MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 3
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 4
3. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................. 4
4. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 5
6. Bố cục ......................................................................................................... 5
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH............ 6
1.1. Một số khái niệm ................................................................................... 6
1.1.1. Văn hóa............................................................................................ 6
1.1.2. Gia đình ........................................................................................... 7
1.1.3. Văn hóa gia đình .............................................................................. 8
1.1.4. Biến đổi.......................................................................................... 10
1.2. Vai trò của nhà nước đối với gia đình hiện nay .................................... 11
1.2.1. Vai trò của gia đình ....................................................................... 11
1.2.2. Vai trò của nhà nước ..................................................................... 13
1.3. Định hướng xây dựng và phát triển văn hóa gia đình của Đảng và Nhà
nước .......................................................................................................... 13
1.3.1. Định hướng chung ........................................................................ 13
1.3.2. Tiêu chí xây dựng văn hóa gia đình ............................................... 15
Chương 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
HAI BÀ TRƯNG HIỆN NAY ....................................................................... 17
2.1. Khái quát chung về quận Hai Bà Trưng ............................................... 17
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ................................................... 17
2.1.2. Dân cư ........................................................................................... 19
2.1.3. Kinh tế, văn hóa xã hội .................................................................. 20
2.2. Khái quát về văn hóa gia đình trên địa bàn quận Hai Bà Trưng ........... 21
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển
với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân
tộc. Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường đầu tiên, thiêng liêng đối với
mỗi con người.Tính chất thiêng liêng trong quan hệ ruột thịt là nhân tố có sức
cảm hóa mạnh mẽ và các thành viên tự “hấp thụ” những giá trị tốt đẹp của gia
đình một cách hiển nhiên. Với những đặc điểm như vậy, gia đình rất cần có
những quy tắc, chuẩn mực để hình thành bệ phóng cho những nhân cách tốt
đẹp, giá trị gia đình có thể hình thành từ các sinh hoạt thông thường qua thói
quen ứng xử, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và trong các mối
quan hệ xã hội khác… chính những giá trị này có tác dụng sâu sắc đến nhận
thức hành vi của mỗi thành viên.
Sự giao lưu, mở cửa và hội nhập đã đem đến cho gia đình Việt Nam nhiều
cơ hội. Gia đình Việt Nam có điều kiện phát triển kinh tế, giao lưu hội nhập
với các nền văn hóa tiên tiến trên thế giới. Hiện nay, đất nước ta đang trên đà
phát triển mạnh mẽ và toàn diện, hòa cùng xu thế đó gia đình ngày nay càng có
một vị trí đặc biệt hơn. Gia đình là tế bào của xã hội, là một trong các tổ chức
cơ sở để thực hiện các chủ trương chính sách và pháp luật của Nhà nước về tất
cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, môi trường... Gia đình
Việt Nam là một nhân tố quan trọng góp phần để phát triển kinh tế xã hội của
đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đó là cơ sở để
khẳng định gia đình Việt Nam cũng đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Tuy nhiên, hiện nay dưới sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường
và tiến trình hội nhập, toàn cầu hoá nhiều giá trị văn hóa truyền thống trong gia
đình Việt Nam đang có sự vận động và biến đổi nhất định. Bên cạnh việc xuất
3
- Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu về các gia đình với nhiều dạng thức
khác nhau như gia đình hạnh phúc, gia đình dạn vỡ…
4
- Văn hóa gia đình và những biến đổi về văn hóa gia đình hiện nay
4. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu các gia đình trên địa
bàn thành phố Hà Nội nói chung và quận Hai Bà Trưng nói riêng.
- Thời gian: Từ năm 1986 đến nay
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp thống kê, so sánh
- Phương pháp tổng hợp, phân tích
6. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, bài tiểu luận
được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về văn hóa gia đình
Chương 2: Thực trạng văn hóa gia đình trên địa bàn quận Hai Bà
Trưng hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa
gia đình trong giai đoạn hiện nay
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH
1.1.
minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này, bản tính
con người không còn mang tính bản năng mà là văn hóa. Khả năng sáng tạo
của con người trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loại động vật nào
khác và chỉ có con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm bảo cho sự
sống còn của chủng loài mình. Con người có khả năng hình thành văn hóa và
với tư cách là thành viên của một xã hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn
nó đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc cùng có chung
một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội mà cá thể là thành viên.
