BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
___________________ Trần Thò Mỹ Hạnh
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số : 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS-TS. ĐOÀN VĂN ĐIỀU
Ban giám hiệu, quý Thầy Cô, quý phụ huynh và các em học sinh tại các trường
trung học cơ sở Lê Quý Đôn, Chu Văn An, Lê Anh Xuân, Lữ Gia, Hậu Giang, Phú
Thọ thuộc Quận 11 TPHCM đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ tác giả trong suốt quá trình
thu thập thông tin, số liệu nhằm hoàn thành tốt luận văn này.
Đặc biệt cảm ơn PGS.TS Đoàn Văn Điều đã hướng dẫn tận tình và hết lòng giúp đỡ
để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Mặc dù đã rất cố gắng song luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả
rất mong Quý Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp chân tình góp ý thêm.
TRẦN THỊ MỸ HẠNH
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
- Con người ngoài là một thực thể sinh lý còn là một thực thể mang bản chất tâm lý-xã hội
bao gồm những phẩm chất, những thuộc tính tâm lý có ý nghĩa xã hội được hình thành do kết quả
tác động qua lại giữa họ với nhau, giữa họ với các sự vật, hiện tượng xung quanh trong từng hoạt
động. Con người càng hoạt động thì càng có cơ hội khám phá, hiểu biết và phát triển. Vì thế, họ cần
phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ để có thể giúp họ tự kiểm soát được hành vi của bản thân và
kiểm soát được môi trường xung quanh một cách thành công. Nói cách khác, để sống tốt và hoạt
động hiệu quả, con người cần phải có những kỹ năng sống. Kỹ năng sống có thể được hình thành
một cách tự nhiên qua trãi nghiệm hoặc có thể thông qua giáo dục-học tập, rèn luyện.
- Việc giáo dục kỹ năng sống ở trường học sẽ giúp thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội
tích cực cho người học; đồng thời tạo những tác động tốt đối với các mối quan hệ giữa thầy và trò,
giữa các học sinh, bạn bè với nhau; giúp tạo nên sự hứng thú học tập cho trẻ đồng thời giúp hoàn
thành nhiệm vụ của người giáo viên một cách đầy đủ hơn và đề cao các chuẩn mực đạo đức, góp
phần nâng cao vị trí của nhà trường trong xã hội. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự
mở cửa, hội nhập quốc tế về quan hệ kinh tế, giao lưu văn hóa,… của đất nước một số thanh thiếu
niên học sinh thiếu hiểu biết về thực tế cuộc sống, chưa được rèn dạy kỹ năng sống, có khi lại sớm
phải tự mình đương đầu với nhiều vấn đề tâm lý xã hội phức tạp, đã bị lôi cuốn vào lối sống thực
Minh .
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh từ các lực lượng giáo dục của các
Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở.
4. Giả thuyết khoa học
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học cơ sở tại Quận 11, Tp. Hồ Chí
Minh là một việc làm cần thiết trong hỗ trợ việc học tập và vận dụng vào đời sống của các em.
Muốn việc giáo dục những kỹ năng này hiệu quả hơn cần có sự tham gia của các lực lượng giáo dục
dưới sự quản lý của Hiệu trưởng trong nhà trường.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS
Phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách báo, tham khảo các văn bản chỉ đạo của ngành, các
công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài.
5.2. Nghiên cứu thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS
Tìm hiểu thực trạng vấn đề quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS tại
Quận 11, Tp Hồ Chí Minh.
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS.
6. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu sau đây được sử dụng :
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu, hồ sơ, sách, tạp chí, công trình nghiên cứu để hình thành cơ sở lý
luận cho đề tài.
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, thang đo
Thực hiện tại 6/9 trường THCS tại Quận 11 với các mẫu điều tra dự kiến dành cho các đối
tượng sau :
thái độ tích cực, năng động, dấn thân,... và những kỹ năng cần thiết trong học tập và làm việc, trong
quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống đã chủ yếu
giúp cho người học tự tin để vững bước tới một tương lai có định hướng. Riêng về
giáo dục kỹ năng
sống tuy chỉ mới xuất hiện từ những năm 1990 của thế kỷ trước song đã nhanh chóng lan rộng ra
khắp thế giới. Và có nơi, giáo dục kỹ năng sống không chỉ là một sinh hoạt ngoại khóa mà còn là
một môn học chính qui ở nhà trường.
