Xung đột trong giao tiếp giữa cha mẹ với học sinh lớp 8, 9 ở một số trường trung học cơ sở tại địa bàn thành phố biên hòa, đồng nai - Pdf 37

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
DƯƠNG THỦY NGUYÊN

XUNG ĐỘT TRONG GIAO TIẾP GIỮA CHA MẸ
VỚI HỌC SINH LỚP 8, 9 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, ĐỒNG NAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh - 2016


ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
DƯƠNG THỦY NGUYÊN

XUNG ĐỘT TRONG GIAO TIẾP GIỮA CHA MẸ
VỚI HỌC SINH LỚP 8, 9 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Tâm lý học
MSSV: K38.611.074

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS. ĐÀO THỊ DUY DUYÊN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Với nền kiến thức còn hạn chế, bài viết không tránh khỏi những sai sót. Vì thế,
em rất mong nhận được lời nhận xét và góp ý của Quý thầy cô, của Hội đồng khoa
học, để đề tài nghiên cứu của em có thể hoàn thiện hơn và có thêm những kinh
nghiệm quý báu nhất.
Xin kính chúc Quý thầy cô, quý phụ huynh và các em học sinh sẽ có thật
nhiều sức khỏe, niềm vui và luôn thành công trong cuộc sống cũng như trong
công việc.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 05 năm 2016.
Tác giả
Dương Thủy Nguyên

ii


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................ 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................................ 3
4. Khách thể và đối tượngnghiên cứu.......................................................................... 3
5.Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................... 3
6. Giả thuyết khoa học .................................................................................................. 3
7. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................... 4
8. Đóng góp mới của đề tài ........................................................................................... 5

2.2.5. Thực trạng phản ứng của học sinh lớp 8, 9 khi xung đột với cha mẹ............. 76
2.2.6. Nguyên nhân xung đột trong giao tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ ................ 77
2.2.7. Ảnh hưởng của xung đột đến quá trình giao tiếp giữa thiếu niên với
cha mẹ ........................................................................................................................... 87
2.2.8. Những tổn thương và mong muốn của học sinh về cha mẹ ............................ 95
2.2.9. Biện pháp giải quyết và ngăn chặn xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ ...... 97
2.3. Đề xuất biện pháp giải quyết thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha
mẹ của học sinh lớp 8, 9 tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai ................................... 98
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ........................................................................................... 110
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 111
Kết luận ....................................................................................................................... 111
Kiến nghị ..................................................................................................................... 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 114
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 117
Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến.................................................................................. 117
Phụ lục 2: Bảng hỏi ..................................................................................................... 119
Phụ lục 3: Biên bản phỏng vấn ................................................................................... 128

iv


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Viết đầy đủ

Viết tắt

1


Thành phố Hồ Chí Minh

TP HCM

7

Đại học Sư phạm

ĐHSP

8

Xung đột



v


DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1. Đặc điểm mẫu khách thể nghiên cứu............................................................ 59
Bảng 2.2. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS khối lớp 8, 9 .......... 60
Bảng 2.3. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS năm học lớp 8, 9 ... 62
Bảng 2.4. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS lớp 8, 9 ở các khu
vực ................................................................................................................................. 63
Bảng 2.5. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS lớp 8, 9 theo giới
tính ................................................................................................................................. 64
Bảng 2.6. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS lớp 8, 9 theo tình
trạng gia đình. .............................................................................................................. 66
Bảng 2.7. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS lớp 8, 9 theo điều