1.1.2. Gia đình
Gia đình là một khái niệm mà các nhà xã hội học rất khó định nghĩa, tuy
bề ngoài có vẻ đơn giản nhưng để tìm ra được khái niệm mang tính toàn diện
cho gia đình là rất khó. Tuy nhiên ta có thể định nghĩa nó trong một hoàn cảnh
cụ thể. Chẳng hạn ở những nước Châu Á xem gia đình là tế bào xã hội, thì
ngược lại ở các nước Châu Âu gia đình chỉ được xem như là một nhóm xã hội,
một đơn vị cơ sở của xã hội thuộc một trong năm thiết chế cơ bản là: Nhà
nước, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, gia đình.
Gia đình đã tồn tại trong lịch sử nhân loại hàng vạn năm, đã biến đổi qua
nhiều kiểu loại, qui mô,và cơ cấu rất khác nhau. Hiện nay, gia đình với nhiều
loại hình, nhiều biểu hiện phong phú và đa dạng. Do vậy, không thể đưa ra một
khái niệm có thể bao hàm hết các kiểu loại gia đình trong lịch sử và hiện tại
của đời sống nhân loại. Chúng ta chỉ có thể dựa vào một kiểu loại gia đình có
tính phổ biến và mang đặc trưng cơ bản của nhóm xã hội đặc thù để đưa ra một
quan niệm về gia đình. Đó là gia đình hạt nhân, dựa trên quan hệ hôn nhân và
có hai thế hệ là cha mẹ và con cái. Ở đây, tôi chỉ đưa ra những nét chung nhất
về gia đình: gia đình là một khái niệm chỉ một cộng đồng người (nhóm xã hội)
có quan hệ mật thiết với nhau trong sinh hoạt vật chất và tinh thần mang đặc
thù dựa trên quan hệ hôn nhân và huyết thống, các quan hệ pháp lý hoặc luật
tục khác.
7
8
Gia đình chỉ xuất hiện trong xã hội loài người, không có trong thế giới
động vật. Dể duy trì nòi giống và thỏa mãn nhu cầu sinh học, động vật và loài
người cũng kết đôi. Song từ hình thức kết đôi của động vật đến „„gia đình‟‟ của
loài người là một bước tiến vượt bậc về chất (văn hóa) theo hai hướng: gia
đình của con người tồn tại lâu dài vì những người làm cha, làm mẹ của các cá
thể người được sinh ra phải gắn kết với nhau để nuôi dưỡng chúng trong nhiều
năm tháng thì chúng mới nên người. Thứ hai, về quan hệ tính giao giữa những
đối tượng khác giới thì ở loài người phần lớn thích thú sự quan hệ với một
người trong cả cuộc đời. Còn ở động vật thì không như vậy, một con đực có
thể quan hệ với nhiều con cái và ngược lại.
Có thể khẳng định gia đình của con người là một hiện tượng văn hóa
hoàn toàn khác về chất so với hình thức kết đôi của động vật. Nó không chỉ bị
quy định bởi nhu cầu sinh học mà nó được biến đổi về chất do nhu cầu xã hội
(nhu cầu người) trở thành hiện tượng văn hóa, gia đình là một thiết chế sinh
học – xã hội, vừa mang tính sinh học, vừa mang tính xã hội sâu sắc.
Trước hết nó đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của các cá nhân đặc
biệt là các cá thể người vừa được sinh thành. Sức mạnh của gia đình, thông qua
tình thương của cha mẹ và người thân là tổ ấm che chở cho các cá thể đó lớn
lên. Gia đình là nơi người ta yêu thương, tin cậy, tự hào, là mục tiêu phấn đấu
của con người. Gia đình còn là yếu tố cần hoàn thiện nhân cách đối với tất cả
những con người bình thường trong xã hội.
