Chuyên Đề Những Vấn Đề Về Tổ Chức Và Hoạt Động Của Chính Quyền Cơ Sở Miền Núi - Pdf 41

Chuyên đề 1 (Phần I)
Những vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở
I. CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ

1. Chính quyền cấp xã
Chính quyền cơ sở xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cấp xã) bao
gồm: Hội đồng nhân dân cấp xã (HĐND) thuộc hệ thống cơ quan quyền
lực Nhà nước và Uỷ ban nhân dân cấp xã (UBND) thuộc hệ thống cơ
quan hành chính Nhà nước.
2. Vai trò của chính quyền cấp xã
Cấp xã là cấp cơ sở, cấp thấp nhất trong cơ cấu chính quyền của Nhà
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhưng lại là cấp chính quyền gần dân
nhất nên có vai trò quan trọng. Chính quyền cấp xã chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên, quản lý địa phương
theo Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; bảo đảm
sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa và chống các biểu
hiện tiêu cực trong cơ quan, cán bộ, viên chức Nhà nước và trong bộ máy
chính quyền địa phương (quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền,
tham nhũng, lãng phí…); xây dựng và phát triển địa phương về mọi mặt
nhằm phục vụ lợi ích thiết thực của nhân dân.
II. HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ

1. Vị trí vai trò của Hội đồng nhân dân cấp xã
Tại Điều 1 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân có
ghi: Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa
phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do
nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và
cơ quan Nhà nước cấp trên.
HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực ở cấp xã, vừa là một bộ phận cấu
thành không thể tách rời với quyền lực Nhà nước, với quyền làm chủ chung

- Phường có từ 8000 người trở xuống được bầu 25 đại biểu, có trên
8000 người thì cứ thêm 4000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng
số không quá 35 đại biểu.
Nhiệm kỳ của đại hiểu HĐND cấp xã là 5 năm, nhiệm kỳ mỗi khóa
bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của HĐND khóa đó đến kỳ họp thứ nhất của
HĐND khóa sau (Điều 6 Luật tổ chức HĐND và UBND).
Cơ cấu tổ chức: HĐND cấp xã có thường trực HĐND, thường trực
HĐND cấp xã gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND (Điều 5, Điều 52 Luật
tổ chức HĐND và UBND).
3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp

Trên cơ sở phạm vi đã được phân cấp HĐND quyết định những chủ
trương và biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây
dựng và phát triển địa phương về kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an
ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa
phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.
Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
HĐND ban hành các Nghị quyết. Những Nghị quyết về các vấn đề mà pháp
luật quy định thuộc quyền phê chuẩn của cấp trên thì trước khi thi hành phải
được cấp trên phê chuẩn.
2


HĐND thực hiện quyền giám át đối với hoạt động của Thường trực
HĐND, UBND; giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND về các
lĩnh vực được quy định (Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND).
Như vậy, HĐND có hai chức năng quyết định và giám sát:
a. Chức năng quyết định những chủ trương và biện pháp quan trọng
để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương
về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; không ngừng cải thiện đời

học tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu
học; tổ chức các trường mầm non; thực hiện bổ túc văn hóa và xóa mù chữ
cho những người trong độ tuổi;
3


- Quyết định biện pháp giáo dục, chăm sóc thanh niên, thiếu niên, nhi
đồng; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, giáo dục truyền thống
đạo đức tốt đẹp; giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc; ngăn chặn việc
truyền bá văn hóa phẩm phản động, đồi trụy, bài trừ mê tín, hủ tục, phòng,
chống các tệ nạn xã hội ở địa phương;
- Quyết định biện pháp phát triển hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể
dục thể thao; hướng dẫn tổ chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá
trị các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh ở địa phương theo
quy định của pháp luật;
- Quyết định việc xây dựng, tu sửa trường lớp, công trình văn hóa
thuộc địa phương quản lý;
- Quyết định biện pháp bảo đảm giữ gìn vệ sinh, xử lý rác thải, phòng,
chống dịch bệnh, biện pháp bảo vệ môi trường trong phạm vi quản lý; biện
pháp thực hiện chương trình y tế cơ sở, chính sách dân số và kế hoạch hoá
gia đình;
- Quyết định biện pháp thực hiện chính sách, chế độ đối với thương
binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước,
thực hiện công tác cứu trợ xã hội và vận động nhân dân giúp đỡ gia đình
khó khăn, người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; biện
pháp thực hiện xoá đói, giảm nghèo.
* Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, HĐND
xã, thị trấn quyết định (Điều 31 Luật Tổ chức HĐND và UBND)
- Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự;
xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ và quốc phòng toàn dân.

