BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐINH XUÂN HẬU
TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60380102
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI - 2016
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. VŨ ĐỨC ĐÁN
Phản biện 1: TS. NGUYỄN MINH SẢN
Phản biện 2: TS. PHAN VĂN HÙNG
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính
Quốc gia
Địa điểm: Phòng họp............ Nhà........Hội trƣờng bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học
viện Hành chính Quốc gia
Số: 77 – Đường Nguyễn Chí Thanh – Quận Đống Đa – TP Hà Nội
chính quyền địa phương, trong đó đề cập tới chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh dưới giác độ là một bộ
phận cấu thành của bộ máy nhà nước nói chung của chính quyền địa phương nói riêng.
Nhóm thứ hai gồm những bài viết, công trình nghiên cứu về pháp luật, về hoàn thiện pháp luật.
Những bài viết, công trình này đề cập tới những vấn đề lý luận về pháp luật và hoàn thiện pháp luật mà chưa
đi sâu vào hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh ở
nước ta nói chung và thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề ra những giải pháp hoàn thiện về tổ chức,
hoạt động chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc.
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Thứ nhất, Nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản và thực tiễn về tổ chức và hoạt động chính quyền thành
phố trực thuộc tỉnh.
Thứ hai, Phân tích, đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh ở Việt
Nam nói chung và chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
Thứ ba, Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức, hoạt động chính thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh
Phúc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tổ chức, hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh và
2
thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh là một vấn đề lớn và phức tạp.
Trong phạm vi luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu việc tổ chức và hoạt động của chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010
đến nay.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng những lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
3
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN
THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH
1.1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƢƠNG
1.1.1 Khái niệm chính quyền địa phƣơng
Trước khi có Hiến pháp 2013 ở Việt Nam, nội hàm của khái niệm CQĐP được hiểu về cơ bản theo hai nghĩa:
-Theo nghĩa hẹp (theo cách hiểu thông thường): Chính quyền địa phương (CQĐP) bao gồm Hội đồng nhân dân
(HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND). Trong tổ chức bộ máy nhà nước ta, HĐND và UBND được tổ chức ở cả 3 cấp
hành chính là Tỉnh - Huyện - Xã. Quan niệm này bắt nguồn từ thực tiễn pháp luật về tổ chức và hoạt động của CQĐP ở
nước ta trong những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám (1945): Hiến pháp và pháp luật nước ta khi quy định về
CQĐP thường đề cập 2 cơ quan là: HĐND và UBHC (UBND). Từ tên chương của các bản Hiến pháp 1946, 1959,
1980 và 1992 đến tên của các Luật về tổ chức CQĐP (trừ Luật năm 1958), CQĐP thường được hiểu chủ yếu và
trước hết gồm 2 cơ quan là HĐND và UBND hoặc Uỷ ban hành chính (UBHC).
- Theo nghĩa rộng, chính quyền địa phương là cơ quan tổ chức chính quyền ở địa phương không bao gồm
Tòa án, Viện kiểm sát (là những cơ quan thực hiện quyền tư pháp). Ngoài ra, cũng không bao gồm các cơ
quan của các Bộ, Ngành trung ương đóng ở địa phương (công an, quân sự, hải quan, thuế…) vì những cơ
quan này là của các Bộ ngành trung ương đặt ở địa phương, do các cơ quan Bộ, ngành ở trung ương thành
lập, bổ nhiệm, thủ trưởng các cơ quan này và trực tiếp chỉ đạo hoạt động của chúng [47]
1.2.1 Tính chất đặc điểm của chính quyền địa phƣơng
Quyền lực nhà nước về bản chất là thống nhất, không có sự phân chia, dù cho là kiểu nhà nước nào và được
tổ chức theo hình thức liên bang hay đơn nhất, theo nguyên tắc phân quyền hay tập quyền, được phân cấp
quản lý theo hình thức phân quyền, tản quyền hay tập quyền. Nhưng nhà nước nào cũng phân chia lãnh thổ
thành các đơn vị hành chính để quản lý, và do đó chính quyền nhà nước phải thiết kế tương ứng với các đơn
vị hành chính lãnh thổ đẻ quản lý, từ đó dẫn đến khái niệm chính quyền Trung ương và chính quyền địa
phương. Như vậy, khi nói đến chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương là nói đến phạm vi,
nghĩa này lịch sử phát triển của các mô hình chính quyền địa phương tên thế giới đã chỉ ra nhiều dạng thức
khác nhau của chế độ tự quản địa phương.
1.1.3. Vị trí vai trò của chính quyền địa phƣơng
Để quản lý xây dựng phát triển kính tế, văn hoá xã hội của đất nước, Việt Nam cũng giống như tất cả các
nước trên thế giới đều phải tổ chức các đơn vị hành chính – lãnh thổ và thành lập các cơ quan nhà nước ở đại
phương nhằm mục đích.
