B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
----- -----
HONG NGC SN
PHáT TRIểN NĂNG LựC Kĩ THUậT
CHO HọC SINH TRONG DạY NGHề SửA CHữA XE MáY TạI
TRUNG TÂM GIáO DụC THƯờNG XUYÊN Và HƯớNG NGHIệP
HUYệN Vũ THƯ, TỉNH THáI BìNH
Chuyờn ngnh:
LL v PPDH b mụn K thut cụng nghip
Mó s:
60 14 01 11
LUN VN THC S GIO DC HC
Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS NGUYN TRNG KHANH
H NI 2015
Lời cám ơn
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới :
Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung tâm Thông tin - Thư viện và
các Thầy, Cô ở khoa Sư phạm kĩ thuật - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
GDTX-HN
: Giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp
MỤC LỤC
M
ĐẦU .......................................................................................................... 1
II. MỤC
CH NGHI N CỨU ........................................................................ 2
III. KH CH THỂ, ỐI T ỢNG, PH M VI NGHI N CỨU ....................... 2
IV. GI THUY T KHOA HỌC ...................................................................... 3
V. NHIỆM VỤ NGHI N CỨU ....................................................................... 3
VI. PH
NG PH P NGHI N CỨU .............................................................. 4
VII. C U TR C LU N V N ......................................................................... 4
CHƢƠNG I CƠ S
LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT CHO HỌC SINH HỌC NGHỀ SỬA
CHỮA XE MÁY .............................................................................................. 5
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU VỀ N NG LỰC KĨ THU T . 5
1.4.3. Thực trạng về phát triển năng lực kĩ thuật trong dạy nghề sửa chữa xe
máy .................................................................................................................. 22
Kết luận chương 1 .......................................................................................... 24
CHƢƠNG II PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT CHO HỌC SINH
TRONG DẠY NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY ............................................ 25
2.1 NGHỀ SỬA CHỮA XE M Y Ở TRUNG TÂM GDTX-HN HUYỆN VŨ
TH , TỈNH TH I BÌNH. .............................................................................. 25
2.1.1. Mục tiêu của nghề sửa chữa xe máy ..................................................... 25
2.1.2. Nội dung, chương trình của nghề sửa chữa xe máy .............................. 25
2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn trong dạy nghề sửa chữa xe máy theo
định hướng phát triển năng lực ....................................................................... 26
2.1.3.1. Thuận lợi ............................................................................................ 26
2.1.3.2. Khó khăn ............................................................................................ 26
2.2. XÂY DỰNG BÀI TO N KĨ THU T VỀ SỬA CHỮA XE M Y ....... 27
2.2.1. Xây dựng bài toán kĩ thuật qua nguồn tài liệu ...................................... 27
2.2.2. Xây dựng bài toán kĩ thuật qua ý kiến chuyên gia kĩ thuật .................. 33
2.3. SỬ DỤNG BÀI TO N KĨ THU T VỀ SỬA CHỮA XE M Y THEO
ỊNH H ỚNG PH T TRIỂN N NG LỰC KĨ THU T CHO HỌC SINH 49
2.3.1. Sử dụng bài toán kĩ thuật trong khâu nghiên cứu kiến thức mới .......... 49
2.3.2. Sử dụng bài toán kĩ thuật trong khâu củng cố, hoàn thiện và mở rộng
kiến thức .......................................................................................................... 51
2.3.3. Sử dụng bài toán kĩ thuật trong khâu kiểm tra, đánh giá ...................... 54
Kết luận chương II .......................................................................................... 58
CHƢƠNG III KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ ...................................... 59
3.1. MỤC
CH, NỘI DUNG VÀ PH
được nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng được sự phát triển của nền
kinh tế thì ảng và nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.
ại hội IX của
ảng đã chỉ rõ "Phát triển giáo dục và đào tạo là một
trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững". Trong sự phát triển
và đổi mới giáo dục thì công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh đang là
một vấn đề cần phải chú trọng đổi mới.