dân xã, thị trấn quyết định (Điều 34 Luật Tổ chức HĐND và UBND)
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân
dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thành viên khác của Uỷ ban nhân dân cùng
cấp; bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp nhận việc đại biểu Hội
đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật;
- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân
bầu;
- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của
Uỷ ban nhân dân cùng cấp;
- Thông qua đề án thành lập mới, nhập, chia và điều chỉnh địa giới
hành chính ở địa phương để đề nghị cấp trên xem xét, quyết định.
* Hội đồng nhân dân phường thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại các Điều 29, 30, 31, 32, 33 và 34 của Luật này và thực hiện
những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Quyết định biện pháp thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội và quy hoạch đô thị; thực hiện nhiệm vụ giải phóng mặt bằng;
bảo đảm trật tự giao thông đô thị, trật tự xây dựng trên địa bàn phường;
- Quyết định biện pháp xây dựng nếp sống văn minh đô thị; biện pháp
phòng, chống cháy, nổ, giữ gìn vệ sinh; bảo vệ môi trường, trật tự công cộng
và cảnh quan đô thị trong phạm vi quản lý;
- Quyết định biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống nhân dân
trên địa bàn phường.
b. Chức năng giám sát (Điều 1, Điều 57, Điều 58 Luật Tổ chức
HĐND và UBND)
- Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được tiến hành thường
xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.
Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm: giám sát của Hội đồng
nhân dân tại kỳ họp; giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân; giám sát
5


Hội đồng nhân dân các cấp họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Ngoài kỳ
họp thường lệ, Hội đồng nhân dân tổ chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ
họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cùng cấp hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội
đồng nhân dân cùng cấp yêu cầu. Thường trực Hội đồng nhân dân quyết
định triệu tập kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân chậm nhất là hai
mươi ngày, kỳ họp chuyên đề hoặc bất thường chậm nhất là mười ngày
trước ngày khai mạc kỳ họp.
Hội đồng nhân dân họp công khai. Khi cần thiết, Hội đồng nhân dân
quyết định họp kín theo đề nghị của Chủ tọa cuộc họp hoặc của Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cùng cấp.
6


Ngày họp, nơi họp và chương trình của kỳ họp Hội đồng nhân dân
phải được thông báo cho nhân dân biết, chậm nhất là năm ngày, trước ngày
khai mạc kỳ họp.
Kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba
tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia.
Tài liệu cần thiết của kỳ họp Hội đồng nhân dân phải được gửi đến
đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là năm ngày trước ngày khai mạc kỳ
họp.
b. Hoạt động của thường trực HĐND (Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND
cấp xã) (Điều 53 Luật Tổ chức HĐND và UBND)
Thường trực Hội đồng nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau
đây:
* Chủ tịch HĐND cấp xã:
- Triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp
với Uỷ ban nhân dân trong việc chuẩn bị kỳ họp của Hội đồng nhân dân;
- Đôn đốc, kiểm tra Uỷ ban nhân dân cùng cấp và các cơ quan nhà

họp, phiên họp của Hội đồng nhân dân, tham gia thảo luận và biểu quyết các
vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân; Đại biểu Hội
đồng nhân dân nào không tham dự được kỳ họp phải có lý do và phải báo
cáo trước với Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Đại biểu Hội đồng nhân dân nào
không tham dự được phiên họp phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ
tọa phiên họp.
- Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị
bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản
ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một
lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả
lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân
dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết
quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân
dân, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó.
- Đại biểu Hội đồng nhân dân nhận được yêu cầu, kiến nghị của cử tri
phải có trách nhiệm trả lời cử tri.
Khi nhận được khiếu nại, tố cáo của nhân dân, đại biểu Hội đồng
nhân dân có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm
quyền giải quyết, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết; đồng thời thông báo cho
người khiếu nại, tố cáo biết.
Trong thời hạn do pháp luật quy định, người có thẩm quyền phải xem
xét, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho đại biểu Hội đồng nhân dân
biết kết quả.
* Quyền hạn:
- Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng
nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân. Người bị chất
vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn.
Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, đại biểu Hội đồng nhân dân
gửi chất vấn đến Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. Người bị chất

