Chuyên đề 4:
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG
VÀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
I. Cải cách hành chính nhà nước ở địa phương
1. Sự cần thiết phải cải cách hành chính nhà nước ở địa phương
a) Quan niệm chung về cải cách hành chính nhà nước
Nói đến cải cách là nói đến việc thay đổi một cách cơ bản một trạng thái, một đối tượng,
làm cho nói phù hợp với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển, làm cho nó tốt hơn theo
nhu cầu của con người. Ví dụ: cải cách ruộng đất, cải cách giáo dục v.v.. Cải cách hành chính có
nghĩa là thay đổi trạng thái đang tồn tại của cơ chế hành chính hiện tại, làm cho nó thay đổi các
hoạt động phù hợp với yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước. Cải cách hành chính
không làm thay đổi nền tảng của nền hành chính nhà nước mà chỉ làm thay đổi cơ chế vận hành
của nó theo yêu cầu quản lý đất nước thời kỳ kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự điều
tiết của nhà nước.
Nền hành chính nhà nước là hệ thống tổ chức và định chế có chức năng thực thi quyền
hành pháp, tức là quản lý công việc hàng ngày của nhà nước. Cải cách nền hành chính là làm cho
4 yếu tố liên quan đến nền hành chính vận hành có tính đồng bộ nhằm mang lại hiệu quả cho
quản lý đất nước. Có thể hình dung sự vận hành của 4 yếu tố của nền hành chính như sau:
Đội ngũ cán
bộ, công chức
Thể chế hành
chính
Bộ máy quản
lý hành chính
Nền tài chính
b) Đặc điểm cải cách hành chính ở nước tacông
quản lý hành chính nhà nước. Như vậy, cần phải tiến hành cải cách để đổi mới nền hành chính nhà
nước.
- Quá trình đổi mới của nước ta đồng thời cũng là quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Sau
khi Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, nước ta không thể tự cô lập mình trên
trường quốc tế mà Đảng ta chủ trương Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trên thế giới.
Để thực hiện được điều đó cần thay đổi cách nhìn nhận về thế giới bên ngoài của nền hành chính
cũ, phải tạo ra sự năng động và linh hoạt mà nền hành chính cũ còn thiếu do quan hệ với thế giới
bên ngoài còn hạn hẹp. Phải đổi mới luật lệ, cải cách thủ tục hành chính theo một số thông lệ quốc
tế, bồi dưỡng cán bộ để thích ứng với nhu cầu hội nhập.
Ngoài những lý do trên, tình hình phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ của
thời kỳ hiện đại cũng là lý do thúc đẩy chúng ta phải cải cách hành chính. Trong quá trình hội
nhập quốc tế, chúng ta không thể không hiện đại nền hành chính nếu muốn hội nhập thành công
và hoạt động có hiệu quả.
Tóm lại, cải cách nền hành chính ở nước ta là một đòi hỏi tất yếu mang tính khách quan
trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài về sau của quá trình phát triển đất nước. Trong quá
trình cải cách hành chính của đất nước nói chung, hành chính địa phương không phải là ngoại lệ.
Nhu cầu cải cách hành chính nhà nước địa phương cũng là tất yếu.
2. Một số nội dung cải cách hành chính nhà nước ở địa phương
a) Cải cách thể chế hành chính
- Trước hết là cải cách thể chế phục vụ cho kinh tế và hoạt động hành chính (cụ thể là
phục vụ cho thị trường vốn, tiền tệ, chứng khoán, thị trường bất động sản, lao động, công nghệ,
dịch vụ công, phục vụ cho hoạt động của Chính phủ; Bộ, UBND Tỉnh - Thành phố). Đổi mới
quan hệ Nhà nước với dân, Nhà nước với doanh nghiệp. Ở các địa phương phải đổi mới quy trình
ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể là: rà soát lại, hệ thống hoá
các văn bản đã ban hành để phát hiện các văn bản chồng chéo, mâu thuẫn hoặc đã lạc hậu và sửa
đổi bổ sung hoặc bãi bỏ cho phù hợp với quy định của Trung ương; tăng cường năng lực của các
cơ quan soạn thảo văn bản; phải thay đổi cách làm theo chủ quan, cục bộ; tăng cường sự tham gia
của nhân dân và các tổ chức vào quá trình xây dựng, đặc biệt là quá trình tổ chức thực hiện văn
quyết công việc trên địa bàn.
- Bố trí lại cơ cấu hành chính địa phương theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; giảm
các cơ quan trung gian, định rõ tính chất của các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ.
- Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bên trong các tổ chức hành chính nhà nước địa phương, xây
dựng các cơ chế hoạt động thích hợp, hiệu quả.
- Xác định tiêu chí từng loại đơn vị hành chính địa phương cho hợp lý.