Dạy nghề phổ thông là một phần trong công tác giáo dục hướng
nghiệp, nhiệm vụ của dạy nghề phổ thông là giúp các em học sinh làm quen
với một nghề mà các em lựa chọn, nội dung chương trình của một nghề phổ
thông nêu lên một cách ngắn gọn những tri thức, kĩ năng cơ bản của dạy nghề,
có chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng và thực hành tổng hợp gắn với sản phẩm
cụ thể theo chương trình quy định cho trường trung học cơ sở và trung học
phổ thông.
1
Thực tiễn việc dạy nghề sửa chữa xe máy trong chương trình dạy nghề
phổ thông tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp (GDTX –
HN) huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cho thấy, đa số giáo viên chỉ quan tâm tới
truyền thụ kiến thức mà ít chú trọng đến việc phát triển năng lực cho người
học, trong đó có năng lực kĩ thuật (NLKT). Do đó việc hình thành và phát
triển NLKT trong dạy nghề sửa chữa xe máy còn rất nhiều hạn chế, dẫn đến
chất lưọng đào tạo chưa cao. Với đặc thù môn học, ngoài tìm hiểu cấu tạo,
nguyên lí làm việc, điều quan trọng nhất đối với nghề sửa chữa xe máy là
3 Phạm vi nghiên cứu
Biện pháp phát triển NLKT cho học sinh trong dạy nghề sửa chữa xe
máy thông qua xây dựng và sử dụng BTKT tại Trung tâm GDTX- HN huyện
Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu trong quá trình dạy nghề sửa chữa xe máy, giáo viên tăng cường
sử dụng BTKT cùng với sự kết hợp đổi mới phương pháp dạy học theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh thì chất lượng dạy học sẽ được nâng
lên, học sinh sẽ có khả năng giải quyết vấn đề thực tế tốt hơn.
V NHIỆM VỤ NGHI N CỨU
1. Nghiên cứu lí luận về quá trình phát triển NLKT cho người học trong
quá trình dạy học.
2. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phát triển NLKT cho học sinh trong
quá trình dạy nghề sửa chữa xe máy. Trong đó tập trung nghiên cứu lí luận về
BTKT, cách xây dựng và sử dụng chúng trong dạy học.
3. Khảo sát thực tế việc dạy và học nghề sửa chữa xe máy tại Trung tâm
GDTX-HN huyện Vũ Thư, tỉnh Tháí Bình.
4. Soạn thảo một số BTKT và sử dụng chúng trong dạy học nhằm phát triển
NLKT cho học sinh.
5. Kiểm nghiệm và đánh giá các đề xuất để kiểm chứng giả thuyết của
đề tài.
3
VI PHƢƠNG PHÁP NGHI N CỨU
1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: gồm các phương pháp phân tích,
trong việc hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động và
năng lực giải quyết vấn đề.
Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực của người
học đã và đang là vấn đề thời sự của nhiều quốc gia trên thế giới. Nghiên cứa
của Boyatzis (1995) và các đồng sự về thực trạng giáo dục và đào tạo trên thế
giới và đã chỉ ra những tồn tại: (1) quá nặng về phân tích, không định hướng
thực tiễn và hành động; (2) thiếu và yếu trong phát triển kĩ năng quan hệ qua
lại giữa các cá nhân; (3) thiển cận và hạn hẹp, không tiếp cận tổng thể những
giá trị và tư duy của nó; (4) không giúp người học làm việc tốt trong các
nhóm làm việc.
Nhất trí với ý kiến trên, Rausch, Sherman và Washbush (2001) cho
rằng: “Thiết kế một cách cẩn thận các chương trình giáo dục và đào tạo chú
trọng vào kết quả đầu ra và dựa theo năng lực có thể xem là một giải pháp tự
nhiên để giải quyết hầu hết, nếu không phải là tất cả những nhược điểm này”.
