BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐINH XUÂN HẬU
TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐINH XUÂN HẬU
TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102
Tác giải luận văn
Đinh Xuân Hậu
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN
:
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
TAND
:
Tòa án nhân dân
UBHC
:
Ủy ban hành chính
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG
CỦA CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH ................... 7
1.1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH
QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG ................................................................................... 7
1.1.1 Khái niệm chính quyền địa phƣơng....................................................................... 7
1.2.1 Tính chất đặc điểm của chính quyền địa phƣơng................................................ 9
1.1.3. Vị trí vai trò của chính quyền địa phƣơng .........................................................13
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH
QUYỀN ĐÔ THỊ ........................................................................................... 16
1.2.1. Khái niệm, vị trí, tính chất, vai trò đô thị...........................................................16
1.2.2. Đặc điểm, Phân loại của đô thị........................................................... 20
1.2.3 Tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh ....................30
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 45
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH
QUYỀN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC ......................... 46
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VỀ TỔ CHỨC, HOẠT
ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH QUA CÁC
THỜI ..................................................................................................................................46
Yên tinh gọn về tổ chức, rõ về chức năng, hiệu quả trong hoạt động ...... 93
3.3.3 Giải pháp đối với phân cấp quản lý, thẩm quyền cho chính quyền
thành phố Vĩnh yên. .................................................................................... 103
3.4.4 Giải pháp tăng cƣờng công tác kiểm tra thanh tra, giám sát việc
thực hiện pháp luật ở thành phố Vĩnh Yên .............................................. 106
Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................ 109
KẾT LUẬN .................................................................................................. 110
1
Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, việc cải cách bộ máy nhà nƣớc và cải cách nền
hành chính nhà nƣớc đƣợc Đảng và nhà nƣớc ta đặc biệt quan tâm.Các chủ chƣơng,
chính sách và các nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật đƣợc đƣa ra bƣớc đầu đã
phần nào đáp ứng đƣợc yêu cầu của việc cải cách.Tuy vậy cải cách hành chính tiến
hành còn chậm, thiếu kiên quyết và hiệu quả còn thấp. Tình hình này do có nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Về mặt khách quan khi chuyển từ
cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa, còn nhiều vấn đề lý luận về chức năng nhà nƣớc, xây dựng bộ máy nhà nƣớc
nói chung, bộ máy chính quyền địa phƣơng nói riêng, đặc biệt bộ máy chính quyền
thành phố trực thuộc tỉnh chƣa đƣợc làm sáng tỏ, đòi hỏi cần phải tìm tòi, thử
nghiệm và qua thực tiễn để khẳng định. Về mặt chủ quan chƣa có quyết tâm cao,
còn bị những lực cản trong quá trình cải cách hành chính từ phía các cán bộ, công
chức nhà nƣớc ở nhiều cấp, nhiều ngành.
Hiến pháp 1992 đã đƣợc sửa đổi bổ sung một số điều và hàng loạt Luật về
tổ chức bộ máy nhà nƣớc đã đƣợc ban hành, Hiến pháp 2013 đã đƣợc sửa đổi bổ
sung nhƣng vẫn chƣa có những thay đổi lớn và cơ bản về mô hình tổ chức bộ máy
nhà nƣớc, tuy có một số thay đổi, nhƣng nhìn chung vẫn nhƣ trƣớc đây. Luật Tổ
chức chính quyền địa phƣơng đƣợc Quốc hội thông qua năm 2015 đã có mục dành
nhanh.Việc đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh là vấn
đề cấp bách để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý, giải quyết các vấn đề phức tạp
của quản lý ở thành phố trực thuộc tỉnh nƣớc ta hiện nay. Từ đó đòi hỏi cần phải
xây dựng chính quyền thành phố trục thuộc tỉnh phù hợp và chuyên biệt là một xu
thế tất yếu.
Hiện nay, Đảng và Nhà nƣớc ta đã và đang rất quan tâm đến việc hoàn
thiện, đổi mới mô hình tổ chức, phƣơng thức quản lý của chính quyền địa phƣơng
các cấp nói chung cũng nhƣ của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh nói riêng.
