BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC
CHO BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI
BỆNH VIỆN QUÂN Y 105-TỔNG CỤC HẬU CẦN
NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2016
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC
CHO BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI
BỆNH VIỆN QUÂN Y 105-TỔNG CỤC HẬU CẦN
NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : Tổ chức quản lý dược
MÃ SỐ
: CK.60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
Chương 1: TỔNG QUAN ............................................................................... 3
1.1. Kê đơn thuốc trong chu trình sử dụng thuốc ......................................... 3
1.1.1. Một số quy định trong việc kê đơn thuốc nội trú ............................. 5
1.1.2. Thực hành kê đơn thuốc tốt của WHO ............................................. 7
1.2. Các chỉ số về kê đơn thuốc điều trị nội trú ............................................. 9
1.2.1. Các chỉ số kê đơn .............................................................................. 9
1.2.2. Các chỉ số cơ sở .............................................................................. 10
1.2.3. Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện ................................................ 10
1.2.4. Các chỉ số lựa chọn sử dụng trong bệnh viện ................................. 10
1.3.Thực trạng về thực hiện quy chế kê đơn thuốc và chỉ định thuốc tại các
bệnh viện ở nước ta trong những năm gần đây..................................... 11
1.3.1. Về thực hiện quy chế kê đơn theo thông tư 23/2011/TT-BYT và
thông tư 21/2013/TT-BYT............................................................ 11
1.3.2. Về thực trạng chỉ định thuốc........................................................... 14
1.4. Một vài nét và thực trạng chỉ định thuốc trong điều trị nội trú tại bệnh
viện quân y 105 ..................................................................................... 18
1.4.1. Mô hình, chức năng,nhiệm vụ của khoa Dược ............................... 18
1.4.2. Hoạt động khám bệnh,chữa bệnh tại Bệnh viện Quân y 105 ......... 20
1.4.3. Vài nét về thực trạng chỉ định thuốc trong điều trị nội trú tại bệnh viện,
những hạn chế trong kê đơn của bệnh viện .................................. 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 23
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu ........................................... 23
2.2. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 23
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ........................................................................ 23
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu ................................................ 26
2.3. Biến số nghiên cứu ................................................................................ 27
2.4. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 33
2.5. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ................................................ 33
Bảng 3.9. Ghi quy định sử dụng thuốc .......................................................... 38
Bảng 3.10. Ghi thực hiện quy chế chuyên môn .............................................. 39
Bảng 3.11. Ghi chỉ định thời gian dùng thuốc ............................................... 40
Bảng 3.12. Thực hiện quy chế khi sử dụng thuốc gây nghiện ........................ 40
Bảng 3.13.Thực hiện quy chế khi sử dụng thuốc hướng tâm thần và tiền chất ... 41
Bảng 3.14. Tần xuất phân bố bệnh theo 400 bệnh án nội trú ........................ 42
Bảng 3.15. Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý ..................... 43
Bảng 3.16. Tỷ lệ thuốc theo đường dùng ........................................................ 45
Bảng 3.17. Tỷ lệ thuốc theo nguồn gốc .......................................................... 46
Bảng 3.18. Chỉ định sử dụng thuốc corticoid, vitamin và khoáng chất,thuốc tiêm
truyền, kháng sinh uống, kháng sinh đường tiêm, kháng sinh dùng
ngoài .............................................................................................. 47