Bảng 2.21. Thứ hạng của sự ảnh hưởng của XĐ đến quá trình nhận thức
lẫn nhau ......................................................................................................................... 89
Bảng 2.22. Thứ hạng của sự ảnh hưởng của XĐ đến quá trình trao đổi thông tin hai
chiều .............................................................................................................................. 91
Bảng 2.23. Thứ hạng của sự ảnh hưởng của XĐ đến nhóm chức năng tác động qua
lại, ảnh hưởng lẫn nhau ................................................................................................. 93
Bảng 2.24. Tỷ lệ những tổn thương và mong muốn về cha mẹ của học sinh lớp 8, 9
khi XĐ trong giao tiếp với cha mẹ xảy ra ................................................................... 95
Bảng 2.25. Những biện pháp giải quyết và ngăn chặn XĐ trong giao tiếp với cha
mẹ của học sinh lớp 8, 9 ................................................................................................ 98

vii


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xung đột trong giao tiếp là một vấn đề không thể tránh khỏi trong bất kỳ mối
quan hệ nào. Ngay từ khi sinh ra, cuộc sống mỗi người đều bắt đầu trong các mối
quan hệ gia đình. Trong đó, mối quan hệ cha mẹ và con cái là một trong những yếu
tố có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân. Quá trình vận
động và phát triển của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái cũng vậy, sẽ luôn nảy
sinh những mâu thuẫn, xung đột.
Khó khăn trong giao tiếp giữa cha mẹ và con cái xuất hiện từ rất sớm và ở độ
tuổi thiếu niên biểu hiện xung đột giữa thiếu niên và cha mẹ là rõ ràng hơn cả, nhất
là cuối độ tuổi thiếu niên tương ứng với độ tuổi học sinh lớp 8, 9. Đây là độ tuổi
phải trải qua nhiều thay đổi của cơ thể và tâm lý. Những nhu cầu mới xuất hiện chi
phối suy nghĩ, hành động của các em, điển hình là nhu cầu độc lập và tự khẳng định
mình. Nhưng nhiều bậc cha mẹ chưa có sự ý thức rõ ràng về sự thay đổi của các em
và thích ứng với sự thay đổi đó nên dẫn đến những xung đột trong giao tiếp. Điều
đáng lưu ý là cách cư xử của người lớn có sự ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành

giữa cha mẹ và học sinh lớp 8, 9 nhưng chưa khai thác sâu vấn đề xung đột trong
giao tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ trong giai đoạn hiện nay. Việc nghiên cứu về
những xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh cuối cấp THCS sẽ đưa ra
cái nhìn tổng quan về thực trạng, nguyên nhân dẫn đến thực trạng, cũng như đề xuất
một số cách ứng xử hợp lí cho các bậc cha mẹ và các em thiếu niên, nhằm làm cho
mối quan hệ này trở nên hài hòa và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về mặt
nhân cách cho trẻ.
Đã có một số nghiên cứu những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa cha
mẹ và học sinh lớp 8, 9 ở các tỉnh thành như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, nhưng chưa
có nghiên cứu liên quan đến vấn đề này tại TP Biên Hòa, Đồng Nai.
Xuất phát từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp 8, 9 ở một số
trường THCS tại Thành Phố Biên Hòa, Đồng Nai.”
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng, xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp 8,
9 ở một số trường THCS tại TP Biên Hòa, Đồng Nai từ đó đề xuất biện pháp để

2


giúp học sinh và cha mẹ có thể hạn chế được xung đột và biết cách giải quyết xung
đột tốt hơn.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết, làm cơ sở lý luận cho đề tài.
- Điều tra thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp
8, 9 ở một số trường THCS tại TP Biên Hòa, Đồng Nai và đề xuất giải pháp cho vấn
đề do thực tiễn đặt ra trong nghiên cứu.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
a. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu chính là học sinh lớp 8, 9 ở một số trường THCS tại