quyền ra lệnh tạm giữ đại biểu Hội đồng nhân dân thì phải thông báo cho
Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp.
* Việc bãi nhiệm hoặc mất quyền đại biểu HĐND:
- Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì
lý do sức khoẻ hoặc vì lý do khác. Việc chấp nhận đại biểu Hội đồng nhân
dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu do Hội đồng nhân dân cùng cấp xét và
quyết định.
- Đại biểu Hội đồng nhân dân nào không còn xứng đáng với sự tín
nhiệm của nhân dân thì tuỳ mức độ phạm sai lầm mà bị Hội đồng nhân dân
hoặc cử tri bãi nhiệm. Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội
đồng nhân dân theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng
cấp.
Trong trường hợp Hội đồng nhân dân bãi nhiệm đại biểu Hội đồng
nhân dân thì việc bãi nhiệm phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu
Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.
Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc
bãi nhiệm được tiến hành theo thể thức do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.
9


- Trong trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân bị truy cứu trách
nhiệm hình sự thì Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định tạm đình chỉ
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân đó.
Đại biểu Hội đồng nhân dân phạm tội, bị Toà án kết án và bản án đã
có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên mất quyền đại biểu Hội đồng nhân
dân.
III. TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
1. Vị trí vai trò của Uỷ ban nhân dân cấp xã
Uỷ ban nhân dân cấp xã là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan

10


quyết toán ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết
định và báo cáo Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;
- Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, phối hợp với các cơ quan
nhà nước cấp trên trong việc quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn xã, thị
trấn và báo cáo về ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
- Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ
các nhu cầu công ích ở địa phương; xây dựng và quản lý các công trình công
cộng, đường giao thông, trụ sở, trường học, trạm y tế, công trình điện, nước
theo quy định của pháp luật;
- Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng
các công trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc dân chủ, tự
nguyện. Việc quản lý các khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra,
kiểm soát và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định
của pháp luật.
* Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và
tiểu thủ công nghiệp, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
- Tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề
án khuyến khích phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát
triển sản xuất và hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng,
vật nuôi trong sản xuất theo quy hoạch, kế hoạch chung và phòng trừ các
bệnh dịch đối với cây trồng và vật nuôi;
- Tổ chức việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ; thực hiện việc tu
bổ, bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên
tai, bão lụt; ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ
đê điều, bảo vệ rừng tại địa phương;
- Quản lý, kiểm tra, bảo vệ việc sử dụng nguồn nước trên địa bàn theo

đình được giao; vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh; phòng, chống các dịch bệnh;
- Xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn hoá, thể dục thể
thao; tổ chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích
lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương theo quy định của
pháp luật;
- Thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia
đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước theo quy định của
pháp luật;
- Tổ chức các hoạt động từ thiện, nhân đạo; vận động nhân dân giúp
đỡ các gia đình khó khăn, người già cô đơn, người tàn tật, trẻ mồ côi không
nơi nương tựa; tổ chức các hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng
chính sách ở địa phương theo quy định của pháp luật;
- Quản lý, bảo vệ, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ; quy hoạch, quản lý nghĩa
địa ở địa phương.
* Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi
hành pháp luật ở địa phương, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân, xây
dựng làng xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương;
- Thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự và tuyển quân theo kế hoạch;
đăng ký, quản lý quân nhân dự bị động viên; tổ chức thực hiện việc xây
dựng, huấn luyện, sử dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương;
- Thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực
12


hiện biện pháp phòng ngừa và chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành
vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương;
- Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại

nước có thẩm quyền xem xét, quyết định.
4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND cấp xã (Điều 127
Luật Tổ chức HĐND và UBND)
- Lãnh đạo công tác của Uỷ ban nhân dân, các thành viên của Uỷ ban
nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân:
+ Đôn đốc, kiểm tra công tác của các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ
ban nhân dân cấp mình và Uỷ ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện
13


Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của
Hội đồng nhân dân và quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cùng cấp;
+ Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân
dân cấp mình, trừ các vấn đề quy định tại Điều 124 của Luật này;
+ Áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc; quản lý và
điều hành bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả; ngăn ngừa và đấu
tranh chống các biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền,
tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, công chức
và trong bộ máy chính quyền địa phương;
+ Tổ chức việc tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo
của nhân dân theo quy định của pháp luật.
- Triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Uỷ ban nhân dân;
- Phê chuẩn kết quả bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân cấp dưới
trực tiếp; điều động, đình chỉ công tác, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm,
bãi nhiệm các thành viên của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; bổ nhiệm,
miễn nhiệm, điều động, cách chức, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức
nhà nước theo sự phân cấp quản lý;
- Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản trái pháp luật của
cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp mình và văn bản trái pháp

của Nhà nước.
1.2. Vai trò của Pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- Pháp luật Việt Nam bảo đảm thực hiện nền dân chủ XHCN, phát
huy quyền lực của nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội.
- Pháp luật bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu quả chức năng tổ chức
quản lý của kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của XHCN.
- Pháp luật là cơ sở để giữ vững an ninh chính trị và TTATXH
- Pháp luật có vai trò giáo dục, răn đe mạnh mẽ tất cả mọi người.
- Pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa tạo dựng những quan hệ mới
hợp tác và phát triển.
1.3. Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta
Theo Hiến pháp năm 1992, Nước ta có những văn bản pháp luật sau đây:
a. Hiến pháp (Hiến pháp hiện hành năm 1992) là luật cơ bản do Quốc
hội thông qua có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản pháp
luật. Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất của nước ta: Hình thức
và bản chất của Nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt
động và thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước.
b. Các đạo luật (hay còn gọi là Bộ luật) là các văn bản quy phạm pháp
luật, do Quốc hội, cơ quan cao nhất của quyền lực Nhà nước ban hành cụ
thể hóa Hiến pháp nhằm điều chỉnh các loại quan hệ xã hội trong các lĩnh
vực hoạt động của Nhà nước.
c. Nghị quyết của Quốc hội: Được ban hành để giải quyết các vấn đề
quan trọng thuộc thẩm quyền của Quốc hội như: Kế hoạch phát triển kinh tế,
xã hội, chính sách, tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo,
đối ngoại, quốc phòng, an ninh, dự toán Ngân sách Nhà nước, phê chuẩn
điều ước quốc tế, thành lập Bộ, chia tách tỉnh...
d. Pháp lệnh do ủy thường vụ Quốc hội ban hành. Pháp lệnh có hiệu
lực pháp lý thấp hơn Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội, nhưng là
văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn trong các văn bản dưới luật.

bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên, HĐND cùng cấp và để điều hành
hoạt động quản lý Nhà nước ở địa phương.
n. Các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, cấp huyện, các cơ
quan quản lý ở cơ sở (các đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị kinh tế) cũng
có quyền ban hành các Quyết định, Chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ và chức
năng của mình.
- Việc ban hành các văn bản pháp luật phải tuân theo nguyên tắc:
+ Tất cả các văn bản pháp luật không trái và mâu thuẫn với Hiến
pháp.
+ Các văn bản dưới luật, phải phù hợp với các văn bản luật, không
được trái và mâu thuẫn với nhau.
17


+ Văn bản của cơ quan cấp dưới phải phù hợp; không trái và mâu
thuẫn với văn bản của cơ quan cấp trên.
II. Hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Hệ thống pháp luật của Nhà nước ta gồm:
1. Luật Hiến pháp (còn gọi là Luật Nhà nước) là tổng thể các quy
phạm pháp luật cơ bản, điều chỉnh các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội, quan hệ giữa Nhà nước và công dân, quy định vị trí, chức năng,
nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Nhà nước, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động
của cơ quan Nhà nước.
2. Luật Hành chính là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ hình thành trong lĩnh vực hoạt động của quản lý Nhà nước.
3. Luật Dân sự là tổng thể các quy phạm pháp luật,điều chỉnh các
quan hệ tài sản; quan hệ sở hữu; quan hệ thừa kế, quan hệ nhiệm vụ, dân sự
và các quan hệ nhân thân gồm tác giả, phát minh, sáng chế, sở hữu công
nghiệp, quan hệ danh dự, nhân phẩm tên gọi.
4. Luật Tố tụng dân sự là tổng thể các quy phạm pháp luật, điều chỉnh

