Tiểu luận triết học
Đề tài:
Ý THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC TRONG CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY
CHƯƠNG 1
NGUỒN GỐC , BẢN CHẤT VÀ KẾT CẤU CỦA Ý THỨC
1. Ý thức là gì
Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo cho rằng ý thức có một cuộc sống riêng , tồn
tại tách biệt vật chất thậm chí quyết định , sinh ra vật chất .
Chủ nghĩa duy vật tầm thường cho rằng ý thức cũng là một dạng vật chất .
Chủ nghĩa duy vật cận đại đã thấy dược ý thức phản ánh thế giới khách
quan, đã chỉ ra được kết cấu của ý thức song lại chưa thấy nguồn gốc xã hội và
vai trò xã hội của ý thức .
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã kế thừa , phát triển , khắc phục những
quan niệm trên đưa ra định nghĩa khoa học về ý thức :
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào bộ não người
thông qua lao động và ngôn ngữ .
Ý thức là toàn bộ hoạt động tinh thần của con người bao gồm từ cảm giác
cho tới tư duy , lý luận trong đó tri thức là phương thức tồn tại của ý thức .
2. Nguồn gốc của ý thức : Ý thức có hai nguồn gốc là nguồn gốc tự nhiên và
nguồn gốc xã hội .
1.1. Nguồn gốc tự nhiên :
Trước Mác nhiều nhà duy vật tuy không thừa nhận tính chất siêu tự nhiên
của ý thức , song do khoa học chưa phát triển nên cũng đã không giải thích
đúng nguồn gốc và bản chất của ý thức . Dựa trên những thành tựu của khoa
học tự nhiên nhất là sinh lý học thần kinh , chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng
định rằng ý thức là một thuộc tính của vật chất nhưng không phải của mọi dạng
vật chất mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc
1
2
Tiểu luận triết học
thức . Phản ánh là một thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật chất .Phản ánh
được thể hiện trong sự tác động qua lại giữa các hệ thống vật chất ; đó là năng
lực giữ lại , tái hiện của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật
chất . Thí dụ : nước và oxi tác động vào kim loại gây ra sự han gỉ của kim loại
phản ánh đặc điểm của nước và oxi .
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất , tương ứng với sự
phát triển của các hình thức hoạt động của vật chất , thì thuộc tính phản ánh của
vật chất cũng phát triển . Hệ thống vật chất có tổ chức càng phức tạp thì năng
lực phản ánh càng cao .
Phản ánh đơn giản nhất ở trong giới vô sinh là phản ánh vật lí . Hình
thức phản ánh này được thể hiện qua những biến đổi cơ , lí , hoá dưới những
hình thức biểu hiện cụ thể như thay đổi vị trí , biến dạng và phá huỷ .
Giới hữu sinh có hệ thống tổ chức cao hơn so với giới vô sinh . Song
bản thân giới hữu sinh lại tồn tại với những trình độ khác nhau tiến hoá từ thấp
đến cao , từ đơn giản đến phức tạp nên hình thức phản ánh sinh vật cũng thể
hiện ở thực vật và các cơ thể động vật bậc thấp . Khác với phản ánh vật lý mang
tính thụ động , không chọn lọc , phản ánh kích thích đã có sự chọn lọc trước
những sự tác động của môi trường . Thí dụ hoa hướng dương hướng đến mặt
trời , rễ cây phát triển mạnh về phía có nhiều phân bón ...
Ở động cao cấp phản ánh được phát triển cao hơn do việc xuất hiện hệ
thần kinh . Tính cảm ứng ( năng lực có cảm giác ) là hình thức phản ánh nảy
sinh do những tác động từ bên ngoài lên cơ thể động vật và cơ thể phản ứng lại
trước tác động đó của môi trường . So với tính kích , tính cảm ứng hoàn thiện
hơn , nó được thực hiện trên cơ sở các quá trình thần kinh điều khiển mối liên
hệ giữa cơ thể với môi trường thông qua cơ chế phản xạ không điều kiện .