7. Phương pháp nghiên cứu
a. Cơ sở phương pháp luận
i. Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc trong việc nghiên cứu lý luận về
xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp 8, 9 ở một số trường THCS tại
TP Biên Hòa, Đồng Nai gồm những mặt như: Khái niệm, ý nghĩa, nội dung, mối
tương quan, kết luận.
ii. Quan điểm thực tiễn
Ngày nay, cuộc sống ngày càng phát triển kéo theo nhiều sự thay đổi trong
mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Khoảng cách thế hệ đã gây ra rất nhiều xung
đột về giao tiếp trong mối quan hệ này. Nhận biết được những khó khăn đó, người
nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu đề tài này nhằm đưa ra góc nhìn tổng quát về thực
trạng và từ đó có những biện pháp thích hợp để giải quyết vấn đề do thực tiễn đặt ra
trong nghiên cứu.
b. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
i. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích
Khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức lý luận và thực tiễn có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu nhằm xác định cơ sở lý luận cho vấn đề và định hướng
nghiên cứu thực tiễn.
Phương pháp
Đọc tài liệu, tham khảo một số công trình có liên quan đến đề tài, tìm ra cơ
sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
ii.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

4



1.2.

Lý luận liên quan đến xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của thiếu niên

1.2.1. Xung đột tâm lý
1.2.1.1.

Định nghĩa xung đột

5


1.2.1.2.

Phân loại xung đột

1.2.2. Xung đột tâm lý trong giao tiếp
1.2.2.1.

Khái niệm giao tiếp

1.2.2.2.

Xung đột tâm lý trong giao tiếp

1.2.2.3.

Biểu hiện của xung đột trong giao tiếp

1.2.2.4.

2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng xung đột trong giao tiếp giữa cha mẹ với học
sinh lớp 8, 9 ở một số trường THCS tại địa bàn thành phố Biên Hòa, Đồng Nai
2.2.1. Đặc điểm mẫu khách thể nghiên cứu
2.2.2. Thực trạng xung đột của thiếu niên với cha mẹ trong các năm học lớp 8, 9
2.2.3. Thực trạng mức độ ảnh hưởng và tần suất xảy ra của các vấn đề gây
xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ
2.2.4. Thứ bậc điểm trung bình biểu hiện của xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ
2.2.5. Thực trạng phản ứng của học sinh lớp 8, 9 khi xảy ra xung đột với cha mẹ
2.2.6. Nguyên nhân gây ra xung đột trong giao tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ

6


2.2.7. Ảnh hưởng của xung đột đến quá trình giao tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ
2.2.8. Những tổn thương và mong muốn của học sinh khi xung đột với cha mẹ
2.2.9. Biện pháp giải quyết và ngăn chặn xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ
2.3. Đề xuất biện pháp giải quyết thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha mẹ
của học sinh lớp 8, 9 ở một số trường THCS tại TP Biên Hòa, Đồng Nai
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
10. Kế hoạch nghiên cứu
THỜI GIAN
Tháng 9 – 10

Tháng 10 – 01

Tháng 02 – 04

Tháng 05

GIAI ĐOẠN

Xung đột là vấn đề xuất hiện rất sớm, tồn tại từ khi con người bắt đầu xuất

hiện. Các nhà triết học đã cho rằng nơi nào có con người sẽ xảy ra xung đột [1.39].
Sự xung đột được biết đến với các hình thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền, nòi giống,
lãnh thổ... là các hình thức bảo vệ quyền lợi cá nhân nói chung. Ngay từ thời cổ đại,
con người đã bắt đầu quan tâm đến các vấn đề liên quan đến xung đột. Nhà Triết
học Heerraclit (530 – 470 TCN) nhận định rằng “vạn vật kể cả các quy tắc giao tiếp
của con người biến đổi không ngừng và chuyển hóa lẫn nhau”. Với luận điểm đó,
ông chứng minh các cuộc xung đột hiện diện với tính cách là thuộc tính, điều kiện
quan trọng và tất yếu của đời sống xã hội. Vào thế kỷ XIX, nhà Triết học Karl Marx
(1818 – 1883) nghiên cứu về bản chất của mâu thuẫn. Ông nhận ra mâu thuẫn là cơ
sở của xung đột, là điều kiện tất yếu cho sự phát triển của các mặt đời sống xã hội
[40]. Từ đó, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu xung đột ở nhiều góc độ và lĩnh
vực như kinh tế học, giáo dục học, y học và tâm lý học… Trong đó, các vấn đề về
xung đột trong lứa tuổi thiếu niên cũng được các nhà xã hội học và tâm lý học
quan tâm.
Năm 1904, G.S.Hall (1846-1924) đã nhận định lứa tuổi thiếu niên là thời kỳ
“bão táp và giông tố”, ám chỉ sự biến động tâm lý của các em. Từ đó đến thập niên
1980, hàng loạt các nghiên cứu về lứa tuổi này ra đời bởi các nhà tâm lý học như S.
Freud, Anna Freud, P. Blos (1979), E. Erikson (1902-1994), J. Piaget (1896-1980),
A.Maslow (1908-1970), L. S. Vygotsky (1896-1934),… với các hướng tiếp cận
khác nhau.
- Tiếp theo nhận định của Hall, S. Freud (1856-1939) và Anna Freud
(1895-1982) nhận thấy mối liên hệ của sự phát triển tính dục và gia đình đối với sự
biến động tâm lý thiếu niên. Anna cho rằng đây là “biểu hiện bình thường của một
8