b. Mọi cán bộ viên chức, công chức Nhà nước phải tôn trọng và thực
hiện đúng thẩm quyền và thủ tục được pháp luật quy định trong hoạt động
công vụ của mình, mọi hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật Nhà nước phải
được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh.
c. Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo
xã hội, nhưng sự lãnh đạo của Đảng phải tôn trọng nguyên tắc pháp chế.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
d. Các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân tổ chức và hoạt
động theo nguyên tắc pháp chế, tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước,
bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. Việc thành lập và hoạt động của mọi
tổ chức, đoàn thể phải dựa vào pháp luật, phải hợp pháp, trong khuôn khổ
pháp luật, tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật, không vi phạm những điều
mà pháp luật Nhà nước đã ngăn cấm.
đ. Mọi công dân không phân biệt địa vị, tuổi tác, dân tộc, tôn giáo,
giới tính đều phải ý thức được rằng pháp luật là chuẩn mực cao nhất, thước
đo chung cho mọi hành vi sử sự của công dân trong quan hệ với Nhà nước,
tổ chức và với cá nhân công dân khác; phải tuân thủ, sử dụng và thi hành
nghiêm chỉnh các yêu cầu của pháp luật trong hoạt động của mình. Thực
hiện được nguyên tắc trên là điều kiện bảo đảm mọi công dân bình đẳng
trước pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội.
2. Những yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghiã ở nước ta hiện
nay
Để thiết lập một xã hội ổn định phát triển có kỷ cương, trật tự; nghĩa
là xã hội có pháp chế thì phải thực hiện các yêu cầu sau:
a. Bảo đảm tính thống nhất trong việc xây dựng, ban hành pháp luật
và thực hiện pháp luật, tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật.
b. Các cơ quan Nhà nước và các viên chức Nhà nước, các tổ chức
chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân, mọi công dân có nghĩa vụ thực hiện
pháp luật, không có ngoại lệ, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật,
bất cứ tổ chức, cá nhân nào vi phạm pháp luật đều bị truy cứu trách nhiệm

1. Kh¸i qu¸t vÒ c«ng t¸c phæ biÕn, gi¸o dôc ph¸p luËt.
1.1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật
Hiện nay, có nhiều định nghĩa, khái niệm về “phổ biến, giáo dục pháp
luật” (PBGDPL) và “công tác phổ biến, giáo dục pháp luật” nhưng theo
cách hiểu thông thường thì:
- PBGDPL: là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao
tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức
tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng.
- Công tác PBGDPL: là công tác, bao gồm tất cả các công đoạn như:
định hướng công tác PBGDPL; lập chương trình, kế hoạch PBGDPL, áp
dụng các hình thức PBGDPL; triển khai chương trình PBGDPL; kiểm tra,
sơ kết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm... về PBGDPL.
PBGDPL trước hết nhằm cung cấp những kiến thức pháp luật liên quan
đến đời sống của mỗi thành viên trong xã hội dù họ ở vị trí nào. Sau nữa là
tạo dần thói quen hành xử theo pháp luật của mỗi công dân, tức là tạo ra ý
thức chấp hành pháp luật (hành vi hợp pháp) của họ. PBGDPL còn làm cho
tính công khai và minh bạch của pháp luật được thể hiện trong đời sống xã
hội. Nhiệm vụ của PBGDPL là từng bước tạo ra một mặt bằng dân trí pháp
lý tương đối đồng đều, làm cho tính tối thượng của Hiến pháp và các đạo
20


luật được bảo đảm trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
1.2. Giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên trong quá trình triển
khai thực hiện pháp luật
Sự khẳng định vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội gắn liền với
quá trình không ngừng nâng cao ý thức và tính tích cực tham gia của mọi
tầng lớp nhân dân trong việc bảo vệ pháp luật. Tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa (mà một trong những yếu tố cấu thành là sự phát triển của nhận

chỗ dựa và là cơ sở của việc hình thành đạo đức mới. Các nguyên tắc căn
bản của đạo đức mới được thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật. Do
21