Nghị quyết trung ƣơng 3 (khóa VII) đã xác định: “Nghiên cứu phân biệt sự khác
nhau giữa hoạt động của Hội đồng nhân dân và nhiệm vụ quản lý hành chính đô thị
với hoạt động của Hội đồng nhân dân và nhiệm vụ quản lý hành chính ở nông
3
thôn...”; Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu “Điều chỉnh cơ cấu
chính quyền địa phƣơng cho phù hợp với những thay đổi chức năng, nhiệm vụ.
Phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn để
tổ chức bộ máy phù hợp” và “Tổ chức hợp lý chính quyền địa phƣơng, phân định
lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo”; Nghị quyết trung
ƣơng 5 (khóa X) đặt ra mục tiêu: Tổ chức hơp lý chính quyền địa phƣơng, phân
biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn và tổ
chức chính quyền đô thị phải đảm bảo tính thống nhất và liên thông trên địa bàn...”.
Ban Chỉ đạo Trung ƣơng xây dựng Đề án thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô
thị cũng đã đƣợc thành lập theo Quyết định số 192/QĐ-TTg, ngày 25/02/2012 của
Thủ tƣớng Chính phủ.
Đây là những vấn đề đƣợc quan tâm, nhƣng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
Cho đến nay, vẫn chƣa có một mô hình cụ thể, khả thi trong bối cảnh vai trò, vị trí
của đô thị, cấu trúc của chính quyền đô thị chƣa đƣợc hoàn thiện, chƣa phù hợp.
Tỉnh Vĩnh Phúc đƣợc tái lập từ tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Vĩnh Yên trở lại là
tỉnh lỵ, thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc, Chính quyền Thành phố Vĩnh yên nói
đặt ra và phƣơng hƣớng đổi mới” của PGS.TS Bùi Xuân Đức; “Nghiên cứu mô
hình chính quyền đô thị một cấp ở Việt Nam” của PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải; “Tổ
chức và hoạt động của bộ máy chính quyền thành phố trực thuộc trung ƣơng” của
TS. Vũ Đức Đán và TS. Lƣu Kiếm Thanh, do NXB Thống kê phát hành năm 2000;
“Đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền thành phố trong
giai đoạn hiện nay” của TS. Vũ Đức Đán...
- Các bài viết đăng trên các tạp chí nghiên cứu nhƣ: Tạp chí cộng sản,
Nghiên cứu và lập pháp, Nhà nƣớc và pháp luật, Quản lý nhà nƣớc, Tổ chức nhà
nƣớc... của các nhà khoa học, quản lý về quá trình hình thành, phát triển và vấn đề
đổi mới chính quyền địa phƣơng; những vấn đề bức xúc trong thực tiễn và lý luận
tổ chức chính quyền địa phƣơng, phƣơng hƣớng đổi mới mô hình tổ chức chính
quyền đô thị hiện nay, đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND...
- Một số luận văn, luận án thạc sĩ, tiến sĩ ở Học viện Hành chính Quốc gia,
Đại Học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội có đề cập đến vấn đề hoàn thiện chính
quyền địa phƣơng, chính quyền đô thị dƣới các góc độ khác nhau.
Nhìn chung những công trình nghiên cứu nói trên đều xem xét về chính
5
quyền địa phƣơng, chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh ở bình diện chung, trong
một chừng mực nhất định có đề cập tới tổ chức bộ máy và hoạt động của chính
quyền thành phố trực thuộc tỉnh trên diện rộng hoặc về một chính quyền đô thị,
thành phố cụ thể nhƣng chƣa có công trình đi sâu nghiên cứu cụ thể về tổ chức, hoạt
đông bộ máy chính quyền của thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, phù hợp với
điều kiện ở Việt Nam hiện nay.