Paprok (1996) khi tổng kết các lí thuyết về tiếp cận dựa trên năng lực
trong giáo dục, đào tạo và phát triển đã chỉ ra 5 đặc tính cơ bản của tiếp cận
5
này là: (1) dựa trên triết lí người học là trung tâm; (2) thực hiện những đòi hỏi
của chính sách; (3) định hướng cuộc sống thật; (4) linh hoạt và năng động; (5)
những tiêu chuẩn của năng lực được hình thành rõ ràng.
Dạy học theo tiếp cận năng lực còn có những ưu thế như cá thể hoá việc
học, phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh cá nhân; chú trọng vào kết quả đầu ra,
xác định rõ ràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn đo lường thành
quả. Vì vậy, tiếp cận năng lực còn là sơ sở, là công cụ để xây dựng nhiều
chương trình đào tạo khác nhau. Các chương trình này có thể thực hiện theo ba
bước: (1) xác định các năng lực; (2) phát triển chúng; (3) đánh giá chúng.
Lí luận dạy học bộ môn đã vận dụng sáng tạo những cơ sở khoa học
phương pháp phân tích yếu tố để hiểu biết cấu trúc của NLKT. Từ năm 1928,
J.M.Cox đã tách ra một số yếu tố trong cấu trúc của NLKT là yếu tố (m).
ó
là khả năng hiểu và sử dụng các nguyên tắc và mối quan hệ cơ khí. Năm
1953, E.Koussy đã chứng minh sự có mặt của yếu tố không gian (k) và xác
định đó là yếu tố quan trọng nhất trong cấu trúc của NLKT. Cũng vào năm
này, W.P.Alexander đã tách ra yếu tố gọi là trí thông minh thực hành (f), ông
đã đối lập (f) với ngôn ngữ trừu tượng. NLKT còn gắn với tư duy hình thức,
nhưng yếu tố chỉ có sự hiểu biết thuần tuý dưới dạng lý thuyết, ngôn ngữ và
kiến thức kĩ thuật mà không gắn nó với thực tế thì cũng không giải quyết
được những vấn đề nảy sinh về kĩ thuật khi gặp phải. Trong một số tài liệu,
khi phân nhóm các yếu tố trong NLKT, các nhà tâm lí học Liên Xô đã xác
định NLKT gồm ba yếu tố: Yếu tố chủ đạo là TDKT và tưởng tượng kỹ thuật;
yếu tố điểm tựa là óc quan sát và trí nhớ trực quan; yếu tố bổ trợ là sự hứng
thú và sự khéo tay.
Như vậy, việc nghiên cứu về NLKT đã có nhiều tiến bộ, bổ sung, hỗ trợ
cho nhau, để ngày càng làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm này. Tuy nhiên
hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất, điều đó chứng tỏ sự phức tạp,
biểu hiện đa dạng trong cấu trúc các thành phần của NLKT.
7
1 1 2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực kĩ thuật ở trong nƣớc
Còn ở Việt Nam, trong những năm gần đây, các nhà tâm lí học và tổ tâm
lí học lao động thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cũng đã quan tâm
nghiên cứu về NLKT. Dựa vào kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học,
giáo dục học ở nước ngoài, trên cơ sở phân tích đặc điểm, tâm - sinh lí của
1.2. MỘT SỐ KH I NIỆM C B N
1 2 1 Khái niệm về năng lực kĩ thuật
1.2.1.1. Khái niệm năng lực kĩ thuật
Hiện nay có khá nhiều quan điểm, quan niệm và cách phát biểu khác
nhau về năng lực kĩ thuật.
Theo quan điểm của Tổ tâm lí học lao động- viện KHGDVN: NLKT là
sự tương xứng giữa một bên là tổ hợp những thuộc tính tâm- sinh lí của con
người và bên kia là những yêu cầu của một dạng hoạt động kĩ thuật cụ thể
đang đặt ra cho người sản xuất…. NLKT phải được thể hiện trong kết quả
hoạt động. Tuy nhiên NLKT không chỉ là yêu cầu của một dạng hoạt động,
mà phải là bản thân của hoạt động kĩ thuật với đầy đủ cấu trúc của nó. Sự tổ
hợp ở khái niệm trên là sự kết hợp, phối hợp các thuộc tính tâm lí, sinh lí của
cá nhân thành một NLKT trong hoạt động kĩ thuật.