Gia đình là một thực thể văn hóa: Các quan hệ gia đình không chỉ mang
tính bản năng động vật mà đã trở thành quan hệ sinh học văn hóa. Chúng được
con người nhận thức, chọn lựa tìm đến những phương thức ứng xử được xem
là phù hợp và thích hợp với mỗi kiểu loại gia đình ở từng giai đoạn lịch sử, để
hình thành nên hệ thống giá trị chuẩn mực trong gia đình. Hệ thống ấy có vai
trò chi phối, điều tiết các quan hệ của gia đình, chi phối các phương thức ứng
khoa học ra đời trước.v.v.
Từ đó suy ra biến đổi nói chung là sự thay đổi giữa tình trạng hiện tại
của nó với tình trạng trong quá khứ, là kết quả của sự tác động qua lại giữa sự
10
vật, hiện tượng, con người và xã hội, nó thể hiện ở sự thay đổi cấu trúc hay tổ
chức của xã hội. Nó diễn ra không đồng đều về nhịp độ, quy mô, thời gian ...
và chịu những tác động nhất định của yếu tố tự nhiên, xã hội.
Biến đổi là nền tảng phát triển của loài người, không như các sinh vật
khác, con người cần phải có hiểu biết xã hội để sống. Ngoài sự tồn tại có tính
chất sinh học đơn thuần, kinh nghiệm xã hội tạo ra nhân cách của mỗi con
người. Hiểu theo nghĩa đơn giản, nhân cách chính là hệ thống tư duy, cảm xúc
và hành vi có tổ chức trong đó con người suy nghĩ, nhận thức về thế giới, về
bản thân mình cũng như phản ứng, hành động trong tương tác xã hội. Chỉ có
thông qua sự hình thành và phát triển của nhân cách, loài người mới trở nên
khác biệt với tất cả các loài động vật khác, chỉ có loài người mới tạo ra được
văn hóa và mỗi con người, với tư cách là một thành viên của xã hội tiếp thu
văn hóa vào nhân cách của mình.
1.2.
Vai trò của nhà nước đối với gia đình hiện nay
1.2.1. Vai trò của gia đình
1.2.1.1.
Vai trò của gia đình nói chung
Cùng với sự phát triển nhiều mặt, quan niệm về gia đình có thể khác
trước. Nhưng bất kể thế nào, con người sinh ra, ai cũng cần có một gia đình.
nhân qua lối sống, nếp sống ở mỗi gia đình.
1.2.1.2. Vai trò của gia đình nói riêng
Đời sống gia đình bao gồm ba yếu tố cơ bản: Các thành viên gia đình,
hoạt động của gia đình, văn hóa gia đình. Ba yếu tố này tương tác lẫn nhau tạo
nên đời sống gia đình. Trong đó các thành viên gia đình (con người) đóng vai
trò chủ thể, hoạt động là sự tác động của chủ thể vào tự nhiên và xã hội tạo nên
hình thái tồn tại của gia đình. Văn hóa gia đình đóng vai trò nền tảng tinh thần
điều tiết thúc đẩy sự biến đổi của gia đình theo hướng nhân văn, nhân bản hơn.
Nếu không có văn hóa thì con người không thể thành người và gia đình cũng
không thể tồn tại được.
Văn hóa gia đình góp phần duy trì và phát triển văn hoá các nhóm cộng
đồng xã hội (dòng họ, làng xã, dân tộc, giai cấp..). Nó lưu giữ, bảo tồn các giá
trị, chuẩn mực văn hoá truyền thống của các cộng đồng trong đời sống gia
12
đình. Gia đình với tư cách là một nhóm xã hội- một “ xã hội vĩ mô” và chịu sự
tác động của xã hội, vừa tác động lại xã hội. Mỗi cá nhân đều bắt đầu từ gia
đình, văn hoá gia đình. Văn hoá cá nhân, văn hoá gia đình và văn hoá xã hội có
mối quan hệ khắng khít chặt chẽ như kiềng ba chân.
Trong định nghĩa của Hội Nghị quốc tế do Unessco tổ chức ở Mehico
1982 về văn hóa đã nhấn mạnh: “Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành
sinh vật đặc biệt, nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có
đạo lý”. Văn hóa gia đình, ngoài yếu tố cốt lõi là giá trị gia đình còn được xem
xét như là một tập hợp của những biểu hiện văn hóa gắn với các mặt quan hệ
và đời sống gia đình. Do vậy, vai trò của văn hóa gia đình còn thể hiện ra ở sự
tác động tích cực và tiêu cực của nó trong sự biến đổi của gia đình và các chức
năng của gia đình. Vấn đề này tôi sẽ trình bày kết hợp với các vấn đề liên quan
ở các chương sau.