Trong quá trình triển khai đề tài " Tổ chức, hoạt động của chính quyền
thành phố Vĩnh yên, tỉnh Vĩnh phúc"tôi có kế thừa chọn lọc kết quả của các công
trình nghiên cứu nói trên.
nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
5.2. Phương pháp kỹ thuật: Luận văn chủ yếu sử dụng các phƣơng pháp:tra
cứu tài liệu, so sánh, tổng hợp, phân tích, đánh giá, hệ thống hóa...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả của luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lí luận và thực tiễn
để hoàn thiện về tổ chức và hoạt động chính thành phố trực thuộc tỉnh nói chung và
chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng. Những kết luận, kiến
nghị đƣa ra trong luận văn có thể có ý nghĩa đối với việc tìm ra mô hình tổ chức và
phƣơng thức hoạt động hợp lí của chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc
trong thời gian tới. Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
những cán bộ, công chức chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh và thành phố Vĩnh
Yên trong việc tìm hiểu cũng nhƣ áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật
trong tổ chức, hoạt động của mình.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Chƣơng 1 Cơ sở lý luận, pháp lý về tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố
trực thuộc tỉnh.
Chƣơng 2 Thực trạng tổ chức, hoạt động của thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc
Chƣơng 3 Quan điểm giải pháp hoàn thiện tổ chức, hoạt động bộ máy chính quyền
thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH
QUYỀN THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH
1.1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH
QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG
1.1.1 Khái niệm chính quyền địa phƣơng
quyền thành lập (Điều 2 luật TCCQĐP, 2015). Nhƣ vậy với khái niệm
này,CQĐP bao gồm cấp CQĐP và cả nhƣng nơi không có cấp CQĐP (nơi không tổ
chức HĐND – gọi là CQĐP không hoàn chỉnh).
Nhƣ vậy, theo Hiến pháp hiện hành thì có thể hiểu CQĐP theo các cách hiểu
sau:
- Ở mỗi đơn vị hành chính cũng có thể đƣợc coi là CQĐP, có điều qui chế
có khác nhau. Bởi theo Điều 111 của Hiến pháp 2013 thì chỉ qui định “CQĐP là
chính quyền được tổ chức ở các đơn vị hành chính của Việt Nam”. Qui định này cho
phép hiểu ở đơn vị hành chính đƣợc tổ chức chính quyền địa phƣơng và ở đây có
hai loại chính quyền địa phƣơng: CQĐP hoàn chỉnh và CQĐP không hoàn chỉnh;
- CQĐP cũng đƣợc hiểu là chính quyền đƣợc tổ chức ở tất cả các đơn vị
hành chính đó (theo nghĩa rộng nhất). Nghĩa là CQĐP là chính quyền đƣợc tổ chức
ở tất cả những nơi đó gọi chung là CQĐP. Điều này cho phép hiểu có hai loại chính
quyền: chính quyền trung ƣơng và chính quyền địa phƣơng. Chính quyền địa
phƣơng là loại chính quyền đƣợc thiết lập cấp dƣới - các đơn vị hành chính của đất
nƣớc;
- Có thể CQĐP không có ở đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt vì thực chất
chính quyền địa phƣơng theo Hiến pháp đƣợc tổ chức ở các đơn vị hành chính
(Điều 111) trong khi đó đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt thì chắc chắn không phải
là đơn vị hành chính [34]
Nhƣ vậy, mặc dù còn nhiều tranh luận về thuật ngữ CQĐP theo Hiến pháp
2013, nhƣng về cơ bản Hiến pháp này cũng đã cho phép hiểu một cách linh hoạt về
tổ chức CQĐP địa phƣơng ở nƣớc ta.
9
1.2.1 Tính chất đặc điểm của chính quyền địa phƣơng
Quyền lực nhà nƣớc về bản chất là thống nhất, không có sự phân chia, dù
cho là kiểu nhà nƣớc nào và đƣợc tổ chức theo hình thức liên bang hay đơn nhất,
theo nguyên tắc phân quyền hay tập quyền, đƣợc phân cấp quản lý theo hình thức
của điạ phương” là khác nhau rất cơ bản, vì thế cần đƣợc quán triệt hiểu sâu sắc
hơn quan điểm về tính thống nhất của quyền lực nhà nƣớc. mặt khác căn cứ vào
hiến pháp và luật tổ chức chính quyền địa phƣơng về vị trí, chức năng thẩm quyền
của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, có thể thấy rằng hoạt động của
chính quyền địa phƣơng xét trên bình diện thực thi quyền lực và loại hoạt động
mang tính chấp hành.