Ở Việt Nam, dù giáo dục kỹ năng sống được du nhập vào ngay sau đó nhưng triết lý và
phương pháp giáo dục kỹ năng sống ít nhiều hãy còn lạ lẫm đối với xã hội ta nên chưa được sự quan
tâm đúng mức [21, tr.2]. Hơn nữa, giáo dục tại Việt Nam nhìn chung còn kém phát triển. Ngoại trừ
một số rất ít các trung tâm giáo dục phi chính quy như Trung tâm ABS Training, Trung tâm dạy
nghề GDVT Swisscontact, Công ty Tâm Việt ở Hà Nội, Công ty bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Việt
Nam phối hợp với Báo Người lao động, Cung văn hóa Lao động Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà văn
hóa Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm hỗ trợ sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh,
Trung tâm học tập cộng đồng ở một số địa phương... hay một số trường giáo dục trẻ khuyết tật, một
số ít trường tiểu học trọng điểm ở Hà Nội,... có các chương trình giáo dục kỹ năng sống. Còn lại,
các trường phổ thông nhất là các trường từ bậc trung học cơ sở trở lên chưa quan tâm nhiều cũng
như chưa tạo ra được môi trường học tập trang bị đầy đủ kỹ năng sống cho thanh thiếu niên học
sinh. Cho nên giới trẻ Việt Nam nhìn chung còn kém so với thanh thiếu niên tại các nước phát triển.
Trong khi đó, bản lĩnh sống của thanh thiếu niên trong xã hội ngày càng chuyên môn hoá cao như
xã hội Việt Nam hiện nay không thể thiếu được và cần phải được nâng cao hơn ở hai mảng kỹ năng
đó là kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm mà có thể gọi chung là những kỹ năng cuộc sống [35].
Kể từ năm học 2008-2009, Bộ GD-ĐT nước ta đã phát động trong các trường phổ thông trên
toàn quốc phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" nhằm mang lại cho học
sinh cả nước một "môi trường giáo dục an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương
và đáp ứng nhu cầu xã hội". Hưởng ứng phong trào này, Trung tâm Giáo dục môi trường và các vấn
đề xã hội đã phối hợp với Ban dự án Phát triển giáo dục THPT nhanh chóng xây dựng kế hoạch tổ
chức hoạt động nhằm hỗ trợ triển khai đến cơ sở một số nội dung thiết thực. Một trong những hoạt
động đó là chương trình Tập huấn giáo dục kỹ năng sống và bình đẳng giới tổ chức tại Hà Nội vào 5
(Bản đồ địa giới Quận 11- Nguồn : Ủy ban nhân dân Quận 11-Năm 2008)
Sau ngày giải phóng 30/04/1975, địa bàn Quận 11 được giữ nguyên với 6 phường và 47
khóm. Đến ngày 01/06/1976 được phân chia lại thành 21 phường. Sau nhiều lần điều chỉnh địa giới,
đến nay Quận 11 có 16 phường.
Quận 11 có tổng diện tích 513,58 ha, nằm ở Tây Nam thành phố. Giáp quận Tân Bình ở phía
Bắc và Tây Bắc; phía Đông giáp Quận 5, Quận 10; phía Nam và Tây Nam giáp ranh Quận 6. Tính
đến cuối năm 2007, quận 11 có dân số là 230.014 người, có 120.562 nữ (tỷ lệ 52,41%). Người Hoa
có 108.003 người (tỷ lệ 46,95%), mật độ dân số trung bình là 44.540 người/km
2
.
Hơn 30 năm qua, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân quận 11 đã ra sức phấn đấu phát huy
các nhân tố thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn thử thách thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và
các mục tiêu nhiệm vụ của các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận đề ra trong từng thời kỳ. Đến nay
kinh tế - xã hội của quận có những nét chuyển biến tích cực như sau :
Về kinh tế : - Giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 1986-2000 tăng bình
quân là 11%, giai đoạn 2001-2004 tăng bình quân 10,2%. Doanh thu thương mại - dịch vụ giai
đoạn 1986-2000 tăng bình quân 18%, giai đoạn 2001-2004 tăng bình quân 16%.
