Những biện pháp cải tiến quản lý xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HOA
NHỮNG BIỆN PHÁP CẢI TIẾN QUẢN LÝ
XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN
HAI BÀ TRƯNG,
HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC HÀ NỘI-2008 LỜI CẢM ƠN

Xin được chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo, phòng Quản lý

Cán bộ quản lý
CP
Chính phủ
CSVC
Cơ sở vật chất
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá- hiện đại hoá
ĐCSVN
Đảng Cộng Sản Việt Nam
GD & ĐT
Giáo dục và Đào tạo
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTGĐQD
Hệ thống giáo dục quốc dân
HCMHS
Hội cha mẹ học sinh
KT-XH
Kinh tế- xã hội

Nghị định
NQ
Nghị quyết

Quyết định
SPSS
Statistic Processing in Social Studies
THCS
Trung học cơ sở
TW

3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
5. Giả thuyết nghiên cứu
4
6. Phạm vi nghiên cứu
4
7. Phương pháp nghiên cứu
4
8. Cấu trúc luận văn
4
Chƣơng 1: cơ sở lý luận và pháp lý về
xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
5
1.1. Sơ lược về vấn đề nghiên cứu
5
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
7
1.2.1. Giáo dục
7
1.2.2. Nhà trường
9
1.2.3. Nhà trường trung học cơ sở
10
1.2.4. Quản lý
11
1.2.5. Quản lý giáo dục
13
1.2.6. Quản lý nhà trường
14

25
Chƣơng 2: thực trạng quảN Lý Xã HộI HOá
GIáO DụC TRUNG HọC CƠ Sở TRÊN ĐịA BàN
QUậN HAI Bà TRƢNG, Hà NộI
28
2.1. Khái quát về giáo dục của Quận Hai Bà Trưng
28
2.1.1. Tình hình kinh tế và xã hội
28
2.1.2. Tình hình giáo dục và đào tạo
29
2.1.3. Tình hình giáo dục trung học cơ sở quận Hai Bà Trưng,
Hà Nội
32
2.2. Thực trạng công tác xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
quận Hai Bà Trưng
34
2.2.1. Nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương,
các đoàn thể, nhân dân và các cán bộ quản lý giáo dục đối với
công tác xã hội hoá giáo dục
34
2.2.2. Những chủ trương, chính sách của các cấp lãnh đạo địa
phương và ngành giáo dục đối với công tác xã hội hoá giáo dục
37
2.2.3. Thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục ở các trường trung
học cơ sở Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
38
2.3. Thực trạng quản lý xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở Quận
Hai BàTrưng, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
42

3.2.1.Tổ chức quán triệt chủ trương chính sách, pháp luật nhằm
nâng cao nhận thức về xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
55
3.2.2.Tăng cường huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng
xã hội tham gia công tác xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở
60
3.2.3. Xây dựng cơ chế chính sách huy động các nguồn lực để
phát triển giáo dục trung học cơ sở
65
3.2.4. Xây dựng trường trung học cơ sở thành đơn vị cung ứng
dịch vụ công ích phục vụ đời sống cộng đồng
72
3.3. Thăm dò tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp cải
tiến quản lý xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở Quận Hai Bà
Trưng
79
3.3.1. Quy trình lấy ý kiến
79
3.3.2. Kết quả thăm dò
80
Kết luận và khuyến nghị
83
1. Kết luận
83
2. Khuyến nghị
84
Tài liệu tham khảo
87
phụ lục


kỳ thuận lợi, nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức to lớn, đòi hỏi
phải có những giải pháp, những cách làm giáo dục thích hợp. 2
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng có ý nghĩa rất to lớn, mở
ra một thời kỳ mới, thời kỳ phát triển đất nước trong những thập kỷ đầu của
thế kỷ 21. Về giáo dục, Đại hội khẳng định: “Tiếp tục quán triệt quan điểm
giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong
phát triển giáo dục và đào tạo…Hoàn thiện cơ chế, chính sách và luật pháp để
bảo vệ sự nghiệp giáo dục phát triển ổn định…Đẩy mạnh xã hội hoá phát triển
giáo dục và đào tạo. Huy động và sử dụng mọi nguồn lực cho giáo dục và đào
tạo” [10,tr.292 – 294]. Do đó, hơn lúc nào hết công tác XHHGD phải trở
thành phong trào rộng lớn, mạnh mẽ tạo điều kiện cho sự nghiệp giáo dục phát
triển đáp ứng được mục tiêu chiến lược của đất nước trong thời kỳ CNH-
HĐH.
Xác định công tác XHHGD là vận động, tổ chức sự tham gia của toàn
xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo dục nhằm từng bước nâng cao mức
hưởng thụ về giáo dục. Xã hội hoá và đa dạng hoá các hình thức hoạt động
giáo dục cho phép mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân
lực, vật lực, trí lực trong xã hội để phát triển giáo dục; phát huy và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động
giáo dục.
XHHGD không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và sự đầu tư của Nhà
nước mà trái lại, Nhà nước thường xuyên tìm thêm các nguồn thu để tăng tỷ
lệ ngân sách chi cho các hoạt động giáo dục, đồng thời quản lý tốt để nâng
cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó. Chính phủ đã ban hành nghị
quyết 90/CP, nghị quyết 05/2005/NQ-CP, nghị định 73/1999/NĐ-CP về
chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong giáo dục và các
lĩnh vực xã hội khác.

Từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Những biện pháp cải
tiến quản lý xã hội hoá giáo dục Trung học cơ sở quận Hai Bà Trưng, Hà
Nội trong giai đoạn hiện nay”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng XHHGD THCS,
đề tài đề xuất những biện pháp cải tiến quản lý XHHGD THCS quận Hai Bà
Trưng, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. 4
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể: Hoạt động XHHGD THCS trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý XHHGD THCS ở địa bàn quận Hai Bà Trưng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về XHHGD và quản lý XHHGD nói chung và
XHHGD THCS.
4.2. Đánh giá thực trạng quản lý XHHGD THCS và các biện pháp quản lý
XHH sự nghiệp giáo dục THCS ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
4.3. Đề xuất các biện pháp cải tiến quản lý XHH sự nghiệp giáo dục THCS
trên địa bàn quận Hai Bà Trưng trong giai đoạn hiện nay.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đề xuất một cách căn cứ khoa học và áp dụng vào thực tiễn các
biện pháp XHHGD THCS trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thì kết quả
XHHGD sẽ được nâng cao và mục tiêu của giáo dục THCS trên địa bàn quận
Hai Bà Trưng sẽ được thực hiện tốt hơn.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các trường THCS trên địa bàn quận Hai Bà Trưng,
Hà Nội. Thời gian áp dụng trong giai đoạn 5 - 7 năm trước mắt
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

định mình và phát triển”. Tuy nhiên, không có một ngôi trường nào, người
thầy nào đủ sức đưa hết mọi tri thức, kỹ năng, thái độ vào dạy học nhà
trường. Bởi vậy, việc học tập ngày nay không chỉ diễn ra trong nhà trường
mà còn phải học trong gia đình và ngoài xã hội với nhiều hình thức phong
phú và đa dạng; kéo dài suốt đời, học những gì cần cho cuộc sống khi có nhu
cầu và điều kiện, nghĩa là phải giáo dục cho mọi người và mọi người phải tự
giáo dục để tiến tới một xã hội học tập.
XHHGD là một quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Quan điểm đó là
sự đúc kết truyền thống hiếu học, đề cao sự học và chăm lo việc học hành
của nhân dân ta suốt hàng nghìn năm lịch sử phát triển của dân tộc. Từ cách
mạng tháng 8/1945 thành công đến nay, nhiều văn bản của Đảng và Nhà
nước ta chỉ đạo sự nghiệp giáo dục đã khẳng định: “Giáo dục là sự nghiệp
của quần chúng”, “Nhà nước và Nhân dân cùng làm giáo dục”. Nghị quyết
TW 4 khoá VII nhấn mạnh: “Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho giáo dục,
nhưng vấn đề quan trọng là phải quán triệt sâu sắc và tiến hành tốt việc xã
hội hoá các nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng phát triển giáo dục
trong nhân dân, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội”. Nghị quyết TW
2 khoá VIII một lần nữa khẳng định: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, 7
của Nhà nước và của toàn dân”. Nghị quyết TW 6 khoá IX, Đảng ta chỉ rõ:
“Đẩy mạnh XHHGD, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của
toàn dân, và XHHGD là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo
dục”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta lại tiếp tục khẳng định:
“Đẩy mạnh XHHGD”. Chủ chương XHHGD của Đảng được thể chế hoá
vào Hiến pháp năm 1992. Điều 12, Luật Giáo dục 2005 đã nêu: Xã hội hoá
sự nghiệp giáo dục để thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các loại
hình giáo dục; khuyến khích huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân
tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục”.