Chính quyền địa phƣơng không chỉ đại diện cho quyền lực nhà nƣớc ở địa ở
địa phƣơng mà còn đại diện cho lợi ích, ý chí nguyện vọng của các cộng đồng dân
cƣ trong một phạm vi lãnh thổ. Vì vậy chính quyền địa phƣơng ở mỗi cấp còn là
hình thức tổ chức thực hành dân chủ nhân dân của mỗi địa phƣơng và thật sự là một
tổ chức của nhân dân, do nhân, vì nhân dân trong mỗi phạm vi lãnh thổ cụ thể. Do
đó, việc tổ chức và vận hành chính quyền địa phƣơng ở mỗi cấp phải căn cứ vào
đặc điểm phạm vi và nhu cầu, khả năng thực hành dân chủ của các cộng đồng dân
cƣ trên địa bàn.
Chính quyền đại phƣơng với tƣ cách là hình thức thực hiện dân chủ của
nhân dân trong từng cấp hành chính – lãnh thổ mới đại diện đƣợc quyền lợi, ý chí
nguyện vọng của ngƣời dân, sâu sát gắn bó ngƣời dân, phục vụ đúng kịp thời các
yêu cầu của ngƣời dân và chịu sự giám sát thực tế của ngƣời dân.
Để đảm bảo đƣợc yêu cầu này chính quyền địa phƣơng phải đƣợc giao tự
chủ ở mức độ cần thiết có thể đọc lập giải quyết các công việc, các nhu cầu xác thực
của từng địa phƣơng, của từng cộng đồng dân cƣ. Trong ý nghĩa này lịch sử phát
triển của các mô hình chính quyền địa phƣơng tên thế giới đã chỉ ra nhiều dạng thức
khác nhau của chế độ tự quản địa phƣơng.
Tính tự quản của chính quyền địa phƣơng ở nƣớc ta chƣa đƣợc xác định một
cách cụ thể trên nhiều phƣơng diện pháp luật. tuy vậy trên nhiều mức độ khác nhau
đặc điểm này đã đƣợc thể hiện mức độ tự chủ của mỗi cấp chính quyền trong các
đơn vị hành chính – lãnh thổ. Thực tiễn hoạt động của các cấp chính quyền trong
11
12
quyết các công việc của địa phƣơng, đáp ứng các yêu cầu nguyện vọng hợp pháp
của ngƣời dân địa phƣơng không chỉ quan hệ với các cơ quan quyền lực cấp trên mà
cả trong quan hệ với địa phƣơng khác.
Nhƣ vậy trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nƣớc, chính quyền địa phƣơng ở
mỗi cấp đều có vị trí phụ thuộc vừa có vị trí độc lập.
Vị trí phụ thuộc của chính quyền địa phƣơng đƣợc xác định trên cơ sở quan
niệm tính chất hoạt động của chính quyền địa phƣơng, dù đó là hoạt động của Hội
đồng nhân dân hay của Uỷ ban nhân dân đều là hoạt động chấp hành. Mặt khác
trong cơ cấu chính quyền địa phƣơng, Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà
nƣớc ở địa phƣơng và là một bộ phận trong trong hệ thống hành chính nhà nƣớc
thống nhất do chính phủ chỉ đạo. với vị trí này chính quyền địa phƣơng cấp dƣới
chịu sự chỉ đạo của cơ quan hành nhà nƣớc chính cấp trên trong phạm vi mức độ
phân cấp, phân quyền theo luật định.
Vị trí độc lập của chính quyền địa phƣơng đƣợc thể hiện chủ yếu trong địa vị
pháp lý của Hội đồng nhân dân và phạm vi quyền tự chủ đƣợc phân cấp quản lý.