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng thương mại dịch vụ - sản xuất CN-
TTCN. Cơ cấu thành phần kinh tế có bước chuyển đổi theo chủ trương phát triển kinh tế nhiều
thành phần của Đảng và Nhà nước. Tính đến nay, có hơn 900 doanh nghiệp dân doanh và hơn
10.000 cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận, đã đóng góp đáng kể vào nguồn
thu ngân sách Nhà nước, nhiều sản phẩm được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất
lượng cao, hình thành các khu vực chuyên doanh cung cấp hành hóa cho các tỉnh và cả nước.
- Công viên Văn hoá Đầm Sen không ngừng đầu tư phát triển, mở rộng nhiều loại
hình dịch vụ phong phú, hiện đại đáp ứng nhu cầu giải trí ngày càng tăng của nhân dân, góp
phần vào sự phát triển chung của quận.
Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội phục vụ đời sống, sinh hoạt của nhân dân : luôn được Đảng
bộ, Chính quyền quận quan tâm đầu tư. Đến nay toàn bộ các hẻm trong quận đã được xi măng
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN QUẬN 11
1.2.2. Khái quát về Phòng giáo dục và đào tạo Quận 11
Phòng giáo dục và đào tạo quận 11 : là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND Quận, chịu sự
lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của UBND Quận, đồng thời chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn về
chuyên môn nghiệp vụ của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố; có chức năng giúp UBND Quận
quản lý nhà nước đúng chủ trương chính sách đối với toàn bộ hoạt động có liên quan đến lĩnh
vực giáo dục và đào tạo theo thẩm quyền được UBND thành phố phân cấp. Phòng giáo dục và
đào tạo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm về Giáo dục và Đào tạo tại địa
phương, tổ chức chỉ đạo việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch do Sở Giáo dục - Đào tạo giao sau
khi Sở đã thống nhất với UBND Quận giúp UBND Quận tổ chức thực hiện các Nghị quyết, chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trên các mặt công tác có liên quan đến lĩnh vực giáo
dục, đào tạo; thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các trường lớp, cơ sở giáo dục dạy
nghề tập thể, tư nhân đóng trên địa bàn quận theo sự phân cấp của UBND Thành phố.
công lập chuyên, đạt chuẩn quốc gia (Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Nguyễn Văn Phú), 04 trường
công lập (Lữ Gia, Hậu Giang, Lê Anh Xuân, Nguyễn Minh Hoàng), 02 trường gốc bán công
nhiều năm liền mới chuyển sang công lập (Phú Thọ và Nguyễn Huệ).
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của CBQL các trường trung học cơ sở thuộc Quận 11 :
Bảng 1.1 : Cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý bậc THCS Q11 về trình độ tay nghề
Trường THCS
CBQL Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Tổng Nữ
Sau ĐH ĐH CĐ NVQL
TS Nữ TS Nữ TS Nữ TS Nữ
Lê Quý Đôn 4 3 4 3 3 2
Hậu Giang 4 2 1 3 2 3 1
Nguyễn Huệ 2 1 2 1 2 1
Lữ Gia 3 1 3 1 3 1
Lê Anh Xuân 3 1 3 1 3 1
Chu Văn An 3 1 3 1 3 1
Nguyễn Minh Hoàng 2 2 2
Phú Thọ 3 2 3 2 2 2
Nguyễn Văn Phú 3 2 1 1 3 2 2 1
Tổng 27 13 2 1 25 12 23 10
Tỉ lệ % 7,4 92,6 85,2
(Nguồn : Trường Bồi dưỡng giáo viên Quận 11-Năm 2008)
Nhìn chung đội ngũ CBQL các trường THCS ở Quận 11 có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và
trên chuẩn (100%). Tỉ lệ CBQL đã qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý giáo dục chiếm 85,2% số còn
lại đều là các Phó Hiệu trưởng các trường sẽ và đang theo các khóa đào tạo về nghiệp vụ quản lý
giáo dục bằng hình thức học tại chức.
Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở thuộc quận 11 :
Bảng 1.2 : Cơ cấu đội ngũ giáo viên THCS Q11 về trình độ chuyên môn
Tổng Nữ
Dưới 5
năm
Từ 6 – 15
năm
Từ 16 –
25 năm
Trên
25 năm
TS Nữ TS Nữ TS Nữ TS Nữ
Lê Quý Đôn 74 60 36 29 25 22 7 5 6 4
Hậu Giang 95 69 23 15 27 24 25 16 20 14
Nguyễn Huệ 38 29 10 8 7 6 14 10 7 5
Lữ Gia 77 44 24 14 18 11 19 10 16 9
Lê Anh Xuân 44 32 9 7 12 8 14 12 9 5
Chu Văn An 83 52 14 8 28 18 23 14 18 12
Ng Minh Hoàng 39 27 11 9 18 13 6 3 4 2
Phú Thọ 64 50 23 18 16 14 13 10 12 8
Ng Văn Phú 72 54 18 14 22 17 21 16 11 7
Tổng 586 417 168 122 173 133 142 96 103 66
Tỉ lệ % 71,2 28,7 29,5 24,2 17,6
(Nguồn : Phòng giáo dục và đào tạo Quận 11- Quý 1 Năm 2009)
Bảng số liệu này cho thấy hơn một nửa đội ngũ CBGV Quận 11 (chiếm 58.2%) có thâm niên
dưới 15 năm nghĩa là có tuổi nghề trẻ nên có thể thể hiện tốt sự năng động sáng tạo phù hợp với xu
thế phát triển và hội nhập thế giới, dễ dàng nắm bắt và thực hiện chủ trương đổi mới của giáo dục
theo nhu cầu chung hiện nay.
Bên cạnh đó, còn gần một nửa lực lượng có thâm niên từ 16 năm trở lên thể hiện được sự dày
dạn kinh nghiệm chuyên môn. Lực lượng này có tuổi nghề cao, tay nghề vững có thể rèn dạy các
phẩm chất đạo đức, hình thành nhân cách tốt cho học sinh, giúp các em trở nên người hữu dụng cho
xã hội.
hệ quản lý trong các tổ chức. Nó tổng quát hóa các kinh nghiệm tốt thành các nguyên tắc và lý
thuyết áp dụng cho mọi hình thức quản lý tương tự. Nó cung cấp khái niệm cơ bản làm nền tảng cho
việc nghiên cứu các môn học về quản lý.
Để quản lý có hiệu quả, nhà quản lý phải linh hoạt vận dụng các lý thuyết vào những tình
huống cụ thể. Nó đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục tiêu. Nghệ thuật này chủ yếu
phải được học ngay trong thực tiễn.
1.3.1.2. Giáo dục
- Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có nêu : “Giáo dục là quá trình
hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho người học những
phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết để họ có khả năng tham gia mọi mặt đời sống của xã hội”
[16, tr.269].
- Trong Giáo dục học : Giáo dục là quá trình toàn vẹn tác động đến thế hệ trẻ về đạo đức, tư
tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ và những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội [14,
tr.52].
- Theo tinh thần nghị quyết TW2 Khóa 8 của Đảng ta về giáo dục đào tạo thì nhà trường phải
đào tạo ra những con người có đủ tri thức và kỹ xảo, năng lực và phẩm chất với tinh thần trách
nhiệm đầy đủ của người công dân tham gia vào cuộc sống lao động xã hội, tham gia vào cuộc Cách
mạng trí tuệ, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển; nhà trường phải đào tạo những con người học được
cách chung sống, hợp tác với nhau, cùng nhau giải quyết những vấn đề chung của dân tộc, của quốc
gia, của toàn cầu, của thời đại [6, 11].
Do đó giáo dục ngày nay không phải chỉ là tích tụ tri thức mà còn thức tỉnh tiềm năng sáng
tạo to lớn trong mỗi con người.