quá trình tách ra và là một kích thích cần thiết cho quá trình phát triển”. Các nhà
phân tâm học xem “sự hòa hợp với cha mẹ là dấu hiệu của sự chưa trưởng thành về

cha mẹ xác lập lại mối quan hệ gia đình và thỏa mãn nhu cầu độc lập của bản thân.
Những nghiên cứu này đã có sự thay đổi so với giai đoạn trước, không xem xét

10


xung đột như đối tượng gây hại (Robin & Foster (1989), Smetana (1989)) [42].
Hướng nghiên cứu này đã làm bật lên tầm quan trọng của sự hiểu biết về xung đột
nhằm đề ra phương pháp cải thiện cách cha mẹ và con cái đối diện với xung đột, gia
tăng kết quả tích cực trong mối quan hệ và bản thân mỗi người.
- Nghiên cứu về giải pháp giải quyết xung đột giữa cha mẹ và thiếu niên,
Roseblum & O’Leary (1978), Steinberg (1990), Vincent Roehling & Robin (1986)
nhận thấy những yếu tố liên quan đến hệ thống niềm tin của gia đình, sự ấm áp, gần
gũi và tin tưởng trong mối quan hệ có ảnh hưởng quan trọng đến giải quyết xung
đột. Những giải pháp của xung đột phụ thuộc vào khả năng giao tiếp và xử lý vấn
đề gây nên xung đột [43]. N.L. Galambos & D.M. Almeida (1992) cho rằng sự hợp
tác và bàn bạc giữa cha mẹ và con sẽ tạo nên những hiệu quả tích cực cho mối quan
hệ giữa cha mẹ và con khi xảy ra xung đột.
- Nghiên cứu về những vấn đề gây nên xung đột giữa cha mẹ và con,
Smetana & Asquirth (1994) và Barber (1994) nhận thấy những công việc nhà, dọn
dẹp phòng riêng, bài tập về nhà, kết quả học tập, thời gian xem tivi, giờ giấc sinh
hoạt, thiếu tập trung, cách cư xử gây khó chịu, xung đột với anh chị em và tính chất
mối quan hệ gia đình. Ngoài ra, những vấn đề về đạo đức và quy chuẩn xã hội cũng
tác động đến xung đột giữa cha mẹ và con. Nghiên cứu của Allison & Schultz
(2004) cho thấy vấn đề đáng được quan tâm là không tuân thủ quy tắc của gia đình,
những phẩm chất nhân cách tiêu cực như nói dối, gây sự, gặp rắc rối với người
khác..., những vấn đề liên quan đến nhu cầu độc lập như đi chơi một mình, thời gian
rảnh rỗi, quan hệ bạn bè, sử dụng tiền bạc, sự công nhận [43].
- Các nhà nghiên cứu nhận thấy sự vi phạm những quy định trong gia đình,
đặc điểm cấu trúc gia đình, sự khác biệt giới tính của cha mẹ và giới tính của con là

