BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
VĂN THỊ NGA
CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG GIAI
ĐOẠN 1994 – 2013
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số:
60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Thị Hòa
Hà Nội, 10/2015
DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới ngày nay đang bước vào kỷ nguyên mới của sự phát triển dựa
trên cơ sở công nghệ thông tin và đi vào nền kinh tế tri thức, nhiều quốc gia
đang trên đà phát triển phồn vinh. Tuy nhiên, tình trạng nghèo khổ cũng đang
tư phát triển sản xuất ở nông thôn, nhất là nông thôn vùng núi. Phát huy hơn
nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia công
cuộc xóa đói giảm nghèo”2.
Hiện nay, nạn nghèo đói vẫn tồn tại ở mọi quốc gia như một thử thách
lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói riêng cũng như văn minh nhân
loại nói chung. Chính vì vậy, nghèo đói và chống nghèo đói luôn là vấn đề
quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam, đặc biệt là trên
địa bàn huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Có thể thấy, xóa đói giảm nghèo là một công cuộc lâu dài, cần có sự nhìn
nhận nhiều chiều, đánh giá tổng quát để nhìn nhận rõ những thành tựu và tiếp
tục phát huy cũng như nhận ra những khuyết điểm để có biện pháp khắc phục
kịp thời, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống của người dân, phát triển
kinh tế - xã hội của huyện Phú Tân nói riêng và của tỉnh An Giang nói chung.
Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Công cuộc xóa đói giảm
nghèo ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2013”
làm bài nghiên cứu khoa học của mình, nhằm khôi phục bức tranh xóa đói
giảm nghèo trên địa bàn huyện từ năm 1994 đến năm 2013 đồng thời rút ra
những bài học thành công hay chưa thành công để phục vụ cho những bước
phát triển tiếp theo của xóa đói giảm nghèo, từ đó giúp cho các nhà hoạch
định chính sách có những chính sách phù hợp với thực tiễn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề xóa đói giảm
nghèo ở các khía cạnh khác nhau. Nhưng đáng chú ý là một số công trình sau:
2
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, nhà xuất bản chính trị Quốc gia – Sự thật – Hà Nội -2006
2
- Đối tượng nghiên cứu là công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú
Tân, tỉnh An Giang
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu công cuộc xóa đói giảm nghèo
trên địa bàn huyện Phú Tân, gồm các xã, thị trấn: Long Hòa, Phú Lâm, Phú
Thạnh, thị trấn Chợ Vàm, Phú An, Phú Thọ, thị trấn Phú Mỹ, Phú Hưng,
Tân Hòa, Tân Trung, Phú Hiệp, Hòa Lạc, Phú Bình, Bình Thạnh Đông, Phú
Long, Phú Thành, Phú Xuân, Hiệp Xương, đặc biệt ở các xã, thị trấn như:
Phú Long, Tân Hòa, Phú Hưng, Phú Xuân, Phú Lâm, Chợ Vàm, Hiệp
Xương, Phú Thành.
+ Về thời gian: Tôi chọn giai đoạn từ năm 1994 – 2013 vì từ năm 1994
Đảng và Chính phủ đã có nhận thức về công cuộc xóa đói giảm nghèo và đề
ra nhiều chương trình, chủ trương, chính sách nhằm xóa đói giảm nghèo.
4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu quá trình xóa đói giảm nghèo ở một huyện để làm sáng rõ một
trong những thành tựu nổi bật nhất của công cuộc đổi mới ở nước ta.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những yếu tố tác động đến công cuộc xóa đói giảm nghèo ở
Huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Làm rõ quá trình xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Tân với các biện
pháp cụ thể của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể của quần chúng và nhất là của
người dân của huyện.
- Những thành tựu đạt được, những hạn chế của công cuộc xóa đói giảm
nghèo ở huyện Phú Tân.
4
- Tác động của công cuộc xóa đói giảm nghèo nghèo ở huyện đối với
- Đóng góp về nguồn tư liệu cho địa phương và cho những ai tìm hiểu về
xóa đói giảm nghèo ở nước ta.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn gồm có 3 chương như sau:
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
VÀ CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở ĐỊA PHƯƠNG TRƯỚC
NĂM 1994.