1.3.1.3. Quản lý giáo dục
- Theo tác giả Hồ văn Liên, trong tập bài giảng về “Tổ chức và quản lý giáo dục trường học”
thì : “Quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến
khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức” [17, tr.9].
- Cụ thể hơn : “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ
thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo
Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục
để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”
[10, tr.13].
- Phạm Viết Vượng đã nêu : “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm
tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động
tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [34, tr.26].
- Hoặc “Quản lý trường học chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản
lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình. Đó
chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các
hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và
học” [19, tr.8].
Từ đó có thể nói : “Quản lý trường học được hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm
hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội
trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của
nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đã đề ra” [19, tr. 10].
1.3.1.5. Kỹ năng
Trong Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có ghi : “Kỹ năng là khả
năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn” [16, tr.390].
Còn trong Tâm lý học, kỹ năng được hiểu là khả năng thực hiện những thao tác được hình
thành và củng cố qua quá trình thực hành và trãi nghiệm của bản thân. Kỹ năng chính là công cụ để
gia tăng giá trị cho kiến thức của bản thân.
1.3.1.6. Kỹ năng sống
- Theo nhóm biên soạn tài liệu giáo dục kỹ năng sống của Vụ giáo dục thể chất mà chủ biên
là Nguyễn Võ Kỳ Anh thì : “Kỹ năng sống là khả năng có được những hành vi thích nghi và tích
cực, cho phép chúng ta xử trí một cách có hiệu quả các đòi hỏi và thử thách của cuộc sống thường
ngày” [1, tr.3].
- Định nghĩa vừa nêu trên cũng trùng lặp với định nghĩa về kỹ năng sống của Tổ chức Y tế
thế giới WHO : “Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và những hành vi tích cực để cá nhân có thể
đáp ứng hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [37].
Như vậy, kỹ năng sống khuyến khích thái độ tích cực, phòng ngừa và giảm thiểu các hành vi
1.3.2
. Lý thuyết về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
1
.
3.2.1. Đặc điểm tâm-sinh lý lứa tuổi của học sinh THCS
Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9 (còn gọi là lứa tuổi thiếu niên) là giai
đoạn phát triển của trẻ từ 11 đến 15, 16 tuổi. Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng
trong thời kỳ phát triển của trẻ em vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và
được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng
hoảng”, “tuổi bất trị”.
Đây là lứa tuổi có bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần
khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ
bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này
[4, tr.20].
Ở lứa tuổi này có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ
thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống và hoạt động… của các em.
Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác
nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên.
Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:
- Mặt thứ nhất: Những điểm yếu của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: đó là
trẻ chỉ bận tâm vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không
để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội.
- Mặt thứ hai: Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: đó là sự gia
tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi
hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống. Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn.
Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau:
- Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt
khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít.
- Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề
được khả năng của mình, họ càng có khả năng sử dụng các kỹ năng sống khác một cách có hiệu quả
và càng có khả năng lựa chọn những gì phù hợp với các điều kiện sẵn có với bản thân, với xã hội
mà họ sống và với khả năng của bản thân họ nữa. Họ cũng cần có sự hiểu biết rõ ràng về bản sắc
dân tộc và nền văn hóa mà từ đó họ đã được sinh ra và cũng chính nền văn hóa đó đã tạo nên con
người họ.
- Lòng tự trọng : Sự tự nhận thức đưa đến sự tự trọng. Khi mỗi người tự nhận thức được năng
lực tiềm tàng của bản thân và vị trí của mình trong cộng đồng thì lòng tự trọng được mô tả như là
”sự nhận thức những điều tốt đẹp của bản thân”. Nó còn đề cập đến việc mỗi người cảm nhận như
thế nào những khía cạnh mang tính cá nhân như diện mạo, khả năng và hành vi, … và họ sẽ phát
triển như thế nào trên cơ sở những kinh nghiệm bản thân để trở nên thành thạo và thành công khi
làm những điều mà họ dự định.