Bảng 3.19. Chỉ định thuốc kháng sinh theo đường dùng................................ 48
Bảng 3.20. Số kháng sinh trong 1 bệnh án ..................................................... 49
Bảng 3.21. Số ngày nằm viện trung bình ........................................................ 50
Bảng 3.22. Số ngày sử dụng kháng sinh trung bình ....................................... 51
Bảng 3.23. Số thuốc sử dụng trung bình cho 1 người bệnh trong 1 ngày ...... 51
Bảng 3.24. Sử dụng kháng sinh trung bình cho 1 người bệnh trong 1 ngày .. 52
Bảng 3.25. Chi phí tiền thuốc trung bình ........................................................ 52
Bảng 3.26. Thuốc tiêm sử dụng cho 1 người bệnh trong 1 ngày .................... 53
Bảng 3.27. Bình quân tiền thuốc của 1 người bệnh ........................................ 53
Bảng 3.28. DMTBV và DMTCY đối với bệnh án nội trú ............................. 54
Bảng 3.29. Tỷ lệ BA có tương tác thuốc......................................................... 54
Bảng 3.30. Các tương tác thuốc trong bệnh án ............................................... 55
DANH MỤC HÌNH VẼ,ĐỒ THỊ
Hình 1.1. Sơ đồ chu trình sử dụng thuốc. ......................................................... 3
Danh mục thuốc bệnh viện
DMTCY
Danh mục thuốc chủ yếu
DMTTY
Danh mục thuốc thiết yếu
DV-BH
Dịch vụ bảo hiểm
GN-HTT
Gây nghiện –hướng tâm thần
HĐT và ĐT
Hội đồng thuốc và điều trị
HSBA
Hồ sơ bệnh án
KHTH
Kế hoạch tổng hợp
nặng cho nền kinh tế xã hội, thậm chí có thể gây hậu quả lớn về sức khỏe cho
cộng đồng. Vì vậy cần phải giám sát, quản lý chặt chẽ về chất lượng đồng
thời đảm bảo việc sử dụng thuốc hợp lý an toàn và hiệu quả
Bệnh viện Quân Y105 là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Tổng Cục
Hậu Cần, ngoài nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho bộ đội thì bệnh
viện còn làm nhiệm vụ thu dung cấp cứu, điều trị nhân dân nơi đóng quân,
nhân dân các vùng lân cận. Để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của bộ đội
và nhân dân ngày càng cao, cùng với sự phát triển của nền y học nước nhà vì
vậy bệnh viện cũng đã có rất nhiều bước cải tiến trong chăm sóc sức khỏe và
điều trị cho bệnh nhân song qua thực tế cho thấy ngoài một số việc đã làm
được vẫn còn một số tồn tại như việc sử dụng thuốc ở một số nơi, có lúc, còn
chưa được đảm bảo an toàn, hợp lý, hiệu quả, điều này được phán ánh qua thực
trạng kê đơn, chỉ định thuốc,vấn đề đặt ra đối với Bệnh viện Quân y 105 là giải
quyết những tồn tại ra sao, bên cạnh các văn bản liên quan đến vấn đề kê đơn
1
đã và đang được triển khai. Nhằm tìm ra câu trả lời chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Phân tích thực trạng kê đơn thuốc cho bệnh nhân điều trị nội trú tại
Bệnh viện Quân y 105-Tổng Cục Hậu Cần năm 2015’’ với 2 mục tiêu sau:
1. Phân tích việc thực hiện quy định hành chính trong bệnh án tại Bệnh
viện Quân y 105 năm 2015.
2. Phân tích thực trạng chỉ định thuốc điều trị nội trú tại Bệnh viện
Quân y 105 năm 2015.
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất ý kiến đóng góp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng thuốc tại bệnh viện.
2
+ Nếu bệnh nhân đang sử dụng đồng thời quá nhiều thuốc thì cần cân
nhắc để tạm ngừng những loại thuốc chưa thật sự cần thiết. Cần đánh giá có
tương tác bất lợi không trước khi kê đơn hoặc phát thuốc;
+ Kiểm tra và hỏi bệnh nhân về những thuốc bệnh nhân đang dùng;
+ Hiểu rõ tính chất dược lý, tương tác, cơ chế chuyển hóa và ADR của
thuốc.Chỉ nên kê đơn những thuốc đã biết đầy đủ thông tin;
+ Thuốc phải ghi tên gốc với thuốc đơn thành phần;
+ Chọn thuốc hợp lý cho người bệnh cụ thể, hợp lý về giá và hiệu quả;
+ Chú ý thận trọng với từng cơ địa, trạng thái bệnh lý, tuổi, giới tính các
bất thường về gen của người bệnh;
+ Liều hợp lý;
+ Chỉ định dùng thuốc đúng:đúng thời gian, khoảng cách giữa các lần
dùng thuốc;
+ Thường xuyên tham khảo, cập nhật thông tin về thuốc và tương tác thuốc;
+ Hạn chế, thận trọng trong các phối hợp nhiều thuốc hoặc dùng thuốc
hỗn hợp nhiều thành phần;
4
+ Thận trọng khi kê đơn những thuốc dễ xảy ra tương tác, đặc biệt là các
tương tác của thuốc với thức ăn, với rượu;
+ Thận trọng với những phản ứng có hại của thuốc [2].