Phản ánh tâm lý , hình thức cao nhất trong giới động vật gắn liền với
Loài vật tồn tại nhờ vào những vật phẩm có sẵn trong tự nhiên dưới dạng
trực tiếp , còn loài người thì khác hẳn . Những vật phẩm cần thiết cho sự sống
thường không có sẵn trong tự nhiên . Con người phải tạo từ những vật phẩm
ấy . Chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giơí khách quan mà
4
Tiểu luận triết học
con người mới có thể phản ánh được thế giới khách quan , mới có ý thức về thế
giới đó .
Quá trình hình thành ý thức không phải là quá trình con người thu nhận
thụ động . Nhờ có lao động con người tác động vào các đối tượng hiện thực ,
bắt chúng phải bộc lộ những thuộc tính , những kết cấu , những quy luật vận
động của mình thành những hiện tượng nhất định và các hiện tượng này tác
động vào bộ óc người . Ý thức được hình thành không phải chủ yếu là do tác
động thuần tuý tự nhiên của thế giới khách quan vào bộ óc người , mà chủ yếu
là do hoạt động của con người cải tạo thế giới khách quan , làm biến đổi thế giới
đó . Quá trình hình thành ý thức là kết quả hoạt động chủ động của con người .
Như vậy , không phải ngẫu nhiên thế giới khách quan tác động vào bộ óc người
để con người có ý thức , mà trái lại, con người có ý thức chính vì con người chủ
động tác động vào thế giới thông qua hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới .
Con người chỉ có ý thức do có tác động vào thế giới . Nói cách khác , ý thức chỉ
được hình thành thông qua hoạt động thực tiễn của con người . Nhờ tác động
vào thế giới mà con người khám phá ra những bí mật của thế giới , ngày càng
làm phong phú và sâu sắc ý thức của mình về thế giới .
Trong quá trình lao động , ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh
nghiệm cho nhau . Chính nhu cầu đó đòi hỏi sự xuất hiện của ngôn ngữ .
Ph.Ăngghen viết : " Đem so sánh con người với các loài vật , người ta sẽ thấy rõ
rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và cùng phát triển với lao động , đó
ánh vượt trước ) , có thể tạo ra những ảo tưởng , những huyền thoại , những giả
thuyết , lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và khái quát cao , thậm chí ở một
số người có những khả năng đặc biệt như tiên tri , thôi miên , ngoại cảm , thấu
thị ... Những khả năng đó càng nói lên tính chất phức tạp và phong phú của đời
sống tâm lý - ý thức ở con người mà khoa học còn phải tiếp tục đi sâu nghiên
cứu để làm sáng tỏ bản chất của những hiện tượng kì lạ đó ...
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người , song đây là
phản ánh đặc biệt - phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới . Quá
trình ý thức là quá trình thống nhất của 3 mặt sau đây :
Một là , trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh . Sự trao
đổi này mang tính hai chiều , có định hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết .
7
Tiểu luận triết học
Hai là ,mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần
. Thực chất đây là quá trình sáng tạo lại hiện thực của ý thức theo nghĩa mã hóa
các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất .
Ba là , chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan , tức quá trình
hiện thực hóa tư tưởng , thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành
cái thực tại , biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất
ngoài hiện thực . Trong giai đoạn này con người lựa chọn những phương pháp ,
phương tiện , công cụ để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện
mục đích của mình . Điều đó càng nói lên tính năng động sáng tạo của ý thức .
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất . Sáng
tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh , theo quy luật và trong khuôn khổ
của sự phản ánh , mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần . Sự
sáng tạo của ý thức không đối lập , loại trừ , tách rời sự phản ánh , mà ngược lại
thống nhất với phản ánh , trên cơ sở phản ánh . Phản ánh và sáng tạo là hai mặt
thức cũng là quá trình con người tìm kiếm , tích luỹ tri thức về thế giới xung
quanh . Càng hiểu biết về sự vật thì ý thức về sự vật càng sâu sắc .
Tuy nhiên , sự tác động của thế giới bên ngoài đến con người không chỉ
đem lại hiểu biết về thế giới mà còn đem lại tình cảm của con người đối với thế
giới . Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh tồn tại , nó phản ánh
quan hệ giữa người với người và quan hệ giữa người với thế giới khách quan .
Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người và trở thành một trong
những động lực quan trọng của hoạt động con người . Tri thức có biến thành
tình cảm mãnh liệt mới sâu sắc và phải thông qua tình cảm thì mới biến thành
hành động thực tế , mới phát huy được sức mạnh của mình .
3.2. Theo chiều dọc
Đó là lát cắt theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người bao gồm các
yếu tố như tự ý thức , tiềm thức , vô thức ... Tất cả những yếu tố đó cùng với
những yếu tố khác quy định tính chất phong phú , phức tạp trong thế giới tinh
thần và hoạt động tinh thần của con người .
9
Tiểu luận triết học
Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh , con người đồng thời
cũng tự nhận thức bản thân mình , đó chính là tự ý thức . Như vậy , tự ý thức
cũng là ý thức , là một thành tố quan trọng của ý thức , song đây là ý thức về
bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài . Tự ý thức là
ý thức của con người về những hành vi , những tình cảm , tư tưởng , động cơ ,
lợi ích của mình , về địa vị của mình trong xã hội . Tự ý thức là ý thức hướng về
nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài . Thông qua
phản ánh thế giới xung quanh , con người ý thức mình như một cá nhân đang
tồn tại , đang hoạt động , có tư duy , có cảm giác , có các hành vi đạo đức và có
vị trí trong xã hội . Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân mà còn là tự ý
lần trở thành thói quen tới mức chúng vẫn tự động xảy ra ngay cả khi không có
sự chỉ đạo của lý trí . Những hành vi thuộc loại như vậy là những hành vi vô
thức , do vô thức điều khiển , nói cách khác , vô thức là những trạng thái tâm lý
ở chiều sâu , điều chỉnh sự suy nghĩ , hành vi , thái độ ứng xử của con người mà
chưa có sự truyền tin bên trong , chưa có sự kiểm tra , tính toán của lý trí . Vô
thức biểu hiện ra thành những hiện tượng khác nhau như bản năng ham muốn ,
giấc mơ , bị thôi miên , mặc cảm , sự lỡ lời , nói nhịu , trực giác ... Mỗi hiện
tượng vô thức có vùng hoạt động riêng , có vai trò , chức năng riêng , song tất
cả đều có một chức năng chung là giải toả những ức chế trong hoạt động thần
kinh vượt ngưỡng nhất là những ham muốn bản năng không được phép bộc lộ
ra và thực hiện trong quy tắc của đời sống cộng đồng . Nó góp phần quan trọng
trong việc lập lại thế cân bằng trong hoạt động tinh thần của con người mà
không dẫn tới trạng thái ức chế quá mức như ấm ức , sự dày vò mặc cảm ...
Nghiên cứu những hiện tượng vô thức giúp cho con người luôn luôn làm chủ
đời sống nội tâm của mình , có phương pháp kìm chế đúng quy luật những trạng
thái ức chế của tinh thần . Như vậy vô thức có vai trò và tác dụng nhất định
trong đời sống và hoạt động của con người . Nhờ vô thức , con người tránh
được tình trạng căng thẳng không cần thiết do thần kinh khi làm việc quá tải .
Nhờ vô thức mà những chuẩn mực con người đặt ra được thực hiện một cách tự
nhiên không có sự khiên cưỡng . Vô thức có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động
giáo dục thế hệ trẻ , trong hoạt động khoa học và nghệ thuật . Vì vậy không thể
phủ nhận vai trò của vô thức trong cuộc sống , nếu phủ nhận vô thức sẽ không
11
Tiểu luận triết học
thể hiểu đầy đủ và đúng đắn về con người .Tuy nhiên không nên cường điệu
hoá , tuyệt đối hóa và thần bí hoá vô thức . Không nên coi vô thức là hiện tượng
tâm lý cô lập , hoàn toàn tách biệt khỏi hoàn cảnh xã hội xung quanh và tuyệt
nhiên không phải nó không có liên hệ gì đến ý thức . Thực ra vô thức là vô thức
được các quy luật khách quan thì phải nhận thức vận dụng đúng đắn những quy
luật đó , phải có ý chí và có phương pháp để tổ chức hành động . Cho nên vai
trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người , hình thành mục tiêu ,
kế hoạch , ý chí , biện pháp cho hoạt động của con người . Ở đây ý thức , tư
tưởng có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng hay sai , thành công
hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định .