khía cạnh đặc điểm, bản chất của vấn đề, chưa đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng và
giải pháp.
Từ những năm 1990, những nghiên cứu lý luận về xung đột xuất hiện bởi các
nhà Tâm lý học xã hội, Xã hội học, Tâm lý học gia đình, Tâm lý học quản lý với
các tác giả tiêu biểu như Ngô Công Hoàn, Vũ Dũng, Nguyễn Khắc Viện.. Các
nghiên cứu này đã đóng góp cơ sở lý luận về xung đột trong các mối quan hệ gia
đình hay trong quản lý.
Ngô Công Hoàn (1993) đã nghiên cứu về bản chất xung đột, cho rằng sự
xung đột trong gia đình là “sự xung đột về nhận thức, quan điểm, thái độ và những
thói quen hành vi ứng xử trong tổ chức đời sống sinh hoạt của các thành viên ở gia

12


đình”. Tác giả nhấn mạnh sự bất hòa, xung đột trong nhận thức phải bộc lộ qua
hành vi và thái độ của các thành viên mới được xem là xung đột [15; 8]. Bên cạnh
đó, Vũ Dũng đã đưa ra khái niệm phân biệt giữa mâu thuẫn và xung đột, trong đó
xung đột là mức độ cao hơn của mâu thuẫn và là sự va chạm của các “xu hướng đối
lập nhau trong tâm lí của các cá nhân trong hoạt động chung của tổ chức” [325; 5].
Nhận định của các tác giả trên khẳng định xung đột xuất phát từ những sự đối lập,
va chạm về nhận thức, quan điểm, phải bộc lộ qua thái độ và hành vi ứng xử, “nếu
chỉ dừng lại ở nhận thức thì chưa phải xung đột” [15; 14].
1.1.2.2. Nghiên cứu thực tiễn
Vào thập niên 1990, những nghiên cứu thực tiễn về vấn đề xung đột xuất
hiện góp phần xác minh tính xác thực của các nghiên cứu lý luận. Giai đoạn này có
nhiều nghiên cứu về đề tài gia đình từ góc độ xã hội học, xem xét nguyên nhân và
hậu quả của các cuộc xung đột trong gia đình. Qua đó các nhà nghiên cứu “xác
nhận tình trạng đáng lo ngại về mối quan hệ ít gần gũi, gắn bó giữa cha mẹ và con”,
đồng thời đưa ra nguyên nhân quan trọng gây nên xung đột với con cái là cha mẹ
thiếu kiến thức tâm lý, không biết cư xử với con cho phù hợp với từng giai đoạn

trong đó những vấn đề hàng ngày trong cuộc sống là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất
đến sự “va chạm” giữa cha mẹ và con. Năm 2003, Lê Đức Phúc, Mạc Văn Trang đã
có một số bài nghiên cứu về mặt lý luận, tìm ra các cấp độ xung đột trong gia đình
và đưa ra nhận định tầm quan trọng của chức năng của gia đình đến việc giáo dục
con cái, nâng đỡ chúng vượt qua giai đoạn khó khăn [14].
Năm 2009, Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh đã xuất bản bộ sách Tư vấn tâm lý học
đường gồm những mẩu tư vấn tâm lý của tác giả, được tập hợp theo các chủ đề
chính: gia đình; cảm nghĩ về bản thân và các giá trị sống; chuyện học hành, hướng
nghiệp; tình bạn, tình yêu… Những tình huống thực tế trong bộ sách giúp người
nghiên cứu có thể khái quát sơ bộ tình hình thực tế các vấn đề phổ biến của tuổi
thiếu niên cũng như về mối quan hệ với cha mẹ và cũng cấp nhiều góc nhìn trong
việc giải quyết các vấn đề này [17].
Thực tế hiện nay cho thấy vấn đề xung đột giữa cha mẹ và con cái, đặc biệt
là thiếu niên dần được quan tâm nhưng vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Các
nghiên cứu chủ yếu tập trung giải quyết về mặt lý luận và mang tính định hướng,
còn bỏ ngõ nhiều vấn đề về nhu cầu tâm lý của các em được nảy sinh trong quá
trình phát triển. Nhận biết được tình hình, cô Đỗ Hạnh Nga (2005) đã tiến hành
nghiên cứu sâu về vấn đề “xung đột tâm lí giữa cha mẹ và con lứa tuổi học sinh