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN GIAI ĐOẠN 1994 - 2013.
6
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG VÀ
CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở ĐỊA PHƯƠNG
TRƯỚC NĂM 1994
1.1. Điều kiện tự nhiện
1.1.1. Vị trí địa lý
Phú Tân là huyện phía Đông Bắc trong tỉnh An Giang, là một trong bốn
huyện cù lao của tỉnh An Giang, với tổng diện tích tự nhiên 3 là 313,48 km2.
Phía Bắc giáo thị xã Tân Châu; phía Nam giáp huyện Chợ Mới; (ngăn cách
bởi sông Vàm Nao); phí Tây giáp huyện Châu Phú, thị xã Châu Đốc (ngăn
cách bởi sông Hậu); phía Đông giáp huyện Hồng Ngự, huyện Thanh Bình
tỉnh Đồng Tháp (ngăn cách bởi Sông Cái Vừng và sông Tiền).
Giao thông đường thủy ở Phú Tân phát triển rộng khắp; việc đi lại, vận
chuyển hàng hóa rất thuận lợi. Kinh, rạch Phú Tân được mở mang thành hệ
thống khá hoàn chỉnh vừa phục vụ sản xuất ngông nghiệp vừa là đê bao
phòng lũ lụt và cũng là tuyến giao thông đường thủy nối liền sông Tiền, sông
ra, trên địa bàn huyện đường bộ có tuyến tỉnh lộ 954 chạy nối liền huyện
Phú Tân với thị xã Tân Châu và thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tạo
điều kiện thuận lợi trong giao thương hàng hóa, góp phần quan trọng trong
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương .Từ đó, sự giao thông, vận chuyển
trên địa bàn huyện được thông suốt và nhộn nhịp hơn. Hiện nay, đường
tráng nhựa đến tận các trung tâm xã trong huyện tạo điều kiện thuận lợi
trong giao thương hàng hóa, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
1.1.2. Địa hình và đất đai
Phú Tân là huyện cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, được thành
lập muộn nhất trong tỉnh từ việc hợp nhất các xã vùng sâu, hẻo lánh của hai
huyện Tân Châu và Châu Phú.
Phú Tân là một cù lao nổi khá bằng phẳng, có độ cao từ 1 đến 2
mét.Đất đai Phú Tân rất màu mỡ nhờ được phù sa bồi đắp hàng năm và nó
8
cũng đã bồi đắp cho cây lúa Phú Tân đạt năng suất rất cao, với diện tích đất
nông nghiệp 24.587 ha, diện tích đất canh tác 24.538 ha (năm 1994) 4, bình
quân đất canh tác đầu người là 0,1 ha/người, đất thổ cư 2.048, đất bỏ hoang
2.486. Với vị trí nằm bên bờ sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Nao và hệ thống
kinh rạch chằng chịt, Phú Tân có nguồn thủy sản rất dồi dào. Theo Thái Văn
Kiểm, vào đầu thế kỷ XX, ở vùng đất Phú Tân nói riêng, An Giang nói chung
“có 93 loài cá, tôm, cua đang chen chúc bơi lội trên sông rạch”5.
Hằng năm, ở Phú Tân còn có mùa nước nổi, kể từ khi nước bắt đầu tràn
lên đồng ruộng vào tháng 9 và đến tháng 11 nước rút. Vào thời điểm nước rút,
nhiều loại cá đồng đổ ra sông “xanh biếc”, nhiều nhất là cá linh. Thuở xưa,
việc đánh bắt cá linh ở vùng đất Phú Tân được mô tả: “bến nào cũng có thả
bò, nhất là những đêm trăng, một bầu không khí từng bừng náo nhiệt: người
thôn dã đốt đuốc sáng ánh cả khúc sông Tiền … Giờ kéo bò thật nhộn nhịp vô
Phú An, Phú Thọ và Phú Mỹ.