Vai trò tích cực của ý thức , tư tưởng không phải ở chỗ nó trực tiếp tạo ra
hay thay đổi thế giới vật chất mà là nhận thức thế giới khách quan và từ đó làm
cho con người hình thành được mục đích , phương pháp , biện pháp và ý chí cần
thiết cho hoạt động của mình . Sức mạnh của ý thức con người không phải ở
chỗ tách rời điều kiện vật chất , thoát ly hiện thực khách quan , mà biết dựa vào
điều kiện vật chất đã có , phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giới
khách quan một cách chủ động , sáng tạo với ý chí , nhiệt tình cao . Con người
phản ánh càng đầy đủ và chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới
có hiệu quả . Vì vậy phải phát huy tính năng động , sáng tạo của ý thức , phát
huy vai trò nhân tố con người để tác động cải tạo thế giới khách quan . Đồng
thời phải khắc phục bệnh bảo thủ , trì trệ , thái độ tiêu cực , thụ động , ỷ lại ,
ngồi chờ trong quá trình đổi mới hiện nay .
Tuy nhiên cơ sở cho việc phát huy tính năng động chủ quan là việc thừa
nhận và tôn trọng tính khách quan của vật , của các quy luật tự nhiên và xã hội .
Nếu như thế giới vật chất - với những thuộc tính và quy luật vốn có của nó - tồn
tại khách quan , không phụ thuộc vào ý thức con người thì trong nhận thức và
hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan , lấy thực tế khách
quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình . Chính vì vậy , Lênin đã nhiều
lần nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính
sách , không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược
cách mạng . Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan , nếu lấy ý chí áp đặt cho
13
Tiểu luận triết học
Trên phạm vi thế giới những tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới
đẫ làm cho lợi thế so sánh của mỗi quốc gia biến đổi không ngừng , làm thay
đổi mối quan hệ giữa các nước , trong đó mỗi nước đều có cơ hội to lớn để tìm
ra lợi thế so sánh mới cho mình và đều đứng trước những thách thức mới .
Trong điều kiện như vậy các nước phụ thuộc lẫn nhau rất mạnh mẽ .
Tiến bộ khoa học - kỹ thuật thực sự góp phần không nhỏ vào quá trình
quốc tế hoá đời sống kinh tế này , đã làm nảy sinh sự liên kết kinh tế đa dạng ,
nhiều chiều . Chính tiến bộ khoa học - kỹ thuật , một mặt đang làm thay đổi
những quan điểm trước đây về một nền kinh tế độc lập , tự chủ , hoàn chỉnh ,
dẫn thế giới đến một chỉnh thể đầy mâu thuẫn đòi hỏi phải có cách giải quyết
mới , mặt khác , dẫn đến sự cấu trúc lại nền kinh tế cả trên phạm vi thế giới lẫn
trong nội bộ từng nước .
Nền kinh thế giới chuyển dần sang cơ cấu phát triển theo chiều sâu , đặc
biệt là trong công nghiệp cơ cấu đó chuyển dịch khá nhanh về phía những
ngành có hàm lượng khoa học , công nghệ và trí tuệ cao , cơ cấu tiêu thụ giảm
theo hướng giảm các sản phẩm dùng nhiều lao động và nguyên liệu . Chính tiến
bộ khoa học - kỹ thuật đã làm cho vai trò của năng lượng và lợi thế so sánh của
nguyên liệu và sản phẩm sơ cấp trong công nghiệp giảm dần , do vậy mà mới có
tình trạng chỉ số giá cả các sản phẩm sơ cấp và nguyên liệu trên thị trường thé
giới giảm tói 40% so với đầu thập kỷ 80 . Cũng do sự chuyển dịch nhanh chóng
đó mà hiện nay đã có tới 11 trong số 28 ngành công nghiệp chính của thế giới
đang bị lu mờ , bị coi là đã xế chiều và đang bị các ngành mới ra đời lấn át hoặc
thay thế hoàn toàn . Trước tình hình đó để tránh thua thiệt những nước xuất
khẩu nguyên liệu và các sản phẩm sơ cấp - mà ở đây chủ yếu là các nước đang
phát triển - phải tìm cách nhanh chóng nâng cao năng lực biến đổi tài nguyên
thành sản phẩm tiêu dùng cao cấp , muốn như thế thì không có cách nào khác
hơn là phải tìm đến tiến bộ khoa học - kỹ thuật .