- Cải tiến phương thức và phương pháp làm việc
- Cùng với các cơ quan trung ương, thực hiện hiện đại hoá từng bước hành chính nhà
nước, xây dựng nền hành chính điện tử, điều hành qua mạng với sự trợ giúp của công nghệ thông
tin.
c) Cải cách công vụ và công chức
- Đổi mới việc quản lý công chức. Tổ chức điều tra, đánh giá toàn diện đội ngũ công chức
nhà nước của từng địa phương; cơ cấu lại đội ngũ công chức, cán bộ cho hợp lý theo yêu cầu của
địa phương; tổ chức tốt việc tuyển dụng, đánh giá, đề bạt cán bộ; giảm biên chế hành chính, kiện
toàn bộ máy điều hành theo hướng gọn, nhẹ; phân cấp quản lý cán bộ hợp lý. Đề xuất với Trung
ương cải tiến chế độ trả lương thích hợp.
- Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ công chức địa phương để có đủ trình độ thực thi công việc
theo yêu cầu mới. Xây dựng kế hoạch đào tạo theo từng loại công chức; đổi mới chương trình
đào tạo; sắp xếp lại hệ thống đào tạo cán bộ công chức để làm tốt hơn nhiệm vụ này.
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức công chức. Tăng cường việc giáo dục tư tưởng,
đạo đức; thực hiện quản lý cán bộ theo quy chế, chống các hiện tượng tiêu cực...
d) Cải cách tài chính công (tài chính nhà nước)
Nội dung này bao gồm một số nhiệm vụ cụ thể như:
- Quản lý chi tiêu công theo đúng quy định của nhà nước.
- Bảo đảm quyền quyết định ngân sách của các địa phương.
- Dựa vào các quy định của nhà nước, cùng với cơ quan Trung ương, đổi mới cơ chế phân
bổ ngân sách (phân biệt cơ quan công quyền và cơ quan sự nghiệp trong phân bổ ngân sách; phân
bổ dựa theo kết quả công việc; xây dựng các định mức công việc hợp lý...).
phục vụ tin học hoá quản lý hành chính nhà nước. Hệ thống thông tin điện tử đã bắt đầu đưa vào
vận hành các dịch vụ cơ bản như thư điện tử, các phần mềm ứng dụng tin học hoá quản lý hành
chính nhà nước...
- Thực hiện Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/03/2008 của Thủ tướng chính phủ
phê duyệt Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm
2008 và Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về
ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước các địa phương đã tích cực xây
dựng kế hoạch thực hiện đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin nhằm cải tiến công tác chỉ đạo,
nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành và chất lượng cung cấp dịch vụ công.
- Trong hiện đại hoá công sở, thực hiện Quyết định số 1441/2008/QĐ-TTg ngày
06/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch đầu tư trụ sở xã, trong năm
2009, cả nước đã thực hiện đầu tư, xây dựng, cải tạo được 1300 công trình trụ sở xã bằng 21% kế
hoạch, trong đó có 859 công trình hoàn thành và 441 công trình chuyển tiếp sang năm 2010. (Báo
cáo tổng kết thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010
và Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020).
II. Tổ chức và hoạt động của chính quyền xã
1. Tổ chức và hoạt động của HĐND xã
Hội đồng nhân dân xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở xã, đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân ở xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân
và nhà nước cấp trên.
Hội đồng nhân dân thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và
pháp luật; bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy quyền chủ động
sáng tạo của xã. Với phương thức hoạt động chính là các kỳ họp, HĐND có quyền ra nghị quyết
về những vấn đề của xã và thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước
khác ở xã trong việc tuân theo pháp luật.
Về cơ cấu, HĐND xã được hình thành bởi các đại biểu do nhân dân trong xã bầu ra theo
nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đại biểu Hội đồng nhân
dân xã đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong xã, tuyên truyền, vận động nhân dân
và gương mẫu thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước, động viên nhân dân tham gia các
HĐND theo đề nghị của Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
- Tổng hợp các chất vấn của đại biểu HĐND để báo cáo HĐND tại kỳ họp.
- Giữ mối liên hệ với các đại biểu HĐND xã với thường trực Mặt trận Tổ quốc xã; mỗi năm
hai lần thông báo cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của HĐND.
- Báo cáo về hoạt động của HĐND xã lên HĐND và UBND huyện.
Thường trực HĐND xã làm việc theo nguyên tắc tập thể, mỗi tháng họp ít nhất một lần, có
thể họp bất thường.
2. Tổ chức và hoạt động của UBND xã
Cơ cấu của UBND xã theo luật định gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên. Chủ
tịch UBND là đại biểu HĐND cùng cấp. Trong nhiệm kỳ nếu khuyết Chủ tịch UBND thì Chủ
tịch HĐND cùng cấp giới thiệu người ứng cử Chủ tịch UBND để HĐND bầu. Người được bầu
giữ chức vụ Chủ tịch UBND trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu HĐND.