Sông Hậu: Đoạn chảy qua huyện Phú Tân khoản 30 km. Sông Hậu là
nguồn cung cấp nước tưới, phù sa hầu hết đất đai sản xuất cho các xã ven
sông Hậu như Phú Hiệp, Hòa Lạc, Phú Bình, Bình Thạnh Đông, Tân Hòa
bằng hệ thống kênh mương. Bên cạnh đó, sông Hậu còn cung cấp nguồn thủy
sản chủ yếu của huyện Phú Tân.
Sông Vàm Nao: con sông nối liền giữa sông Tiền và sông Hậu, chảy
ven thị trấn Phú Mỹ, xã Tân Trung (huyện Phú Tân) và xã Kiến An, Mỹ Hội
Đông (huyện Chợ Mới). Trước kia, người Vệt gọi là rạch Vàm Nao bởi: “còn
hẹp, cạn, bãi bùn. Hai bên bờ cây cối um tùm, cảnh vật sầm uất tối tăm,
không ngớt vang lên những âm thanh rừng rú … Bây giờ những ngọn cây tre
rừng hay những cành cây lớn hai bên bờ sông giao tiếp nhau, người có thể
leo lên đu qua được. Lòng sông không sâu, rong, cỏ, nhất là lục bình từ
thượng nguồn đổ xuống tấp vào, cá tôm theo đó dựa vào đây sinh sống. Do
đó các loại cá lớn như cá sấu, cá mập, cá đao, rắn, … nom theo bắt mồi” 8.
Trải qua bao thời gian, bờ dưới phía Chợ Mới bị nước từ thượng lưu chảy
xuống mạnh (nhất là mùa lũ) làm cho đất đứt chân, lở sụt từng mảng lớn. Lâu
ngày đất càng bị sụt lở nhiều hơn, sâu rộng lớn hơn. Từ đó “rạch Vàm
Nao” được người ta gọi là “sông Vàm Nao”. Ngày nay, sông Vàm Nao
7
8
Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thống chí, Nxb Giáo dục, 1998, tr 52.
Nguyễn Hữu Hiệp, Sông núi quê nhà, Hội Văn học Nghệ thuật An Giang xuất bản, 1993, tr 18.
10
rộng lớn rất nhiều so với thế kỷ XVIII, chiều dài của sông 6,5 km, rộng
khoảng 700 mét, sâu khoảng 17 mét, có tác dụng làm cân bằng dòng chảy
bông súng, cà na...nó trở thành đặc sản của người dân miền tây nói chung và
người dân huyện Phú Tân nói riêng. Phú Tân liên tiếp chịu 2 lần lũ lớn vào
những năm 1991, 1994, nước lũ gây ngập nhà cửa, ruộng đồng, đường sá...
gây thiệt hại lớn về tài sản, tính mạng của nhân dân; gây khó khăn cho cuộc
sống và phát triển cơ sở hạ tầng của huyện. Đây là khó khăn cho Phú Tân
trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong xóa đói giảm nghèo.
Như vậy có thể nói khí hậu, tài nguyên đất, nước, thủy sản, khoáng sản...
vừa có mặt thuận lợi, vừa có mặt khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội nói
chung, cho xóa đói giảm nghèo nói riêng. Vấn đề đặt ra là phải vừa khai thác
lợi thế sẵn có, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên ban tặng để
đảm bảo khai thác lâu dài, đồng thời hạn chế, khắc phục khó khăn, tìm được
phương thức sống chung với lũ.
1.2. Điều kiện xã hội
1.2.1. Dân số và dân cư
Phú Tân là một huyện cù lao của tỉnh An Giang, cư dân sinh sống tập
trung ven hai bờ sông, kinh rạch. Người Việt (Kinh) chiếm đa số, còn lại là
người Chăm, người Hoa. Cùng với người Việt, người Hoa cũng đã đến định
cư và lập nghiệp tại vùng đất Phú Tân từ rất sớm. Đa phần người Hoa ở đây là
người Quảng Đông và Triều Châu, tập trung đông nhất ở thị trấn Chợ Vàm
(và Long Sơn trước đây). Họ theo tín ngưỡng đa thần, thờ Quan đế, ông Bổn,
ông Bắc, bà Thiên Hậu và đặc biệt nơi đây họ còn tôn thờ ông Bảo Sanh Đại
Đế như một vị thần bảo hộ cho trẻ thơ.