Như vậy , do tác động của tiến bộ khoa học - kỹ thuật mà yêu cầu phải đổi
mới về mặt kinh tế , từ cơ cấu sản xuất cho đến quan hệ giữa các quốc gia , trở
vào các vũ khí dựa trên những tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới nhất , thậm chí
có khi chỉ phụ thuộc vào một số ít người thuộc các ngành nghề khác nhau từ
nhà chính trị cho đến nhà sinh học , y học chuyên nghiên cứu các vi khuẩn gây
16
Tiểu luận triết học
bệnh , từ nhà vật lý hạt nhân cho đến người điều khiển tên lửa mang đầu đạn hạt
nhân . Những tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới nhất được sử dụng để sản xuất
các loại vũ khí giết người hàng loại .
Chẳng hạn , đứng về mặt kỹ thuật mà xét thì số vũ khí hiện có đã đủ để xoá
sạch hoàn toàn nhiều lần toàn bộ sự sống trên trái đất nếu chiến tranh hạt nhân
xảy ra . Chỉ riêng một tầu ngầm chiến lược , trong số hàng trăm tàu ngầm hiện
có , cũng mang theo tiềm năng huỷ diệt tương đương với mấy cuộc chiến tranh
thế giới thứ hai . trong cuộc chiến tranh mới đó không ai có thể tìm thấy phần
thắng . Trước nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới có sức huỷ diệt lớn
như vậy những người đứng đầu các quốc gia buộc phải đổi mới cách đánh giá ,
cách nhìn nhận các quan hệ chính trị quốc tế , cách giải quyết mâu thuẫn khu
vực và thế giới , đổi mới quan niệm về quốc phòng và an ninh mới . Nếu làm
ngược lại chắc chắn không thể tránh được những hậu quả ghê gớm khó lường
trước được .
Nhờ tiến bộ khoa học - kỹ thuật mà càng ngày người ta càng tạo ra được
nhiều loại nguyên liệu và vật liệu có thể thay thế những thứ từ trước đến nay chỉ
có thể dựa vào sự cung cấp của thiên nhiên . Vì vậy tiến bộ khoa học - kỹ thuật
đang làm cho ưu thế dưới dạng tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên trở nên
tương đối .
Tiến bộ khoa học - kỹ thuật một mặt tạo thời cơ thuận lợi cho các nước
này thoát ra khỏi sự lạc hậu và trì trệ nếu như biết định hướng đúng , nếu có một
tiềm năng nhất định nào đó về nguồn vốn và nguồn nhân lực có trình độ cần
thiết để tiếp thu các công nghệ tương đối hiện đại . Khi đã có những kĩ thuật và
trạng này là không đánh giá đúng đắn và kịp thời những tiến bộ khoa học - kỹ
thuật , thiếu những điều kiện cần thiết , thiếu một môi trường dân chủ thực sự
để cho con người phát huy mọi khả năng sáng tạo của mình . Có thể thấy rõ
điều này qua các chỉ số so sánh cụ thể giữa Liên Xô và Mĩ .
Việt Nam tiến hành đổi mới trong bối cảnh bị cô lập tương đối về kinh tế
trong một thời gian dài . Những hỗ trợ kinh tế và tài chính hầu như không đáng
kể , nguồn viện trợ vay của Liên Xô trước đây và các nước Đông Âu bị cắt . Sự
phong toả về kinh tế , sự lôi cuốn Việt Nam vào những xung đột chính trị và
18
Tiểu luận triết học
quân sự đã buộc đất nước phải tiêu hao nguồn lực mà lẽ ra có thể sử dụng cho
tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội .
Tuy nhiên bên cạnh đó chúng ta cũng có một số cơ may và thuận lợi : xu
thế hoà bình và hợp tác kinh tế quốc tế đang mở rộng , sự phát triển như vũ bão
của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại , vị trí địa lý thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế .
2.1.2. Công cuộc đổi mới và những thành tựu đã đạt được ở nước ta
Đại hội Đảng lần thứ VI ( tháng 12 / 1986 ) đã đưa ra những quan điểm cơ
bản trong quá trình đổi mới ở nước ta là :
_Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa
_Chuyển nền kinh tế vận hành từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung , quan
liêu , bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa .
_Mở cửa nền kinh tế , đa dạng hoá , đa phương hóa và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại trên cơ sở mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trong
khu vực và trên thế giới .
_Dân chủ hoá mọi mặt đời sống kinh tế xã hội , tiến tới đổi mới hành
Năm 1996 mức sống đã tăng lên nhưng còn một bộ phận dân cư ở nông thôn và
miền núi đời sống vẫn còn khó khăn .
Đổi mới , cải cách về kinh tế , nhưng không gây rối loạn về xã hội hoặc
đổ vỡ về chính trị như ở nhiều nước khác . Chính sự ổn định về chính trị và xã
hội là điều kiện hết sức quan trọng cho việc triển khai và đẩy tới công cuộc đổi
mới về kinh tế ; ngược lại những kết quả của công cuộc đổi mới về kinh tế lại là
tiền đề cho sự ổn định về xã hội và đổi mới về chính trị .
Ổn định chính trị do một chính Đảng lãnh đạo thu hút được quần chúng .
2.1.3. Những hạn chế của công cuộc đổi mới
Công cuộc đổi mới của nước ta đã thu được rất nhiều thành tựu to lớn
nhưng bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế :
20
Tiểu luận triết học
Xét trên tổng thể , nền kinh tế nước ta hiện vẫn chưa thoát rả khỏi tình
trạng tái sản xuất giản đơn và nhiều mặt còn mất cân đối nặng nề . Tổng sản
phẩm quốc dân tính theo đầu người mới đạt khoảng 200 USD .
Sự tăng trưởng kinh tế tuy đang phát triển , nhưng đặc biệt là trong lĩnh
vực nông nghiệp sự tăng trưởng đang bị giới hạn , nếu không có đầu tư lớn về
khoa học và công nghệ . Sự tăng trưởng vừa qua chủ yếu là do đổi mới cơ chế ,
do hỗ trợ đầu tư nước ngoài và do đầu tư của các công trình lớn trước đây được
huy động . Năng suất trong nông nghiệp chủ yếu là do tăng diện tích , tăng vụ
do đổi mới cơ chế và luật đất đai kích thích người lao động làm việc có năng
suất . Do thiếu sự đầu tư của khoa học - kỹ thuật nên sản phẩm nông nghiệp
chất lượng thấp . Trong khi đó tốc độ tăng dân số vẫn chưa được kiềm chế nên
thu nhập đầu người kể cả lương thực , thực phẩm thấp , làm cho tích luỹ nội bộ
chậm .
Năng suất và chất lượng sản phẩm trong công nghiệp cũng chưa có sản
Khuôn khổ pháp lý và trình độ quản lý từ vĩ mô và vi mô theo cơ chế , thị
trường còn nhiều bất cập , thiếu đồng bộ . Đặc biệt sự tương đồng luật pháp của
ta với các nước trong kinh doanh còn cách xa nhau . Sự hiểu biết và thi hành
luật pháp khó khăn , nhũng nhiễu . Thủ tục hành chính phiền hà làm ách tắc luật
lệ , chính sách , cơ chế quản lý và gây ra những tiêu cực xã hội .