đó, pháp luật bảo vệ và phát triển đạo đức, bảo vệ tính công bằng, chủ nghĩa
nhân đạo, tự do, lòng tin và lương tâm con người. Giáo dục đạo đức tạo nên
những tiền đề cần thiết để hình thành ở công dân sự tôn trọng sâu sắc đối
với pháp luật. Ngược lại, giáo dục pháp luật tạo ra khả năng thiết lập trong
đời sống thực tiễn thường ngày những nguyên tắc của đạo đức, củng cố các
nghĩa vụ đạo đức, thiết lập lập trường không dung thứ với các biểu hiện
chống đối xã hội.
Có thể nói, giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cùng tác động vào
lòng tin của con người đối với sự cần thiết tuân theo những nguyên tắc cơ
bản của đạo đức mới, lòng tin đối với giá trị xã hội của pháp luật và lòng
tin đối với những quy phạm đạo đức và pháp luật trong đời sống thực tế
hàng ngày, hướng đến hoàn thiện những mối quan hệ lẫn nhau giữa con
người với con người.
Tóm lại, giáo dục pháp luật với những phương thức khác nhau, trong đó
có phổ biến, tuyên truyền pháp luật, tạo điều kiện cho việc nâng cao trình độ
văn hoá pháp lý của người dân. Đồng thời, sự phát triển của văn hóa pháp lý
cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động thực thi pháp luật của các cơ
quan Nhà nước. Hiệu quả tác động này lại phụ thuộc vào trình độ văn hoá
pháp lý của đội ngũ cán bộ, công chức; phụ thuộc vào việc họ thực thi đúng
pháp luật, có thái độ tôn trọng pháp luật. Bởi vậy, thực hiện nhiệm vụ nâng
cao văn hoá pháp lý đòi hỏi không chỉ nâng cao trình độ văn hoá chung của
nhân dân mà còn phải tăng cường năng lực thực thi pháp luật cho đội ngũ cán
bộ, công chức các cơ quan Nhà nước. Một trong những nguyên nhân của tình
trạng vi phạm pháp luật là do trình độ văn hoá pháp lý của một bộ phận nhân
dân, trong đó có cả cán bộ, công chức còn thấp. Rõ ràng, việc nâng cao văn

luật của Nhà nước.
Các đoàn thể có nhiệm vụ giáo dục đoàn viên, hội viên của mình về
chủ nghĩa xã hội, về pháp chế xã hội chủ nghĩa... tuyên truyền, thuyết phục
quần chúng tự giác thi hành chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước...”.
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986):
“...Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật. Đưa
việc dạy pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, của Nhà nước (kể cả
các trường phổ thông, đại học) của các đoàn thể nhân dân. Cán bộ quản lý
các cấp từ trung ương đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành
chính và hiểu biết về pháp luật, cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để
giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân
dân...”.
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991):
“...Điều quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ
thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao trình độ
dân trí, hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân.
Thường xuyên giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo
pháp luật trong nhân dân...”.
“...Tăng cường giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức tôn
trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho
pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng...”.
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996)
“...Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật,
huy động lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các
phương tiện thông tin đại chúng tham gia vào đợt vận động thiết lập trật tự
kỷ cương và các hoạt động thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc
theo pháp luật trong các cơ quan Nhà nước và trong xã hội...”.
23


của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội đều xác định công tác PBGDPL là
một công việc trọng tâm và thường xuyên của các cơ quan Nhà nước và của
các cấp, các ngành và của toàn xã hội.
Ngày 17/01/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
13/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình
PBGDPL từ năm 2003-2007. Đây là những văn bản pháp luật có ý nghĩa
quan trọng, khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc đẩy
mạnh công tác PBGDPL, làm chuyển biến nhận thức, từng bước nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, góp phần tăng cường pháp
chế XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật trong thời kỳ đổi mới. Đây cũng
là chương trình hành động của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và lần thứ IX, Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới.
Để tiếp tục đưa công tác PBGDPL lên một tầng cao mới, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày 09 tháng 12 năm 2003, Ban Bí thư Trung
ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 32/CT-TW về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Ngày 16/12/2004, Chính phủ ban hành
Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động quốc
gia PBGDPL và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân
ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010. Ngày 07/12/2007, Chính
phủ ban hành Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP về việc tiếp tục thực hiện Chỉ
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status