1.1.1. Một số quy định trong việc kê đơn thuốc nội trú
Theo thông tư 23/2011/TT-BYT “Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ
sở y tế có giường bệnh”
Khi khám bệnh, thầy thuốc phải khai thác tiền sử dùng thuốc, tiền sử dị
ứng liệt kê các thuốc mà người bệnh đã dùng trước khi nhập viện trong vòng
24 giờ và ghi diễn biến lâm sàng của người bệnh vào HSBA (giấy hoặc điện
tử theo quy định của BYT để chỉ định thuốc và ngừng sử dụng thuốc).
* Thầy thuốc chỉ định cho người bệnh cần đảm bảo các yêu cầu sau:
c)Trường hợp người bệnh đã lựa chọn thuốc và liều thích hợp, thời gian
chỉ định thuốc tối đa không quá 02 ngày (đối với ngày làm việc), không quá
03 ngày (đối với ngày nghỉ).
* Lựa chọn đường dùng thuốc cho người bệnh;
a) Căn cứ vào tình trạng người bệnh,mức độ bệnh lý, đường dùng của
thuốc để ra y lệnh đường dùng thuốc thích hợp.
b) Chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc
khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng được yêu cầu điều trị hoặc
với thuốc chỉ dùng đường tiêm.
c) Thầy thuốc phải thông báo tác dụng không mong muốn của thuốc cho
điều dưỡng chăm sóc theo dõi và người bệnh (hoặc gia đình người bệnh).
Theo dõi đáp ứng của người bệnh khi dùng thuốc và xử lý kịp thời các tai
biến khi dùng thuốc. Báo cáo phản ứng có hại của thuốc cho khoa dược ngay
sau khi xảy ra.
6
Ngoài ra người kê đơn thuốc, phải luôn cập nhật thông tin về các loại
thuốc và phương pháp điều trị để quyết định phương pháp điều trị thích hợp
với từng người bệnh nhân nhằm đạt mục tiêu mong muốn [3].
1.1.2. Thực hành kê đơn thuốc tốt của WHO
* Quá trình thực hiện kê đơn, điều trị hợp lý
- Xác định vấn đề bệnh lý của bệnh nhân
- Xác định mục tiêu điều trị: Bạn muốn đạt được gì sau điều trị?
- Xác định tính phù hợp của phương pháp điều trị riêng của bạn: Kiểm
tra tính hiệu quả và an toàn.
- Bắt đầu điều trị.
- Cung cấp thông tin, hướng dẫn và cảnh báo.
* Hướng dẫn lựa chọn thuốc
- Xây dựng mối quan hệ tốt giữa bệnh nhân và bác sĩ: được xác lập trên
cơ sở tôn trọng cảm xúc và quan điểm của bệnh nhân, sự thông cảm và mong
muốn đối thoại với bệnh nhân để giúp người bệnh trở thành đối tác trong quá
trình điều trị.
- Dành thời gian để cung cấp thông tin, hướng dẫn và cảnh báo cho
người bệnh.
+ Hiệu quả của thuốc: người thầy thuốc cần phải giải thích cho người
bệnh các câu hỏi như tại sao cần thuốc này. Triệu chứng nào sẽ mất đi và triệu
chứng nào còn lại sau khi dùng thuốc, khi nào thuốc bắt đầu có tác dụng? điều
gì xảy ra nếu dùng thuốc không đúng cách hoặc không dùng thuốc?