14


trung học cơ sở về nhu cầu độc lập” trên 1460 học sinh trung học cơ sở và 1460 cha
mẹ của học sinh các trường trung học cơ sở. Nghiên cứu đã đưa ra một hệ thống lý
luận chung nhất về xung đột như bản chất của xung đột, đồng thời có nghiên cứu
thực nghiệm nhằm có góc nhìn toàn diện nhất về vấn đề này [14].
Sơ lược các nghiên cứu cho thấy hiện tượng xung đột trong các mối quan hệ
đã được quan tâm bởi nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực xã hội khác nhau. Tuy
nhiên, vấn đề xung đột trong các mối quan hệ gia đình, đặc biệt là giữa cha mẹ và
con cái ở lứa tuổi thiếu niên ở nước ta vẫn chưa được nghiên cứu rộng rãi. Nhận

theo hướng tiếp cận này. TS. Đỗ Hạnh Nga khẳng định cần phải làm rõ hai thuật
ngữ “mâu thuẫn” và “xung đột”. Giáo trình Tâm lý học xã hội của Trần Quốc
Thành và Nguyễn Đức Sơn chỉ ra sự khác nhau giữa mâu thuẫn và xung đột:
“Không phải mâu thuẫn nào cũng biến thành xung đột, mà chỉ khi mâu thuẫn đó
bùng nổ thì xung đột mới xuất hiện”. Trần Anh Thụ đã nhận định rằng: “Xung đột
là cái đến sau mâu thuẫn, nhằm giải quyết mâu thuẫn”[14], [12], [26].
Hướng tiếp cận này chỉ ra nguồn gốc của xung đột là mâu thuẫn. Nói cách
khác, mâu thuẫn là cơ sở của xung đột. Tuy nhiên, những định nghĩa này chưa làm
rõ được nguyên nhân và tác động đến đời sống cá nhân của xung đột.
Hướng thứ hai: Một số tác giả muốn làm rõ hơn bản chất của xung đột. Do
đó, có những định nghĩa nhấn mạnh về nguyên nhân gây ra xung đột.
- Vũ Dũng định nghĩa xung đột là “sự va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao của
các xu hướng đối lập nhau trong tâm lí của các cá nhân, trong hoạt động chung của
tổ chức”.
-A.V. Pétrovski cho rằng “xung đột là sự va chạm của những quan điểm, lợi
ích, hoài bão đối lập nhau.”
- Lewis Coser nhận thấy xung đột xảy ra là do “sự thiếu hụt quyền lực, vị trí
hay công cụ cần thiết để thỏa mãn những đòi hỏi, kỳ vọng” dẫn đến sự đấu tranh
nhằm hòa hợp, lấn át hoặc loại bỏ đối phương.
- Follet định nghĩa xung đột bắt nguồn từ mâu thuẫn do sự khác biệt về
ý kiến và lợi ích.
- B.G. Meseriakova và V.P.Zinchenko đề cập đến sự mâu thuẫn về “quyền
lợi, mục tiêu, quan điểm, ý kiến của một cá nhân hay các chủ thể có mối quan hệ
với nhau”.
Hướng tiếp cận thứ hai cho thấy xung đột có sự gắn bó với các hiện tượng
tâm lý người, xung đột được thể hiện qua những dấu hiệu: “sự khác biệt”, “sự va

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status