Theo các quy định của Luật chính quyền địa phƣơng 2015, Hội đồng nhân dân
không chỉ là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, mà là cơ quan đại diện ý
chí, nguyên vọng của ngƣời dân địa phƣơng. Do vậy Hội đồng nhân dân là cơ quan
quyền lực của địa phƣơng, độc lập quyết định các vấn đề của địa phƣơng theo các
mức độ khác nhau về quyền tự chủ của mỗi cấp chính quyền. Mặc du chƣa đƣợc tổ
chức và hoạt động theo mô hình tự quản địa phƣơng nhƣ một số nƣớc, nhƣng xết về
quyền hạn, chức năng nhiệm vụ quyền hạn và thực tiễn hoạt động có thể thấy rằng ở
một mức độ nhất định, tính tự quản của chính quyền địa phƣơng đã đƣợc xác định,
đặc biệt là ở cấp xã, phƣờng, thị trấn. Những yếu tố của quyền tự quản địa phƣơng
cũng nhƣ các cơ quan đại diện từ (Quốc hội đến Hội đồng nhân dân các cấp không
hình thình một hệ thống, thống nhất mà chúng độc lập với nhau), đã tạo nên vị trí
độc lập cho chính quyền địa phƣơng các cấp trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà
nƣớc ta. Tuy vậy khi nhấn mạnh đến tính tự quản của Hội đồng nhân dân cũng có ý
của đơn vị hành chính – lãnh thổ lớn hơn, gắn kết chặt chẽ với các đơn vị hành
chính lãnh thổ ngoại vi và các khu vực lân cận thành các vùng, các khu vực lãnh thổ
14
để cùng nhau giải quyết các vấn đề về phát triển kinh tê – xã hội, về cung ứng dịch
vụ công mà không bị cắt khúc bởi địa giới hành chính.
Từ phƣơng diện lý luận về nhà nƣớc, chính quyền nhà nƣớc ở nƣớc ta (gồm
cả Trung ƣơng và địa phƣơng) đƣợc thiết lập nên bởi nhân dân đƣợc tổ chức thành
nhà nƣớc, quyền lực của nhân dân đƣợc tổ chức thành nhà nƣớc. trong đó Hội đồng
nhân dân là những cơ quan do dân trực tiếp bầu ra thông qua cơ chế bầu cử, do đó,
chính quyền địa phƣơng là những cấu chúc quyền lực gắn liền với ngƣời dân, gần
dân và tác động ảnh hƣởng trực tiếp đến các vấn đề dân chủ, nhân quyền của ngƣời
dân đối với nhà nƣớc đƣợc biểu hiện và xác định trƣớc hết ở niềm tin nhân dân đối
với các cấp chính quyền địa phƣơng thể hiện tập trung nhất ở vị trí và vai trò của
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
a, Vị trí vai trò của Hội đồng nhân dân
Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng, vị trí
vai trò của Hội đồng nhân dân thể hiện trên các mặt sau:
- Hội đồng nhân dân và một trong những mắt xích cơ bản trong mối quan hệ
giữa nhân dân địa phƣơng và các cơ quan nhà nƣớc ở địa phƣơng; là cơ quan trực
tiếp do dân bầu ra, để thay mặt nhân dân địa phƣơng quyết định những vấn đề liên
quan đến đời sống nhân dân địa phƣơng. Thông qua hoạt động của hội đồng nhân
dân để nhân dân tham gia vào quản lý nhà nƣớc và quản lý xã hội địa phƣơng.
- Hội đồng nhân dân là cơ sở để thành lập các cơ quan nhà nƣớc khác thuộc
địa phƣơng, là nơi thể chế các quyết định của cơ quan nhà nƣớc cấp trên; là trung
tâm điều hòa phối hợp hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc trên địa bàn lãnh thổ.
- Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở đia phƣơng, đại diện
cho ý chí, quyền làm chủ của nhân dân địa phƣơng, do nhân dân địa phƣơng địa
phƣơng bầu ra và chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân địa phƣơng và các cơ quan nhà
quyết định không hợp lý của Uỷ ban nhân dân.