+ Tác dụng phụ: cần cảnh báo cho người bệnh những tác dụng phụ nào
có thể xảy ra, cách thức để nhận biết tác dụng phụ và cần làm gì nếu tác dụng
phụ xảy ra.
+ Hướng dẫn cách sử dụng: Người bệnh cần phải nắm rõ và cụ thể thuốc
đã được kê đơn cần được dùng như thế nào, khi nào thì dùng thuốc, liều điều
8
trị kéo dài trong bao lâu,thuốc phải được bảo quản như thế nào, và cách xử lý
một số thuốc còn thừa không sử dụng hết.
+ Cảnh báo: khi nào thì không được uống thuốc, liều tối đa bao nhiêu, tại
sao cần dùng đủ thuốc cho cả đợt điều trị.
+ Tư vấn trong tương lai: khi nào thì đến khám lại (hoặc không), trong
trường hợp nào thì cần đến khám lại sớm hơn, bác sĩ cần biết thông tin gì cho
lần khám tới
+ Mọi thứ đã rõ ràng chưa: Một vấn đề quan trọng mà người thầy thuốc
cần phải biết là những thông tin bệnh nhân xem đã hiểu rõ chưa.Trường hợp
cần thiết thầy thuốc có thể yêu cầu bệnh nhân nhắc lại các thông tin quan
trọng nhất, cuối cùng là hỏi xem bệnh nhân còn thắc mắc gì không [4].
- Tỷ lệ phần trăm dành cho vitamin;
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị;
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe;
- Tỷ lệ phần trăm cơ sở y tế tiếp cận được với các thông tin thuốc khách quan;
1.2.4. Các chỉ số lựa chọn sử dụng trong bệnh viện
- Số ngày nằm viện trung bình;
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê nằm trong danh mục thuốc bệnh viện;
- Số thuốc trung bình cho một người bệnh trong một ngày;
- Số kháng sinh trung bình cho một người bệnh trong một ngày;
- Số thuốc tiêm trung bình cho một người bệnh trong một ngày;
- Chi phí thuốc trung bình cho một người bệnh trong một ngày;
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh được phẫu thuật có sử dụng kháng sinh dự
phòng trước phẫu thuật hợp lý;
- Số xét nghiệm kháng sinh đồ được báo cáo của bệnh viện;
10
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh nội trú có biểu hiện bệnh lý do các phản
ứng có hại của thuốc có thể phòng tránh;
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh nội trú tử vong do các phản ứng có hại của
thuốc có thể phòng tránh được [5].
1.3. Thực trạng về thực hiện quy chế kê đơn thuốc và chỉ định thuốc tại
các bệnh viện ở nước ta trong những năm gần đây
Ở một số bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương, tuy đội ngũ cán bộ y tế có
trình độ chuyên môn tốt hơn, trang thiết bị y tế hiện đại hơn nhưng tình trạng sử
dụng thuốc không hợp lý vẫn đang đang tồn tại, tình trạng lạm dụng kháng sinh
vẫn diễn ra khá phổ biến trong các cơ sở y tế. Tại nhiều bệnh viện chưa thực sự
phát huy vai trò của các hướng dẫn điều trị trong thực hành kê đơn, kể cả đối với
những bệnh có hướng điều trị rất rõ ràng.
(55%), thời gian sử dụng thuốc (30%), nên tác giả Huỳnh Huyền Trung đã
đưa ra nghiên cứu một số giải pháp can thiệp chính đó là kê đơn điện tử trong
đó chú trọng đến việc xây dựng quy trình trước khi áp dụng công nghệ thông
tin đã làm cho: sai lỗi thông tin bệnh nhân giảm 64,4%; sai sót chỉ định và
thuốc: sai sót không kê đơn theo mã ICD giảm 99,6%, sai sót kê đơn theo tên
hoạt chất, theo tên biệt dược giảm 40,4%; sai sót hướng dẫn thời điểm dùng
thuốc giảm 20,5% [19].