Người Hoa tập trung sinh sống chủ yếu ở thị trấn Chợ Vàm, còn người
Chăm tập trung chủ yếu ở xã Phú Hiệp (nay thuộc ấp Châu Phong, xã Long
Sơn, thị xã Tân Châu hiện nay). Đa số những hộ nghèo thường tập trung vào
người kinh và một bộ phận nhỏ người Hoa, Chăm. Trình độ, kinh tế văn hóa
12
Lao động trong độ tuổi năm 1994 là 128.971 người (chiếm 52,34% dân
số), tham gia lao động thường xuyên trong nền kinh tế 75.875 người (chiếm
58,83% số người trong độ tuổi lao động). Hàng năm có gần hơn 100 người
bước vào độ tuổi lao động. Đây là nguồn nhân lực dồi dào cho sự phát triển,
tuy nhiên vấn đề việc làm cho số lao động mới ngày càng tăng từ 50 đến 100
lao động một năm. Hộ nghèo ở nông thôn thì cứ một lao động trong độ tuổi phải
nuôi 1,5 đến 1,8 người ăn theo. Đây lại là một cản trở trong xóa đói giảm nghèo
ở huyện Phú Tân.
1.2.2. Vài nét về lịch sử hình thành của huyện Phú Tân
Vào thế kỷ XVIII, khi lưu dân người Việt bước chân đến khẩn hoang, lập
ấp thì vùng đất Phú Tân vẫn là vùng đất hoang vu, chưa được mở mang khai phá
bao nhiêu.
Năm 1757, tuy chúa Nguyễn lập đạo Châu Đốc, đạo Tân Châu (đóng tại
cù lao Giêng), khi ấy là đồn biên ải rất hoang tịch, một ít xóm người Việt phần
lớn là các gia binh. Để tự túc lương thực, binh lính khai khẩn đất đai chung
quanh các đồn bảo (bảo là chỗ phòng thủ giống như đồn nhưng mức độ nhỏ
hơn), rồi dần dần về sau mới có dân thường tự động đến khai hoang, lập nghiệp
trong vùng đất mới...Ở Phú Tân, cư dân đến định cư, trồng cấy sớm nhất là ven
sông Vàm Nao.
Những năm 1777-1789 là thời kỳ gay go của chúa Nguyễn trước sự tấn
công vũ bảo của Tây Sơn. Phan Văn Hậu (vốn là võ tướng của chúa Nguyễn
đang từng làm Vệ úy ở Thuận Hóa) phải chạy vào Nam, lúc đầu ở Gia Định.
Đến khi Gia Định thất thủ, ông cùng gia đình chạy về Tiền Giang, rồi tìm đến
bãi Tòng Sơn để lẫn tránh và cư trú tại đây. Cũng trong thời gian này dòng họ
Phan Văn Hậu đến vùng đất Phú Tân ngày nay khai phá10, dẫn đến sự ra đời của
thôn Mỹ Lương vào đầu thế kỷ XIX.
10
Phạm Bích Hợp, Làng Hòa Hảo xưa và nay, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1999, tr 19-21.
11
12
Trần Văn Dũng, Lịch sử khai phá vùng đất Châu Đốc 1757-1857, văn nghệ An Giang, 2005, tr45.
Địa chí An Giang, tập UBND tỉnh AG 2007, tr 216.
15
Đông Xuyên, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang. Lỵ sở huyện Đông Xuyên đặt tại
Long Sơn trên nền thành cũ của Bảo Tân Châu (nay còn địa danh Giồng
Thành).
Năm 1867, Thực dân Pháp chiếm An Giang, năm 1889 lập 2 tỉnh
Long Xuyên và Châu Đốc. Năm 1889, địa bàn Phú Tân thuộc tỉnh Châu
Đốc, nằm trong bốn xã của quận Tân Châu là Long Sơn, Phú Lâm, Phú An,
Hoà Hảo và bốn xã của quận Châu Phú là Hoà Lạc, Hưng Nhơn, Hiệp
Xương, Bình Thạnh Đông.