(khoá IX) về xây dựng gia đình thời kỳ CNH, HĐH đất nước; đội ngũ cán bộ
về công tác gia đình được hình thành, không ngừng nâng cao năng lực, hiệu
quả quản lý nhà nước về công tác gia đình.
Đặc biệt, ngày 29/5 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã
ký Quyết định 629/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển gia đình Việt
Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” càng thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước về gia đình Việt Nam. Quan điểm của Chiến lược là: Gia đình là tế
bào của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục
nhân cách, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ
nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc là một trong các mục tiêu
quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020,
đồng thời cũng là trách nhiệm của mọi gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh CNHHĐH đất nước. Ưu tiên, tạo điều kiện để các gia đình khu vực nông thôn, miền
núi, khu vực đặc biệt khó khăn nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống.
14
Theo đó, mục tiêu cụ thể của Chiến lược là nâng cao nhận thức về vai trò,
vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ
trương, đường lối chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng
giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào
gia đình. Kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt
Nam; tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát
triển; thực hiện đầy đủ các quyền và trách nhiệm của các thành viên trong gia
đình, đặc biệt đối với trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ.
Nâng cao năng lực của gia đình trong phát triển kinh tế, ứng phó với thiên tai
và khủng hoảng kinh tế; tạo việc làm, tăng thu nhập và phúc lợi, đặc biệt đối
với các hộ gia đình chính sách, hộ nghèo và cận nghèo theo quy định.
tình làng nghĩa xóm.
16
Chương 2
THỰC TRẠNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG HIỆN NAY
2.1. Khái quát chung về quận Hai Bà Trưng
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Hai Bà Trưng, thường được gọi tắt là Hai Bà, là một quận của thành
phố Hà Nội. Tên quận được đặt theo đền thờ Hai Bà Trưngnằm gần hồ Đồng
Nhân
Đông
Tây
chủ yếu giáp quận Đống Đa, một phần nhỏ giáp quận Thanh Xuân
Nam
Bắc
giáp sông Hồng, qua bờ sông là quận Long Biên
giáp quận Hoàng Mai
giáp quận Hoàn Kiếm
Trước đây, vùng đất Hai Bà Trưng thuộc các tổng Hậu Nghiêm (sau đổi
là Thanh Nhàn), Tả Nghiêm (sau đổi là Kim Liên), Tiền Nghiêm (sau đổi là
Vĩnh Xương) thuộc huyện Thọ Xương cũ; một số xã của huyện Thanh Trì,
vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng, mưa
nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa về đầu mùa và có mưa phùn về nửa cuối mùa.
Nằm về phía bắc của vành đai nhiệt đới, thành phố quanh nǎm tiếp nhận
lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Và do tác động của biển,
Hà Nội có độ ẩm vàlượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm.
Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai
mùa nóng, lạnh. Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tớitháng 9, kèm theo mưa nhiều,
nhiệt độ trung bình 28,1 °C. Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là mùa đông với
nhiệt độ trung bình 18,6 °C. Trong khoảng thời gian này số ngày nắng của
thành phố xuống rất thấp, bầu trời thường xuyên bị che phủ bởi mây và sương,
tháng 2 trung bình mỗi ngày chỉ có 1,8 giờ mặt trời chiếu sáng. Cùng với hai
thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 (mùa xuân) và tháng 10 (mùa thu), thành phố
có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông.
18
2.1.2. Dân cư
Lịch sử của Hà Nội cũng đã ghi nhận dân cư của thành phố trong đó có
dân cư tại quận Hai Bà Trưng có những thay đổi, xáo trộn liên tục qua thời
gian. Ở những làng ngoại thành, ven đô cũ, nơi người dân sống chủ yếu
nhờ nông nghiệp, thường không có sự thay đổi lớn. Nhiều gia đình nơi đây vẫn
giữ được gia phả từ những thế kỷ 15, 16. Trong nội thành, chỉ còn lại vài dòng
họ đã định cư liên tục tại Thăng Long từ thế kỉ XV.