Với một nghiên cứu khác việc thực hiện các thủ tục hành chính tương
đối đầy đủ tuy nhiên vẫn còn thấy tình trạng ghi đủ chuẩn đoán chỉ đạt 93,8%
còn xảy những lỗi mắc phải là lỗi viết tắt, viết ký hiệu chẩn đoán bệnh, tất cả
hồ sơ bệnh án đều không ghi rõ thời điểm dùng thuốc, chỉ có 2,1% số bệnh án
chỉ định dùng kháng sinh tiêm có phiếu thử phản ứng, không có hồ sơ bệnh án
nào làm xét nghiệm vi sinh tìm vi khuẩn gây bệnh và thử kháng sinh đồ [22].
Còn tại bệnh viện Hữu Nghị lỗi sai phạm chủ yếu do chưa đánh số thứ tự
ngày sử dụng của các thuốc gây nghiện, hướng tâm thần, tiền chất để theo dõi
trong bệnh án chiếm tỷ lệ cao nên theo nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Hiền
đã áp dụng một số giải pháp trong quản lý thuốc gây nghiện, hướng tâm thần,
12
tiền chất và ghi hồ sơ bệnh án trong bệnh viện kết quả là tỷ lệ sai phạm trong
ghi hồ sơ bệnh án giảm từ 86,7% xuống còn 62% [13].
Theo đánh giá tại bệnh viện Nông Nghiệp năm 2013 cho thấy tỷ lệ làm
xét nghiệm vi sinh tìm vi khuẩn gây bệnh và thử kháng sinh đồ chỉ chiếm
1,82% số bệnh nhân sử dụng kháng sinh nhưng chủ yếu cho các bệnh nặng
như:nhiễm khuẩn, viêm phổi nặng, nhiễm trùng máu..còn các trường hợp
khác không tiến hành, mặt khác qua khảo sát cho thấy 100% bệnh án ghi đầy
đủ liều dùng 1 lần và liều dùng 24 giờ nhưng việc hướng dẫn sử dụng vẫn là
chung chung, chưa ghi một cách cụ thể đặc biệt những thuốc mà thời gian
dùng thuốc ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, vì vậy tỷ lệ bệnh án ghi đầy đủ
quy chế chuyên môn trong chỉ định thuốc trong bệnh án đó là các trường hợp
không tuân thủ theo quy chế chủ yếu do thiếu phiếu phản ứng với kháng sinh
tiêm chiếm 60,3%,thiếu phiếu xét nghiệm vi sinh tìm vi khuẩn và thử kháng
sinh đồ là 50,5%, thực hiện không đúng quy chế sử dụng thuốc gây nghiện là
66,7%,thực hiện không đúng quy chế thuốc hướng tâm thần và tiền chất
chiếm 88,9%. Điều này làm giảm hiệu quả điều trị của bệnh nhân [23].
1.3.2. Về thực trạng chỉ định thuốc
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương và cộng sự với sự lan truyền
các bệnh qua đường tiêm truyền, BYT và WHO đã có nhiều khuyến cáo nhằm
đảm bảo an toàn trong tiêm truyền một trong các giải pháp chỉ sử dụng thuốc
tiêm khi thật sự cần thiết bởi tỷ lệ và tỷ trọng các thuốc dạng tiêm truyền cao
hơn các thuốc dạng uống, tại tất cả các bệnh viện cao nhất là các bệnh viện
tuyến trung ương, tỷ lệ giá trị sử dụng thuốc tiêm 61,6% đến 74,7%, với bệnh
viện tuyến tỉnh từ 46,1% đến 65,3%, tại tuyến huyện từ 41,1% đến 51,2%,
việc lạm dụng thuốc tiêm, truyền là một trong các nguy cơ gây nhiều rủi ro do
tiêm phơi nhiễm các bệnh HIV, viêm gan B, cho cả nhân viên y tế và người
bệnh [16].