Khái niệm NLKT trong luận văn được hiểu và cụ thể hóa như sau:
NLKT là tổ hợp những thuộc tính tâm sinh lý của con người, giúp cho con
người có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề trong hoạt động kỹ thuật.
1.2.1.2. Cấu trúc của năng lực kĩ thuật
Năng lực nói chung và NLKT nói riêng đều có cấu trúc phức tạp và việc
xác định nó cũng chưa đồng nhất. Hiện nay, nhiều tài liệu của nước ta chủ yếu
xác định cấu trúc năng lực theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu ở Liên
Xô cũ.
ó là khi nghiên cứu cấu trúc của NLKT, người ta phân tích, phân
nhóm các yếu tố trong NLKT để tìm ra các đặc điểm, các dấu hiệu, các thuộc
9
tính, các mặt biểu hiện của NLKT. Theo đó, có thể phân tích cấu trúc của
1.2.1.3. Đặc điểm của năng lực kĩ thuật
Một cách khái quát, NLKT có 8 đặc điểm đặc trưng sau:
(1) Năng lực kĩ thuật mang tính hệ thống, đó là hệ thống của nhiều yếu
tố có liên hệ và quan hệ tương tác chặt chẽ nhau, các yếu tố này còn tương tác
với các yếu tố khác của hệ thống năng lực chung.
(2) Năng lực kĩ thuật mang tính tổng hợp, khái quát, phản ánh đầy đủ,
trọn vẹn hoạt động kỹ thuật của con người về các mặt: hứng thú, động cơ,
mục đích, phương pháp, phương tiện, kết quả, chất lượng, tri thức, kĩ năng,
thái độ.
(3) Năng lực kĩ thuật mang tính tích hợp, mỗi cấp độ của năng lực kỹ
thuật là một mục tiêu tích hợp, đồng thời lại là phương tiện, là nền tảng để
phát triển mức cao hơn của năng lực kĩ thuật.
(4) Năng lực kĩ thuật mang tính thực tiễn: hướng vào giải quyết các vấn
đề cụ thể của thực tiễn, có mục đích rõ ràng, nhằm đem lại các giá trị vật chất,
tinh thần.
(5) Năng lực kĩ thuật vừa ổn định, bền vững, vừa vận động, phát triển,
phản ánh trình độ của khoa học, công nghệ đương đại.
(6) Năng lực kĩ thuật mang tính cá thể, tính độc đáo, phụ thuộc vào đặc
điểm tâm sinh lí và xu hướng cá nhân.
(7) Năng lực kĩ thuật có tính chất chuyên ngành phụ thuộc vào đặc
điểm riêng của từng ngành nghề kĩ thuật, công nghệ và phụ thuộc vào động
cơ nghề nghiệp.
(8) Năng lực kĩ thuật là mục tiêu đạt được ở người học, là cơ sở, là
thước đo đánh giá về trình độ, kiến thức, kĩ năng, khả năng tư duy, phương
pháp và định hướng hành động, khả năng hoạt động, giải quyết vấn đề, chất
lượng và hiệu quả công việc.
11
12
- BTKT có thể xuất hiện tức thời và đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng.
- Ngoài ra BTKT còn có một đặc điểm riêng nữa, đó là quá trình giải
thường có thêm khâu đánh giá, lựa chọn kết quả tối ưu hoặc hợp lí nhất. Việc
đánh giá không chỉ căn cứ vào chất lượng của kết quả mà cón tính đến các
yếu tố khác như: cách giải, tính kinh tế, tính khả thi,…
Nhờ những đặc điểm này mà BTKT có tác dụng rất lớn trong việc phát
triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho người giải.