Do tính chất của công việc, nhiều thương nhân và thợ thủ công ít khi trụ
nhiều đời tại một điểm. Gặp khó khăn trong kinh doanh, những thời điểm sa
sút, họ tìm tới vùng đất khác. Cũng có những trường hợp, một gia đình có
người đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan tỉnh khác và đem theo gia quyến, đôi
khi cả họ hàng.
Từ rất lâu, Thăng Long đã trở thành điểm đến của những người dân tứ xứ.
Vào thế kỷ 15, dân các trấn về Thăng Long quá đông khiến vua Lê Thánh
quận còn 1.022 hộ (chiếm 1,35%).
- Công tác y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình; công tác giáo dục đào tạo;
công tác thông tin tuyên truyền và tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật,
thể dục thể thao tiếp tục giữ vững và đạt kết quả tốt trong nhiều năm qua.
Quận Hai Bà Trưng có 91 di tích lịch sử, văn hóa và cách mạng (đã có 33
di tích đã được xếp hạng). Trong đó có những di tích nổi tiếng như: Chùa
Hương Tuyết, Chùa Liên Phái, Chùa Thiền Quang-Quang Hoa-Pháp Hoa, Đền
Hai Bà Trưng, Đình Tương Mai, Di tích cách mạng 152 Bạch Mai, Khu tưởng
niệm đồng chí Hoàng Văn Thụ, Khu tưởng niệm nạn đói năm 1945, Di tích
lịch sử cách mạng kháng chiến 18 Nguyễn Du v.v...
Trên địa bàn quận Hai Bà Trưng có hai công viên lớn là Công viên Thống
Nhất và Công viên Tuổi trẻ. Trong những năm tới các công viên này sẽ được
cải tạo theo hướng hiện đại và đa dạng các hoạt động, góp phần nâng cao đời
sống văn hóa, tinh thần cho dân cư trên địa bàn quận và thu hút khách du lịch ở
các nơi khác.
20
2.2. Khái quát về văn hóa gia đình trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
2.2.1. Văn hóa gia đình truyền thống
2.2.1.1. Truyền thống cưới hỏi
Dù tiếp thu nền văn hóa phương Tây hay cách tân theo sự phát triển của
thời đại nhưng phần lớn các đám cưới trên địa bàn phường Hai Bà Trưng vẫn
giữ trong mình phong vị riêng của cuộc sống cộng đồng xưa. Những nét đẹp
đó vẫn được lưu truyền, trường tồn và phát triển.
Cưới là một phong tục, một nghi lễ đậm phong vị dân tộc nhưng lại
nhiêu khê tốn kém. Phần lớn các đám cưới cổ xưa của người Việt thường được
tổ chức theo một cuốn sách cổ gọi là Thọ mai gia lễ – cuốn sách dạy người ta
những việc về quan, hôn, tang, tế. Về sau tuỳ từng vùng, từng thời, từng gia
cảnh mà việc hỷ (cưới) được tổ chức khác nhau. Nhưng cho dù là ở đâu, thời
lễ dẫn cưới. Lễ vật của lễ ăn hỏi thường là: cau tươi, bánh cốm, chè, rượu,
bánh xu xê (phu thê), phong bì tiền… những lễ vật tối thiểu theo tục lệ cổ
truyền.
