyết có hiệu quả các tình
huống, vấn đề trong cuộc sống. GDKNS thông qua hoạt động
TN ngoài giờ chính khóa là quá trình tổ chức các hoạt động TN
trong thực tế nhằm giúp người học vừa chiếm lĩnh được kiến
thức, hình thành được kĩ năng sống, rèn luyện để có được những
KNS nhất định.
* Khái niệm trải nghiệm [16]; [19]; [32]
Theo triết học, trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tác
động qua lại giữa con người với thế giới khách quan. Sự tác
động qua lại này gồm có cả hình thức và kết quả các hoạt động