Tuy nhiên, lòng tự trọng bị ảnh hưởng một cách mạnh mẽ bởi mối quan hệ của một cá nhân
với những người khác. Những người lớn tuổi có ảnh hưởng đến trẻ như bố mẹ, các thành viên trong
gia đình, thầy cô giáo và cả bạn bè đồng lứa có thể hoặc trợ giúp nhằm phát triển hoặc làm mất sự tự
trọng của một cá nhân qua những quan hệ, tiếp xúc của họ đối với cá nhân đó.
- Sự kiên quyết : Sự kiên quyết hay tính kiên định có nghĩa là nhận biết được những gì bản
thân mình muốn và tại sao lại muốn đồng thời là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được
những gì bản thân mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể bao gồm một loạt các tình huống khác
nhau như : từ chối sự tán tỉnh, cám dỗ; thuyết phục người khác đồng thuận theo mình; nêu gương,
kêu gọi, hướng dẫn mọi người làm những việc có lợi cho cộng đồng,… Tuy nhiên, cách thể hiện
tính kiên định có liên quan đến văn hóa và việc lắng nghe, đánh giá những điều người khác cảm
nhận và mong muốn bởi vì kiên định là biết được nhu cầu và quyền của mình, cũng như điều mình
mong muốn và thực hiện những điều đó có xét tới nhu cầu, quyền và mong muốn của người khác.
- Đương đầu với cảm xúc : Xúc cảm là sự phản ánh rõ nét bản chất của mỗi người. Những
cảm xúc như sợ hãi, yêu thích, e thẹn, phẫn nộ, mong muốn được thừa nhận,… hoàn toàn mang tính
chủ quan và thường có là do đáp ứng một cách tức thời đối với tình huống. Vì thế mà chúng không
thể đoán trước được và có thể dễ dàng đưa con người ta đến những hành vi mà sau này họ sẽ phải
hối tiếc.
Do vậy, việc xác định và sau đó là đối phó với những cảm xúc là khả năng cho thấy rằng con
người ta có thể nhận thấy và phải tính đến những xúc cảm của mình cùng nguyên nhân cụ thể của
chân tình với người đó thay vì lên án, thương hại hoặc coi khinh họ với bất kỳ lý do nào. Cảm thông
cũng đồng nghĩa với việc hỗ trợ người đó để họ có thể tự quyết định và đứng vững trên đôi chân của
họ một cách nhanh chóng nhất.
- Đứng vững trước sự lôi kéo của bạn bè : Đối với thanh thiếu niên, sức ép để bản thân được
giống như các thành viên khác trong nhóm bạn là rất lớn. Vì vậy, đứng vững trước sự lôi kéo của
bạn bè cùng lứa là một kỹ năng rất quan trọng. Nếu phải đương đầu với những ý nghĩ hoặc những
việc làm trái ngược của bạn bè cùng lứa khi họ gây ảnh hưởng và thói quen xấu thì bản thân cần
phải dũng cảm khước từ, phản đối, dừng ngay những đề xuất không thể chấp nhận được đó, kiên
quyết bảo vệ những giá trị và niềm tin của bản thân cho dù có thể bị chế nhạo, đe dọa hoặc ghẻ lạnh
từ nhóm bạn đó.
- Kỹ năng thương lượng : là một kỹ năng quan trọng trong mối quan hệ giữa các cá nhân với
nhau. Kỹ năng này có liên quan đến tính kiên định, sự cảm thông và mối quan hệ giữa cá nhân với
cá nhân cũng như khả năng thỏa hiệp những vấn đề không có tính nguyên tắc của bản thân. Kỹ năng
thương lượng còn liên quan đến khả năng đương đầu với những áp lực, sự đe dọa của hoàn cảnh,
những rủi ro tiềm tàng trong các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau kể cả sức ép của bạn bè.
Cần phải nhận định rõ vị trí của cá nhân và thiết lập kỹ sự hiểu biết lẫn nhau trong các mối quan hệ
để có kỹ năng thương lượng tốt.
- Kỹ năng giải quyết xung đột không dùng bạo lực : là kỹ năng có liên quan đến mối quan hệ
giữa các cá nhân với nhau, đến kỹ năng thương lượng và các kỹ năng đương đầu với xúc cảm, với
căng thẳng, lo âu. Xung đột là điều không thể tránh khỏi và đôi khi lại là điều cần thiết song kỹ
năng giải quyết xung đột không dùng bạo lực sẽ giúp cho những xung đột trở nên có tính xây dựng.
- Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả : Giao tiếp là bản chất của các mối quan hệ của con người.
Do vậy, một trong những kỹ năng sống quan trọng nhất là khả năng giao tiếp một cách có hiệu quả
với mọi người. Khả năng này bao gồm cả kỹ năng lắng nghe và hiểu được người khác thực hiện
việc giao tiếp của họ như thế nào cũng như nhận biết được nhiều cách giao tiếp của họ khác nhau ra
sao.
*** Nhóm kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả :
- Tư duy phê phán : Như đã nêu, giới trẻ lớn lên trong thế giới ngày nay phải đối đầu với
nhiều vấn đề, sự mong đợi, những đòi hỏi đa dạng, phức tạp và trái ngược của bố mẹ, thầy cô, bạn
bè,... phải tiếp nhận, đáp ứng nhiều thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng, của các
của mỗi người đều có giá trị và chấp nhận không cần phê phán đồng thời cũng là một cách rất hiệu
quả để nghe các ý tưởng từ các đối tượng trong một giai đoạn thời gian hạn chế.
* Phương pháp đóng vai : là phương pháp thể hiện hành động trong một trò giả định đối
tượng học sinh của ta là nhân vật của một kịch bản định sẵn đứng trước một tình huống đặt ra. Đây
là phương pháp quan trọng trong giảng dạy kỹ năng sống vì những học sinh tham gia có thể được
thử trãi qua việc sử dụng các kỹ năng đã học trong các tình huống khác nhau. Bên cạnh đó, người
học còn có thể tham quan, thực hành các cách xử trí trong một môi trường an toàn và được giám sát
trước khi chạm trán với các tình huống thực.
* Phương pháp học tập trên cơ sở tham gia : Học tập tham gia là trọng tâm của việc giảng
dạy kỹ năng sống, phương pháp này chủ yếu dựa vào việc học và làm việc theo nhóm để các thành
viên có thể học tập, chia sẻ kinh nghiệm và thực hành các kỹ năng cùng nhau. Tính ưu việt của
phương pháp học tập tham gia thể hiện ở chỗ làm tăng sự nhận thức của mỗi thành viên về bản thân
họ và về những người khác, tạo điều kiện cho các thành viên trong nhóm hiểu nhau tốt hơn, động
viên sự hợp tác, phát triển kỹ năng nghe và kỹ năng giao tiếp,...
* Phương pháp giải quyết vấn đề : là phương pháp sử dụng kỹ năng giải quyết vấn đề làm
kỹ năng cơ bản giúp học sinh hình thành các kỹ năng xác định (phát hiện) vấn đề; xem xét, phân
tích vấn đề; tiến hành thử nghiệm về những giải pháp khác nhau, lựa chọn giải pháp tốt nhất, xây
dựng kế hoạch tạo ra những thay đổi để cải thiện, kết thúc vấn đề.
* Phương pháp xây dựng đề án : là phương pháp hướng dẫn học sinh học tập thông qua
việc xây dựng kế hoạch hoạt động và tổ chức thực hiện hoạt động đó nhằm khắc sâu ý nghĩa thực
tiễn của tri thức khoa học. Phương pháp này giúp rèn các kỹ năng xác định vấn đề; xem xét, phân
tích vấn đề; giải quyết vấn đề, kỹ năng hoạt động nhóm,...
* Và một số hình thức, phương pháp giáo dục khác như kể chuyện, thảo luận nhóm, thực
nghiệm, chơi các trò chơi giáo dục minh họa,… thông thường là các phương pháp giáo dục mang
tính trãi nghiệm.
1.3.2.4. Các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
Chủ yếu gồm đội ngũ thầy cô giáo (giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm), cán bộ đoàn thể
trường học, tổ chức đoàn thể địa phương,… và đặc biệt là gồm cả cha mẹ học sinh tại chính trong
gia đình các em. Cụ thể :
* Giáo viên bộ môn : là những người đã qua trường lớp sư phạm đào tạo để giảng dạy cho