Tháng 12 năm 1968 huyện Phú Tân chính thức được thành lập với địa
bàn như trên. Tên Phú Tân xuất phát từ việc ghép tên của hai huyện Châu Phú
và Tân Châu.
Tháng 9 năm 1974, huyện Phú Tân nhập thêm một số xã của huyện
Hồng Ngự, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp để chia thành hai huyện Phú
Tân A và Phú Tân B. Phú Tân A gồm các xã: Long Sơn, Phú Lâm, Hoà Lạc,
Châu Giang, Long Thuận, Phú Thuận. Phú Tân B có các các xã: Phú An,
Hưng Nhơn, Hiệp Xương, Hoà Hảo, Bình Thạnh Đông, Tân Huề, Tân Quới
và Tân Long.
Năm 1976, lập lại tỉnh An Giang, giải thể 2 huyện Phú Tân A và Phú
Tân B, lập huyện mới Phú Tân gồm 10 đơn vị hành chính là các xã: Long
Sơn, Phú Lâm, Phú An, Hoà Hảo, Hưng Nhơn, Hiệp Xương, Hoà Lạc, Châu
Giang, Bình Thạnh Đông và thị trấn Mỹ Lương.
năm 1986 tỷ trọng khu vực I chiếm 65,84%, khu vực II chiếm 6,45% và khu vực
III chiếm 27,71%; đến năm 1994, khi nền kinh tế đã phát triển khá, tỷ trọng khu
vực I chiếm 54,08%, khu vực II chiếm 6,06% và khu vực III chiếm 29, 14%
trong tổng thể nền kinh tế13.
13
Niên giám thống kê huyện Phú Tân 1996 – 2000, tr 7.
17
Cùng với sự phát triển kinh tế, GDP bình quân đầu người tăng dần. Nếu
năm 1976 là 1,758 triệu đồng/người/năm; năm 1986 là 1,866 triệu; năm 1994
là 2,335 triệu.
Vừa thực hiện chính sách mới về dất đai, điều chỉnh cơ chế quản lý sản
xuất nông nghiệp, vừa cụ thể chủ trương phát triển “tam nông” của Tỉnh ủy:
năm 1986 diện tích gieo trồng 37,787 ha, trong đó lúa 33,778 ha; đến năm
1989, Phú Tân phục hóa 3.100 ha và đến năm 1990 xóa lúa 1 vụ trên toàn
diện tích, nâng tổng diện tích gieo trồng năm 1990 là 45,968 ha (hệ số vòng
quay 1,9 lần/năm).
Cùng với nông nghiệp, lĩnh vực công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, xây
dựng trải qua thời bao cấp, phục hồi và từng bước duy trì, phát triển theo cơ
chế mới. Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, giai đoạn 1986-1990 huyện
thực hiện đúng đắn các Quyết định 404, 217/HĐBT xóa cơ chế quản lý cũ quan
liêu bao cấp, giao quyền chủ động cho cơ sở sản xuất thực hiện hạch toán kinh
tế và kinh doanh XHCN. Nếu năm 1986 giá trị tổng sản lượng công nghiệp đạt
78,3 triệu (trong đó quốc doanh chiếm 12,8%), thì qua 3 năm 1987-1989, tổng
sản lượng đạt 13,9 tỷ.
Thời kỳ 1991-1994, thương nghiệp trên đà phát triển, hệ thống chợ nông
đến thu hoạch và sau thu hoạch. Đã cơ bản điện khí hóa khu tưới tiêu, đưa
bơm điện thay thế bơm dầu; đảm bảo năng lực sấy. Nghị quyết số 09-NQ/TU
của Tỉnh ủy về sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao bước đầu được
thực hiện thí điểm một số mô hình có kết quả14 ...