Kết cấu hạ tầng còn quá lạc hậu . Mạng lưới giao thông vận tải , thông tin
liên lạc chưa được mở mang , chất lượng lại thấp . Hiện hay chỉ có 12% đường
bộ được đánh giá là đường tốt , gần 50% đướng sắt không đảm bảo kỹ thuật .
Sân bay bến cảng chưa đáp ứng yêu cầu . Điện thoại bình quân 1000 dân mới có
1,8 máy , ngang hàng với những nước lạc hậu nhất trong khu vực .
Mặc dầu kim ngạch xuất khẩu tăng đáng kể trong mấy năm qua , song
nhìn chung quy mô của kinh tế đối ngoại còn nhỏ , hiệu quả còn thấp , chưa đáp
ứng được yêu cầu hỗ trợ đắc lực cho công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của đất
nước .
Tỷ lệ tăng dân số vẫn ở mức bùng nổ , điều đó vừa làm triệt tiêu mọi cố
gắng và thành quả đạt được trong phát triển kinh tế , vừa làm gay gắt thêm các
vấn đề xã hội vốn đã rất gay gắt .
22
Tiểu luận triết học
Trình độ dân trí nói chung thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
và so với nhiều nước khác trên thế giới . Chất lượng giáo dục và đào tạo còn
chưa cao , cả nước còn khoảng 12% ( 8 triệu người ) mù chữ . Ở nước ta , tính
bình quân trong 1000 người dân mới có 2 sinh viên . Tay nghề đội nhũ lao động
chưa cao , trong công nghiệp cấp bậc thợ bình quân chưa đạt 3,5/7 bậc . Ở nông
thôn , trong số 25 triệu lao động chỉ có 1,5 triệu có trình độ phổ thông trung học
; 0,67 triệu lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp và 0,25 triệu có trình
độ cao đẳng , đại học và trên đại học . Trong thương nghiệp có gần 50% lao
tượng tiêu cực đáng lo ngại . Chi phí học tập cao hơn so với khả năng thu nhập
của dân nhất là của người nghèo . Giáo dục và đào tạo ở vùng sâu , vùng sa còn
nhiều khó khăn . Công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng . Phát luật và kỷ
cương xã hội không nghiêm . Trật tự và an toàn xã hội chưa được bảo đảm ,
thậm chí có mặt còn xấu di , đạo đức bị xói mòn . Nạn tham nhũng và các tệ nạn
xã hội khác nhau như lừa đảo , trốn thuế , lậu thuế , làm hàng giả , cá cược , số
đề , mê tín , dị đoan ... đang phát triển .
Các hoạt động khoa học và công nghệ chưa đáp ứng tốt yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá , xây dựng và bảo vệ Tổ quốc . Sự phát
triển của khoa học chưa thực sự gắn với những nhiệm vụ thực tiễn cuộc sống
đặt ra , đồng thời nhiều phương hướng phát triển kinh tế - xã hội còn thiếu ,
thậm chí không có nhiều dự án kinh tế - xã hội trở thành không hiện thực , ảnh
hưởng trực tiếp đến nhịp độ phát triển kinh tế , xã hội nói chung mà còn ảnh
hưởng trực tiếp đến sự phát triển của khoa học , kỹ thuật nói riêng .
Môi trường đô thị , nơi công nghiệp tập trung và một số vùng nông thôn
bị ô nhiễm ngày càng nặng .
2.1.4.Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới ở nước ta
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học và sản xuất hiện đại, khoa
học ngày càng có vị trí quan trọng trong sự phát triển của xã hội . Có tình hình
đó là vì trong điều kiện hiện nay khoa học ngày càng tác động mạnh mẽ , sâu
sắc đến sự phát triển của kinh tế - xã hội . Khoa học không chỉ phát hiện ra
những quy luật của hiện thực mà còn chỉ ra những con đường khả dĩ để vận
dụng các quy luật ấy vào thực tiễn cuộc sống vì lợi ích con người .
24
Tiểu luận triết học
Trong lĩnh vực kinh tế ,có thể nói rằng , điều kiện khách quan cho sự liên
kết giữa khoa học , kỹ thuật và sản xuất là khoa học ngày càng trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp . Trong điều kiện hiện nay , sự liên kết giữa khoa học ,