Trong dạy học, BTKT góp phần quan trọng trong việc phát triển NLKT cho
người học.
1.2.2.3. Phân loại bài toán kĩ thuật
Dựa vào đặc điểm, vai trò, mục đích sử dụng… của BTKT trong quá trình
dạy học có thể phân loại BTKT theo một số dấu hiệu đặc trưng sau: [12; tr81]:
* Dựa vào đặc điểm của dữ kiện bài toán:
- Bài toán thực tế: Là bài toán xuất hiện trong thực tế nghiên cứu, sản
xuất… thường là không đủ hoặc thiếu hoàn toàn dữ kiện.
- Bài toán lí tưởng: Là bài toán có đủ dữ kiện, điều kiện để có thể giải
quyết được.
* Dựa vào chức năng sư phạm (mục đích lí luận dạy học) của bài toán:
- Bài toán dùng trong khâu nghiên cứu kiến thức mới.
- Bài toán dùng trong khâu củng cố - hoàn thiện – mở rộng kiến thức.
- Bài toán dùng trong khâu kiểm tra – đánh giá.
- Bài toán dùng trong khâu rèn luyện kĩ năng…
* Dựa vào lĩnh vực hoạt động kĩ thuật:
- Bài toán thiết kế kĩ thuật.
- Bài toán công nghệ
- Bài toán nhận dạng kĩ thuật.
- Bài toán chuẩn đoán kĩ thuật.
học, vào trình độ người học và nhất là vào mục đích, điều kiện sử dụng
14
BTKT, người giáo viên nên tập trung nghiên cứu xây dựng và sử dụng các bài
toán thuộc loại lí tưởng, định tính, vận dụng tương tự và linh hoạt, thuộc các
lĩnh vực hoạt động kĩ thuật khác nhau.
1.2.2.4. Yêu cầu của bài toán kĩ thuật
Các BTKT được lựa chọn hoặc xây dựng để sử dụng trong quá trình
dạy học cần phải thoả mãn các yêu cầu sau đây [12; tr 83]:
- Phù hợp với mục đích và nội dung dạy học.
- Có tính khái quát cao, có thể làm cơ sở cho nhiều tình huống, vấn đề
tương tự.
-
a dạng về cách giải, có thể huy động tối đa tính năng động và sáng
tạo của người học.
- Có thể sử dụng linh hoạt để tổ chức cho người học giải quyết khi
nghiên cứu kiến thức mới, củng cố - hoàn thiện – mở rộng kiến thức, rèn
luyện kĩ năng hoặc kiểm tra – đánh giá.
- Khi giải bài toán, người học nắm được kiến thức mới, được rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo cả về năng lực nhận thức và năng lực hành động thực tiễn.
- ảm bảo tính khả thi, tính vừa sức, lôi cuốn, hấp dẫn người học.
- Thuận tiện cho việc kiểm tra – đánh giá khả năng nắm vững kiến thức,
mức độ phát triển tư duy của người học.
1.3. PH T TRIỂN N NG LỰC KĨ THU T TRONG D Y NGHỀ SỬA
CHỮA XE M Y THÔNG QUA SỬ DỤNG BÀI TO N KĨ THU T
1 3 1 Các biện pháp phát triển năng lực kĩ thuật
mất sự tự tin.
c) Tổ chức các hoạt động kĩ thuật cho người học :
Trong quá trình dạy học kĩ thuật, hoạt động kĩ thuật không chỉ đơn
thuần là các giờ lí thuyết hay thực hành. Giáo viên nên tăng cường tổ chức
các hoạt động kĩ thuật khác như ra bài tập, thi thiết kế kĩ thuật, thi tay nghề kĩ
thuật, tổ chức nghiên cứu và trưng bày sản phẩm v.v… Chính các hoạt động
16
này không chỉ tạo hứng thú kĩ thuật mà còn giúp người học phát huy tính sáng
tạo, hình thành và rèn luyện sự khéo léo,… Nhờ đó mà năng lực kĩ thuật của
người học được phát triển.