UBND xã do HĐND cùng cấp bầu ra theo nguyên tắc bỏ phiếu kín. Theo pháp luật hiện
hành, số thành viên UBND xã được quy định như sau:
- Đối với xã miền núi, hải đảo có dân số dưới 5000 người thì số thành viên UBND là 3
người, gồm một Chủ tịch, một Phó Chủ tịch và một ủy viên. Các thay đổi về số lượng phải được
Chủ tịch UBND huyện phê chuẩn.
- Đối với xã miền núi, hải đảo có dân số từ 5000 người trở lên; xã biên giới thì số thành
viên UBND là 5 người, gồm một Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch và 02 ủy viên.
UBND xã không có các cơ cấu trực thuộc mà chỉ có các chức danh chuyên trách để phụ
trách các mảng công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã. Các mảng công việc đó là :
Công an; Quân sự; Văn phòng-Thống kê; Địa chính - Xây dựng; Tài chính - Kế toán; Tư pháp Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội.
Sơ đồ dưới đây mô tả sự phân công đó.
Hội đồng nhân dân xã
Ủy ban nhân dân
xã
3. Chức trách, nhiệm vụ của Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, Chủ
tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã
a) Chức trách, nhiệm vụ của Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã
Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân xã, bảo đảm
phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã mình.
- Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã có nhiệm vụ :
+ Triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã; phối hợp với Uỷ ban nhân
dân xã trong việc chuẩn bị kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã, chủ trì xây dựng quyết của Hội
đồng nhân dân xã.
+ Tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân
dân ở xã.
+ Giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã;
chủ trì và phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã trong việc quyết định đưa ra bãi nhiệm đại biểu Hội
đồng nhân dân xã theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã.
+ Giữ mối quan hệ với đại biểu Hội đồng nhân dân xã.
+ Báo cáo công tác của HĐND xã và thông báo hoạt động của Hội đồng nhân dân xã với
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã.
- Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các nhiệm vụ do Chủ
tịch Hội đồng nhân dân xã phân công và thay mặt Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã giải quyết công
việc khi Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã đi vắng.
b) Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, Phó Chủ
tịch Ủy ban nhân dân xã.
- Chủ tịch UBND xã:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người đứng đầu Ủy ban nhân dân, lãnh đạo và điều hành
mọi công việc của Ủy ban nhân dân, chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
theo quy định tại Điều 127 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003;
đồng thời, cùng Ủy ban nhân dân xã chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Ủy ban nhân dân
trước Đảng ủy, Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
bàn. Phó Chủ tịch được sử dụng quyền hạn của Chủ tịch khi giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực
được giao.
+ Chịu trách nhiệm cá nhân trước Chủ tịch, trước Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân
dân xã về lĩnh vực được giao, về những quyết định chỉ đạo, điều hành của mình; cùng Chủ tịch
và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm tập thể về toàn bộ hoạt động của
Ủy ban nhân dân trước Đảng ủy, Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân huyện. Đối với
những vấn đề vượt quá phạm vi thẩm quyền thì Phó Chủ tịch phải báo cáo Chủ tịch quyết định.
+ Khi giải quyết công việc, nếu có vấn đề liên quan đến phạm vi và trách nhiệm giải
quyết công việc của thành viên khác của Ủy ban nhân dân thì chủ động trao đổi, phối hợp với
thành viên đó để thống nhất cách giải quyết; nếu vẫn còn ý kiến khác nhau thì báo cáo Chủ tịch
quyết định.
+ Kiểm tra, đôn đốc cán bộ, công chức, các thôn và tổ dân phố thực hiện các chủ
trương, chính sách và pháp luật thuộc lĩnh vực được giao.
4. Vai trò của chính quyền xã trong cải cách hành chính nhà nước ở địa phương.
a) Về cải cách thể chế
- Cải tiến việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền xã.
- Tổ chức thực hiện tốt các thủ tục hành chính phục vụ công dân qua trung tâm một cửa,
một cửa liên thông. Thường xuyên rà soát thủ tục hành chính tại địa phương để báo cáo cấp trên
nhằm kịp thời bổ sung, thay thế các thủ tục không phù hợp với thực tế. Giải quyết kịp thời các
khiếu nại của dân theo quy định của pháp luật và thẩm quyền của xã.
b) Về cải cách bộ máy
- Cải tiến hoạt động của bộ máy chính quyền xã, làm cho bộ máy này hoạt động có hiệu
lực và hiệu quả.
- Tổ chức thực hiện tốt Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Quy chế văn
hóa công sở và các quy chế khác do Nhà nước ban hành phục vụ xóa đói giảm nghèo, bình đẳng
giới.
- Làm nòng cốt cùng với Mặt trận Tổ quốc xã và các đoàn thể khác trong việc xây dựng
hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.
c) Về chế độ công chức
- Chương trình Tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010.
- Dự thảo chương trình Tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020.