Tỷ lệ bệnh nhân nội trú tại BV Phụ Sản Trung Ương năm 2014 có sử
dụng thuốc tiêm, truyền cao chiếm 87,75%, sử dụng kháng sinh chiếm tới
89,75%, trong đó kháng sinh tiêm chiếm 47%, tỷ lệ có vitamin thấp chỉ 8,5%, đa
số chỉ sử dụng 1 kháng sinh chiếm 91,36%, có 2 kháng sinh chiếm 7,81%, có 3
14
kháng sinh chiếm tỷ lệ rất thấp 0,83%, tỷ lệ HSBA có thuốc ngoài DMTCY
chiếm 21,25% [28].
Tại bệnh viện C Thái Nguyên thuốc kháng sinh trong một bệnh án nội
trú 1,47 thuốc và xảy ra tương tác ở 90 bệnh án chiếm 30%,trong đó có 4 cặp
tương tác ở mức độ nặng (3,8%), 96 cặp tương tác ở mức độ trung bình chiếm
91,4%, 5 cặp tương tác ở mức độ nhẹ [10].
nhưng chỉ có 1/106 bệnh nhân được dùng kháng sinh đường uống, chi phí tiền
thuốc trung bình/ bệnh án là 1.519.224 đồng, chi phí tiền thuốc/ngày là
121.906 đồng [20]. Tại BV đa khoa Phố Nối năm 2014 chi phí tiền thuốc
trung bình/ bệnh án là 1.431.700 đồng [11].
Ngày điều trị trung bình tại BV đa khoa Thanh Sơn năm 2012 là 5,82 ngày
và số thuốc trung bình là 6,28 thuốc [16]. BV đa khoa huyện Phù Ninh năm
2012 số ngày điều trị 6,8 thuốc, trung bình số thuốc/bệnh án là 5,3 thuốc[16], tại
BV A Thái Nguyên năm 2013 số ngày nằm viện trung bình là 13,2 ngày, ngày
điều trị dài nhất là 30 ngày và ngắn nhất là 1 ngày [20], tại BV đa khoa Phố Nối
năm 2014 số ngày số ngày điều trị trung bình là 5,07 ngày, ngày điều trị dài nhất
là 29 ngày và ngắn nhất là 1 ngày [11].
Các nghiên cứu tại BV đa khoa Phù Ninh năm 2012 nhóm thuốc nhiễm
khuẩn, ký sinh trùng chiếm 27,1% [17]. BV đa khoa Bắc Giang năm 2011 tỷ lệ
các nhóm thuốc nhiễm khuẩn, ký sinh trùng chiếm 34,05% [9]. BV A Thái
Nguyên năm 2013 nhóm thuốc nhiễm khuẩn, ký sinh trùng chiếm 39,5% [20].
Bên cạnh đó nhóm thuốc vitamin và khoáng chất chiếm tỷ lệ cao về số lượt
bệnh nhân được chỉ định sử dụng thuốc nhưng lại chiếm tỷ lệ giá trị thấp như
BV A Thái Nguyên năm 2013 là 2,16% [20], BV đa khoa Phù Ninh năm 2012
là 4,7% [17].
Theo kết quả nghiên cứu của bệnh viện đa khoa Kiến Thụy số bệnh án
có chỉ định thuốc corticoid chiếm 38,8%,chỉ định thuốc tiêm truyền chiếm tỷ
lệ 7,6%, tỷ lệ thuốc kháng sinh đường uống là 14,1%, tỷ lệ kháng sinh đường
tiêm là 69,7%, số ngày sử dụng kháng sinh trung bình của 1 bệnh nhân điều
trị nội trú là 8,4 ngày, số thuốc sử dụng trung bình là 4,7 thuốc, số kháng sinh
trung bình là 1,4 khoản mục kháng sinh, chiếm tỷ lệ 29,5% so với số thuốc
trung bình của 1 người bệnh trong 1 ngày, chi phí tiền thuốc bình quân là
239,2 nghìn đồng [22].
16