d) Tổ chức cho người học hình thành và rèn luyện thao tác vật chất:
Cấu trúc của năng lực gồm hai yếu tố tâm lí và sinh lí nên có thể thấy
cấu trúc của NLKTncũng gồm hai yếu tố chủ yếu là tư duy kĩ thuật và kĩ năng
thao tác vật chất (còn gọi là hoạt động chân tay). Chính vì vậy, để phát triển
NLKT cho người học thì một trong những biện pháp quan trọng là phải tổ
chức và tạo điều kiện cho người học hình thành và rèn luyện các thao tác vật
chất đạt đến mức kĩ năng và kĩ xảo. Cần phân chia hoạt động kĩ thuật ra các
bước, các công đoạn, các phần việc cụ thể để người học hình thành và rèn
luyện kĩ năng.
e) Hướng dẫn người học vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn:
Khoa học kĩ thuật phát triển và ngày càng có mặt ở khắp nơi, trong mọi
lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội. Chính vì thế, ngày càng có nhiều vấn đề
kĩ thuật nảy sinh trong thực tiễn. Trong dạy học, giáo viên nên gợi ý để người
học quan sát và nêu các tình huống, vấn đề trong thực tiễn rồi hướng dẫn
người học tìm cách giải quyết. Mặt khác, chính bản thân giáo viên cũng phải
quan sát và phát hiện ra các vấn đề thực tiễn để đưa vào bài giảng. ây chính
là những BTKT sinh động có sức hấp dẫn người học cao.
động mới. “Kết quả trực tiếp của việc giải các bài toán này là chủ thể nhận
được những cái mới và độc đáo đối với họ ở sản phẩm của hoạt động trí tuệ,
hoặc lĩnh hội nắm vững được các phương pháp làm việc mới, hoặc cùng lúc
đạt được cả hai”. Sử dụng BTKT trong dạy học sẽ giúp giờ học thêm sinh
động, thu hút sự chú ý của người học, đưa người học từ vị trí thụ động ngheghi sang chủ động nghiên cứu: suy nghĩ, phát biểu, tranh luận… tự giành lấy
kiến thức (dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên).v.v…
18
Vì thế có thể nói sẽ khó hoặc không thể phát triển NLKT cho người học nếu
như trong quá trình dạy học không sử dụng hoặc không biết sử dụng các BTKT.
Có thể tóm tắt vai trò của các BTKT trong dạy học kĩ thuật như sau:
- Tăng hứng thú nhận thức, rèn luyện tính tích cực, độc lập, kiên nhẫn
và tính khoa học.
- Góp phần trang bị kiến thức mới cho người học.
- Giúp cho người học nắm vững kiến thức một cách hệ thống.
- Phát triển tư duy kĩ thuật.
- Hình thành và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo trong thao tác vật chất.
1.3.2.2. Xây dựng bài toán kĩ thuật trong dạy nghề sửa chữa xe máy
Việc lựa chọn BTKT hoặc xây dựng BTKT mới để sử dụng trong dạy
học có nhiều cách khác nhau. Trong đề tài này, tác giả tự xác định một kiểu
xây dựng BTKT mới, đó là tìm hiểu các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn để từ
đó xây dựng thành bài toán. Theo cách xây dựng này, có 3 cách như sau:
a) Cách thứ nhất: Nghiên cứu tài liệu, tìm các bài toán, vấn đề được nêu
trong đó (đôi khi trong tài liệu không có lời giải mà chỉ nêu vấn đề, hiện
tượng. Trong trường hợp này, người xây dựng phải tự tìm lời giải qua tài liệu
chuyên môn, dựa vào vốn kinh nghiệm thực tiễn hoặc tham khảo ý kiến
chuyên gia như các kĩ sư, các thợ sửa chữa xe máy).
b) Cách thứ hai: Phỏng vấn, trao đổi với chuyên gia kĩ thuật xe máy như kĩ