giáo dục, bởi XHHGD là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người,
mọi lực lượng xã hội, nhằm hoàn lại bản chất xã hội của giáo dục cho giáo
dục và trả lại nhiệm vụ giáo dục của toàn xã hội cho chính xã hội để tiến tới
xây dựng một xã hội học tập. Tổ chức văn hoá giáo dục Liên hiệp quốc
(UNESCO) đã khuyến nghị: Giáo dục không chỉ bó hẹp trong nhà trường.
Giáo dục phải trở thành phong trào quần chúng thực sự.
Vấn đề XHHGD đã được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn khá sâu
rộng và lâu dài trong lịch sử giáo dục nước ta và các nước trên thế giới. Bên
cạnh các công trình nghiên cứu khoa học nói chung về công tác XHHGD
trong những năm gần đây được nhiều nhà quản lý giáo dục nước ta quan
tâm. Nhiều luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về vấn đề
này. Tuy nhiên, đó là những vấn đề có tính chuyên sâu và gắn liền với công
tác quản lý nảy sinh ở từng địa phương và phạm vi công tác. Các hoạt động
của XHHGD là vấn đề rộng lớn, do vậy việc nghiên cứu công tác XHHGD
nói chung và XHHGD ở cấp THCS nói riêng vẫn có ý nghĩa thực tiễn cao.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt trong lịch sử nhân loại, là một
trong những lĩnh vực hoạt động xã hội nhằm kế thừa, duy trì và phát triển nền
văn hoá xã hội, văn minh của nhân loại. Giáo dục có tính phổ biến và vĩnh hằng,
là nhân tố cốt lõi và tồn tại khách quan trong mọi giai đoạn phát triển của xã hội.
Theo nghĩa chung nhất: “Giáo dục là qúa trình truyền và lĩnh hội những tri thức, 9
kỹ xảo và những kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống
lao động và sinh hoạt xã hội; là một nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, đảm
bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội” [16].
Giáo dục là điều kiện để con người gắn bó với nhau một cách có hiệu
quả theo mục tiêu đổi mới điều kiện sinh tồn, bởi vì hành động của bất kỳ cá

tươi đẹp”. Điều đó chứng minh vai trò giáo dục là hết sức quan trọng. Một
lần nữa khẳng định “giáo dục là cầu nối từ chỗ không có gì đến chỗ cái gì
cũng có” (Triết học giáo dục Australia).
1.2.2. Nhà trường
Xã hội ngày càng phát triển đã thúc đẩy sự ra đời của nhà trường – nơi
tổ chức hoạt động giáo dục một cách có hệ thống và có kế hoạch nhất. Có
nhiều hình thức giáo dục khác nhau nhưng đều đảm bảo sự nhất quán giữa
mục tiêu, nội dung, phương pháp. Giáo dục tồn tại trên trục lưỡng cực Thầy-
Trò. Trong đó Trò đóng vai trò là trung tâm của quá trình giáo dục, Thầy có
vai trò tổ chức quá trình giáo dục. Nhà trường luôn gắn liền với đời sống
cộng đồng. Cộng đồng là nguồn lực của nhà trường. Giữa nhà trường và
cộng đồng có mối quan hệ hữu cơ, bền vững. Đây chính là cơ sở lý luận cho
công tác XHHGD, là sự gắn kết giữa gia đình – nhà trường – xã hội. Điều
48, Luật giáo dục năm 2005 chỉ rõ: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục
C
V
X
K
G 11
quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch của Nhà
nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục” [19,tr 46].
Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác giáo
dục, đào tạo thế hệ trẻ, tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu “Nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước. Tuy nhiên, nhà
trường ở mọi cấp học chỉ là một giai đoạn học tập trong cuộc đời của mỗi
người; việc tự giáo dục mới có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển nhân
cách của mỗi con người. Vì vậy nhà trường, gia đình, xã hội phải có sự phối

+ Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo
chương trình giáo dục trung học do Bộ trưởng Bộ GD &ĐT ban hành;
+ Tiếp nhận học sinh, vận động học sinh bỏ học đến trường thực hiện
kế hoạch phổ cập giáo dục THCS trong phạm vi cộng đồng theo quy định
của nhà nước;
+ Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh;
+ Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo
quy định của pháp luật;
+ Phối hợp với gia đình học sinh , tổ chức và cá nhân trong cộng đồng
thực hiện các hoạt động giáo dục;
+ Tổ chức giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã
hội trong phạm vi cộng đồng;
+ Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Ở cấp THCS, nhà trường phải tạo điều kiện tối ưu để cho học sinh của
mình được học tập, tiếp thu, rèn luyện những kỹ năng cần thiết, phấn đấu tu
dưỡng, rèn luyện nhằm tạo cơ sở vững chắc cho việc hình thành nhân cách
đáp ứng yêu cầu của xã hội. Bởi vậy nhiệm vụ đặt ra cho nhà trường THCS
là phát triển nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận chiếm lĩnh khoa học công
nghệ, phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH của đất nước và hội nhập quốc tế; 13
đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong đời sống văn
hoá, bảo vệ độc lập dân tộc và CNXH.
1.2.4. Quản lý
Quản lý là một khái niệm được thường xuyên sử dụng trong nghiên cứu
khoa học về lĩnh vực xã hội. Ngay từ buổi sơ khai, để đương đầu với sức
mạnh của tự nhiên, để tồn tại và phát triển, con người đã hình thành các
nhóm hợp tác lao động tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu mà từng cá nhân
riêng lẻ không thể thực hiện dược, điều này đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải

đưa vào hệ phát triển” [2, tr.93].
Tóm lại, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích
của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các
tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu định ra trong điều kiện
biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) có hiệu
quả.
Như vậy, rõ ràng “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một
nghệ thuật” và “Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang
tính chủ quan, vừa có tính pháp luật của Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng
rãi…chúng ta là những mặt đối lập trong một thể thống nhất” [5, tr.15]
1.2.5. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội. Đây là một
hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử xã hội qua các thế hệ, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát
triển của xã hội. Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục phải được
tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống các cơ sở giáo dục, điều này
dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương
đối trong giáo dục, đó là công tác quản lý giáo dục để quản lý các cơ sở giáo
dục có trong thực tiễn. Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản giáo, đã
có nhiều tác giả đưa ra khái niệm quản lý giáo dục như sau: 15
+ Theo M.I. KONĐACỐP: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện
pháp tổ chức, phương pháp, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu…nhằm
đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo
dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng cả về mặt số lượng cũng
như chất lượng [17,tr.17].
+ Theo P.V.Khudominxky: Quản lý giáo dục là động tác có hệ thống,
có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp

+ Huy động quản lý sử dụng các nguồn lực.
Quản lý giáo dục được phân công theo các nguyên tắc khác nhau, theo
địa bàn lãnh thổ, theo chuyên môn kỹ thuật, theo mục tiêu quản lý.
1.2.6. Quản lý nhà trường
Trường học nằm trong hệ thống giáo dục và hệ thống xã hội, đặc điểm
thể chế là có sự kết hợp chặt chẽ, hữu cơ giữa đặc điểm nhà nước và đặc
điểm xã hội. Vì thế, trường học luôn có mối quan tâm và tác động qua lại với
môi trường xã hội. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Trường là một thể chế
xã hội trong đó quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của
hai nhân tố Thầy và Trò”, “Trường học là bộ phận của cộng đồng và trong
guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [2, tr.63-65].
Bản chất của công tác quản lý trường học là quá trình chỉ huy, điều
khiển vận động của các thành tố, đặc biệt là mối quan hệ giữa các thành tố.
Mối quan hệ đó là do quá trình sư phạm trong nhà trường quy định và được
thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Các thành tố trong nhà trƣờng
1. Mục tiêu đào tạo
2. Nội dung đào tạo
3. Phương pháp đào tạo
4. Lực lượng đào tạo
5. Đối tượng đào tạo

1
2
6
7
10
3
8
4

vào đời sống xã hội;
+ XHH là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người,
của cộng đồng nhằm đáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội.

18
1.2.8. Xã hội hoá giáo dục
Xã hội loài người hình thành đồng thời với sự ra đời của giáo dục. Có
loài người thì phải có giáo dục để thực hiện sự chuyển giao những kinh
nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác. Giáo dục là phương tiện tất yếu để xã
hội tồn tại và phát triển. Đó chính là bản chất xã hội của giáo dục, là cơ sở tư
duy của XHHGD.
Tuy diễn đạt có khác nhau song phần lớn đều thống nhất quan điểm: “Bản
chất của xã hội hoá là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của
Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi
người dân, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có kế
hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của nhà nước làm cho việc giải
quyết các vấn đề xã hội thực sự của dân, do dân và vì dân” [1, tr.7].
Có thể hiểu một cách khái quát: XHHGD là việc thực hiện mối liên hệ
giữa hoạt động giáo dục và cộng động xã hội, là tìm cách hoàn nguyên bản
chất xã hội của giáo dục, làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã
hội, thích ứng với xã hội.
Đây là một mối quan hệ biện chứng, thiết lập được mối quan hệ này làm
cho giáo dục phù hợp với sự phát triển xã hội. XHHGD là mở rộng quy mô,
mở rộng trách nhiệm giáo dục, chuyển hướng từ giáo dục tinh hoa thành giáo
dục đại chúng, giáo dục cho mọi người và tiến tới một xã hội học tập. Hoạt
động giáo dục từ chỗ trách nhiệm của ngành giáo dục, do nhà nước đảm
trách đến mọi người, mọi tổ chức và cộng đồng cùng tham gia làm giáo dục.

học tập; là sự cộng đồng trách nhiệm để phát triển sự nghiệp giáo dục; là đa
dạng hoá sự đầu tư vào các loại hình giáo dục, các hình thức giáo dục dưới
sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Quan điểm này là sự kế
thừa, phát huy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giáo dục là sự nghiệp
của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ tính dân chủ xã hội chủ nghĩa,
xây dựng mối quan hệ thật tốt, đoàn kết giữa thầy và trò, giữa học trò với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status