Kinh tế tập thể, nòng cốt là Hợp tác nông nghiệp tiếp tục được cũng cố,
năng chất15, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, góp phần tiết giảm chi phí và
nâng cao thu nhập cho nông dân, là đầu mối tổ chức lại sản xuất và thực hiện
14
Có 08 nhà lưới diện tích 4.500m2 trồng rau theo hướng an toàn; 02 nhà trồng nấm; 154 con bò lai, trong đó
92 con bò sinh sản. Có 5,6% diện tích sản xuất giống; ứng dụng 3 giảm – 3 tăng 92%, 1 phải – 5 giảm 55%;
296 trạm bơm điện tưới tiêu 95% diện tích; 176 máy gặt đập liên hợp; có 672 lò sấy với công suất đảm bảo
nhu cầu. Riêng xã Phú Thành thực hiện mô hình giảm phát thải khí nhà kính.
15
Toàn huyện có 19 Hợp tác xã (tăng 01 so với năm 2010), 58 tổ hợp tác (tăng 45% tổ hợp tác so với năm
2010); phục vụ 19.847 ha, chiếm 88,79% diện tích canh tác, với 1.600 xã viên, tổ viên có vốn góp cổ phần
19,546 tỷ đồng, giảm quyết việc làm trên 1.200 lao động.
19
các mô hình liên kết, bước đầu gắn với chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm theo
mô hình cánh đồng lớn.
Chăn nuôi ổn định, tăng quy mô đàn và giá trị sản xuất đạt kết hoạch.
Xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi có hiệu quả bước đầu như: nuôi bò lai, gia
súc, gia cầm, cá, lươn, ... thông qua hợp tác với doanh nghiệp, tăng suất đầu
tư, đã hình thành một số vùng nuôi mới theo hình thức chuyên canh, trang trại
và triển vọng lớn.
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới được triển khai
đồng bộ, huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị và được sự
thu trên địa bàn. Công tác quản lý thu chi ngày càng chặt chẽ, đảm bảo đúng
quy định.
Kết quả rõ nét là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng góp phần thúc đẩy kinh
tế - xã hội phát triển; thông qua việc huy động các nguồn lực đầu tư (trong đó
có việc phối hợp triển khai thực hiện Dự án Bắc Vàm Nao giai đoạn 2) đã
hoàn thành cơ bản láng nhựa lộ kênh Thần Nông, Đông sông Hậu, các tuyến
giao thông liên xã, giao thông thủy lợi nội đồng; cụm công nghiệp – tiểu thủ
công nghiệp Tân Trung đã giao đất cho 02 doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà
xưởng. Song song đó, từng bước hiện đại hóa khu hành chánh các xã; các cơ
quan cấp huyện, chợ xã, thị trấn, các công trình, nhà ở được xây dựng nhiều
và kiên cố.
Chương trình nước sạch được triển khai khá tốt, mạng lưới cung cấp
nước sạch được đầu từ phủ khắp trên các tuyến, cụm dân cư; vệ sinh môi
trường, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt, để môi trường ở khu dân cư, cơ sở
sản xuất kinh doanh, các khu chợ...được quan tâm thực hiện19.
Những thành tựu trong phát triển kinh tế ở cả 3 khu vực nông nghiệp,
công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng, thu nhập của
người dân ngày càng một tăng là tiền đề quan trọng cho công tác xóa đói
giảm nghèo ở Phú Tân có kết quả tốt. Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
17
Đến nay trên địa bàn huyện có 9 Ngân hàng, 2 Hợp tác xã tín dụng.
Tổng thu ngân sách nhà nước 5 năm (2011 – 2015) ước đạt 2.365 tỷ đồng, đạt 165,73%, trong đó thu kinh
tế trên địa bàn 807 tỷ đồng, đạt 107% so với nghị quyết tăng bình quân 11,3%/năm. Tổng chi ngân sách nhà
nước trong 5 năm đạt 2.170 tỷ đồng; vốn đầu tư toàn xã hội 4.600 tỷ đồng, đạt 119,14% so với kế hoạch.
19
Tỷ lệ hộ sử dụng nước máy 93,8%; xây dựng cầu tiêu hợp vệ sinh đạt trên 77%/hộ dân.
18
21
cấp quốc gia Chùa Giồng Thành ở Long Sơn là di tích lịch – văn hóa và chùa Mubarak ở Phú Hiệp là di tích
kiến trúc văn hóa.
22