- Lễ cưới: Lễ cưới chỉ được tổ chức sau khi đã được chính quyền cấp
giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trước đây, người ta gọi lễ này là lễ rước
dâu. Ngày nay, trong ngôn từ của đời sống thường ngày, người ta gọi lễ này là
lễ cưới (dịch theo tiếng Hán là hôn lễ). Ý nghĩa của lễ này là: Công bố sự
thành hôn của đôi trai gái (còn được gọi là lễ Thành hôn). Lễ cưới bao gồm các
nghi thức sau: Lễ xin dâu: Trước giờ đón dâu, mẹ chú rể sẽ cùng một người
thân trong gia đình đến nhà gái đem cơi trầu, chai rượu để báo trước giờ đoàn
đón dâu sẽ đến, nhà gái yên tâm chuẩn bị đón tiếp. Lễ rước dâu: Dù đoàn rước
dâu của nhà trai có đi bằng phương tiện gì chăng nữa thì trước khi vào nhà gái
cũng phải “chấn chỉnh đội hình”.Theo quan niệm dân gian thì cưới xin là một
nghi thức lớn và quan trọng nhất trong cuộc đời của mỗi con người, đồng thời
nó cũng thể hiện nét văn hóa đặc trưng của mỗi quốc gia. Ngày nay, tục lệ cưới
xin đã có phần đơn giản, nhanh gọn và tiết kiệm hơn nhiều, nhưng không vì
thế mà mất đi bản sắc văn hóa của dân tộc...
22
2.2.1.2. Truyền thống đạo Hiếu
Về cơ bản, nội dung phạm trù “hiếu” mang một ý nghĩa tích cực, đó là
bổn phận làm con phải có hiếu với cha mẹ. Trong việc thực hành đạo hiếu,
người Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, song đạo hiếu ở Việt
Nam vẫn có nét đặc sắc riêng, không hà khắc và cứng nhắc như trong quan
niệm của Nho giáo.
Đã từ lâu, người dân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng hết sức coi trọng
việc giáo dục đạo lý làm người cho con cháu, mà trước hết là phải lấy chữ hiếu
làm đầu. Bởi lẽ, một con người mà không có hiếu đối với ông bà, cha mẹ,
không biết yêu thương, kính trọng những người sinh thành dưỡng dục mình,
của người con. Có những gia đình kinh tế khó khăn, điều kiện vật chất eo hẹp
nên không có điều kiện hoặc thường lảng tránh việc chăm sóc cha mẹ. Nhưng
cũng có những người rất giàu có thì lại báo hiếu chỉ bằng cách thuê những
người xa lạ về chăm sóc cha mẹ, để cha mẹ sống trong buồn tủi, cô đơn.
2.2.1.3. Truyền thống thờ cúng tổ tiên
Truyền thống thờ cúng tổ tiên được một bộ phận lớn các gia đình trên địa
bàn quận Hai Bà Trưng duy trì qua các thế hệ . các gia đình đều có ban thờ để
thờ cúng tổ tiên, ông bà không kể giàu nghèo hay địa vị xã hội. Thờ cúng tổ
tiên là một nét văn hóa tâm linh truyền thống của người Việt và bàn thờ tổ tiên
là một phần không thể thiếu trong mỗi gia đình. Trong gia đình thờ cúng ông
bà tổ tiên để luôn nhắc nhở con cháu rằng : "cây có cội, nước có nguồn", vì
nhớ ơn mà phải cố gắng gắng giữ lấy "nếp nhà" (gia phong) và phấn đấu theo
nguyện
Vong linh ông bà tổ tiên nơi chín suối kia có biết được tấm lòng hiếu thảo
của con cháu hay không là điều nằm ngoài tầm hiểu biết của chúng ta, song giá
trị đọng lại trong nhận thức của từng thành viên là vô cùng quý giá. Đạo thờ
ông bà không chỉ là một sợi dây linh thiêng gắn kết gia đình, dòng tộc, mà qua
đó mỗi thành viên đều được giáo dục đạo đức truyền thống gia đình.
24
Người Việt Nam và các nước phương Đông coi trọng ngày mất và ngày
giỗ của tổ tiên, thể hiện của tinh thần coi trọng quá khứ và di sản từ quá khứ.
Có hai ý nghĩa lớn hình thành nên đạo thờ này ở phương Đông, một là quan
niệm chữ hiếu đối với thế hệ đi trước, qua các nghi lễ thể hiện mong muốn ông
bà tổ tiên có một cuộc sống tốt đẹp ở thế giới bên kia, bên cạnh đó, họ cũng
mong muốn được vong linh tổ tiên che chở, “chỉ đạo” trước những khúc mắc
của cuộc sống phàm trần, và hai là ý nghĩa giáo dục dành cho người còn sống.
Như vậy thờ cúng tổ tiên ở đây không chỉ là tín ngưỡng dân gian bình