- Uỷ ban nhân dân làm việc theo chế độ tập thể, những vấn đề quan trọng
thuộc thẩm quyền Uỷ ban nhân dân đều phải đƣợc thảo luận và biểu quyết theo đa
số, trừ một số nhiệm vụ thẩm quyền riêng của chủ tịch Uỷ ban nhân dân theo luật
định. Theo đó nguyên tắc tập trung dân chủ đƣợc thực hiện trong hầu hết các hoạt
16
động quản lý nhà nƣớc; các nhiệm vụ giải pháp, các chủ trƣơng, đề án kế hoạch lớn
của điạ phƣơng đều đƣợc bàn bạc theo quyết định theo đa số.
- Là cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng, Uỷ ban nhân dân là cơ quan
thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc trên địa bàn, thực thi các quyết định của cơ
quan hành chính nhà nƣớc cấp trên và quy định của pháp luật. Uỷ ban nhân dân có
quyền ban hành quyết định, chị thỉ và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH
QUYỀN ĐÔ THỊ
1.2.1. Khái niệm, vị trí, tính chất, vai trò đô thị
1.2.1.1. Một số khái niệm liên quan
Khái niện Đô thị: Đô thị là một không gian cƣ trú của cộng đồng ngƣời
sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (Từ điển
Bách khoa Việt Nam, NXB Hà Nội 1995) [49]
Đô thị là nơi tập trung dân cƣ, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống làm
việc theo kiểu thành thị ( Giáo trình quy hoạch đô thị, ĐH kiến trúc, Hà Nội)[29]
Ở đây, đô thị đƣợc hiểu theo nghĩa là một đơn vị hành chính - lãnh thổ, do đó,
định nghĩa đô thị sẽ chủ yếu dựa trên các quy định của pháp luật, nói cách khác là các
định nghĩa có giá trị pháp lý.
Vì vậy đô thị đƣợc hiểu là điểm dân cƣ tập chung có vai trò thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ có cơ sở hạ tầng đô thị thích hợp và có quy mô dân
số thành thị tôi thiểu là 4000 ngƣời ( đôi với miền núi là 2800 ngƣời) với tỷ lệ lao động
phi nông nghiệp tối thiểu là 65%. Đô thị gồm các thành phố, thị xã, thị trấn và đô thị gồm
Về mặt nhà nƣớc - pháp luật, không thể sử dụng hoàn toàn các khái niệm về
đô thị đƣợc hiểu theo nghĩa thông thƣờng mà cần phải ghi rõ nội dung dung đầy đủ
của nó trên phƣơng diện pháp lý cũng nhƣ thực tiễn. Vì vậy, pháp luật của các
nƣớc cũng nhƣ Việt Nam đều đƣa ra những tiêu chí, tiêu chuẩn để phân biệt đô thị
với nông thôn. Những tiêu chí cơ bản để phân biệt đô thị và nông thôn dựa trên cơ
sở pháp luật đó là:
- Là trung tâm chính trị - hành chính, trung tâm kinh tế hoặc trung tâm văn
hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật - công nghệ, thể thao... của cả nƣớc hoặc một
vùng lãnh thổ.
18
- Là nơi tập trung trung dân cƣ đông đúc hơn so với nông thôn. Mỗi quốc
gia khác nhau có các quy định khác nhau về quy mô dân số đô thị nhƣng đều đảm
bảo tính chất là một điểm dân cƣ tập trung cao và chỉ tính trong nội thị.
- Dân cƣ hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao và
thƣờng không nhỏ hơn 60%.
- Là nơi tập trung hệ thống các cơ sở vật chất, kỹ thuật hạ tầng quan trọng,
nhƣ: Trạm viễn thông, sân bay, nhà ga, cảng biển... và hạ tầng xã hội, nhƣ: Nhà ở,
khu công nghiệp, bệnh viện, trƣờng học, viện nghiên cứu...
- Lối sống đô thị là lối sống hợp cƣ, luôn biến động và hầu nhƣ không có sự
liên kết về huyết thống, tập quán, truyền thống... luôn tôn trọng những chuẩn mực
có tính pháp lý hơn là những quy tắc có tính cộng đồng.
Khái niện Thành phố nói chung đƣợc dùng để chỉ một khu định cƣ đô
thị có dân số lớn. Mặc dù không có thỏa thuận nào về cách phân biệt một thành phố