Thứ nhất, để triển khai các quyết định của các cơ quan nhà nước Trung ương.
Thứ hai, để nhân dân địa phương tham gia vào các hoạt động của các cơ quan nhà nước và quyết định những
vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương;
Thứ ba, phân cấp cho địa phương để giảm bớt công việc cho cơ quan nhà nước ở Trung ương, từ đó tạo điều
kiện cho Trung ương tập trung giải quyết những vấn đề có tính quốc gia;
Thứ tư, việc tổ chức cơ quan nhà nước ở địa phương còn thể hiện bản chất của nhà nước của dân, do dân và
vì dân mọi lợi ích nhà nước đều xuất phát từ nhân dân;
Thứ năm, là việc tổ chức cơ quan nhà nước ở địa phương cũng là để giải quyết tốt quyền lợi của Trung ương
và quyền lợi của mỗi địa phương.
Chính quyền địa phương ở các đô thị có vai trò quan trọng không chỉ trong việc thực hiện các chức năng
quản lý nhà nước trên địa bàn mà còn có vai trò đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của cả vùng hoặc
khu vực; là đơn vị hạt nhân của đơn vị hành chính – lãnh thổ lớn hơn, gắn kết chặt chẽ với các đơn vị hành
chính lãnh thổ ngoại vi và các khu vực lân cận thành các vùng, các khu vực lãnh thổ để cùng nhau giải quyết
các vấn đề về phát triển kinh tê – xã hội, về cung ứng dịch vụ công mà không bị cắt khúc bởi địa giới hành
chính.
5
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ
1.2.1. Khái niệm, vị trí, tính chất, vai trò đô thị
1.2.1.1. Một số khái niệm liên quan
Khái niện Đô thị: Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong
những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Hà Nội 1995) [49]
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống làm việc theo kiểu thành thị ( Giáo
lợi cho giao thông, thương mại phát triển.
Thứ hai, đặc điểm về dân cư: Dân cư đô thị thường không có tính chất thuần nhất như dân cư nông thôn vì
6
dân cư đô thị có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp cao và bao gồm cả dân di cư từ các khu vực khác đến.
Thứ ba đặc điểm về cơ sở hạ tầng: Cùng với sự phát triển kinh tế, đô thị có cơ sở hạ tầng tương đối phát
triển hơn so với khu vực nông thôn.
Thứ tư, đặc điểm kinh tế: Kinh tế đô thị là sự kết hợp đan xen công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương
nghiệp. Đô thị là nơi tập trung của các hoạt động thương mại, dịch vụ làm xuất hiện nhiều loại thị trường khác nhau
như thị trường lao động, thị trường dịch vụ, thị trường tài chính.
Thứ năm, đặc điểm về việc làm: Điểm khác biệt lớn giữa đô thị và nông thôn là tỉ lệ lao động phi nông
nghiệp. Đô thị là nơi tập chung của các loại hình lao động khác nhau như lao động chuyên nghiệp (có trình độ
chuyên môn cao hay lao động dịch vụ hoặc bán thời vụ, thường có mức lao động cao hơn so với mức lao động nông
thôn).
Thứ sáu, đặc điểm về văn hóa: Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, văn minh đô thị cũng có
những đặc điểm khác biệt với văn hóa nông thôn ở một số đặc điểm sau: văn hóa đô thị không thể hiện tính
liên kết cao trong cộng đồng dân cƣ nhƣ văn hóa làng xã vì nó không còn thể hiện ý thức đoàn kết cộng đồng
cao trong lĩnh vực lao động, sản xuất, đởi sống hàng ngày mà thƣờng thể hiện tính chất độc lập, tách biệt.
Thứ bảy, về trật tự an toàn xã hội: Do có sự khác biệt về điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội
nên đô thị cũng có những điểm khác biệt lớn so với nông thôn trong lĩnh vực an ninh trật tự đô thị.
1.2.2.2. Phân loại đô thị
Đô thị loại I: Là thành phố lớn có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc
- Chức năng đô thị:
+ Đô thị trực thuộc trung ương có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục
– đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước.
Đô thị loại II: Là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
- Chức năng đô thị:
+ Đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch,
Cơ sở pháp lý: điều 113, 115, 116 Hiến pháp 2013 và phần những quy định chung trong luật tổ chức chính
quyền địa phương 2015.
Như đã trình bày ở trên vị trí của Hội đồng nhân dân tao nên những tính chất đặc thu riêng của nó. Việc Hiến
pháp 2013 tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh hai tính chất của HĐND mang nhiều ý nghĩa quan trọng, hai
tính chất ấy là tính quyền lực và tính đại diện.
b, chức năng, nhiệm vụ Hội đồng nhân dân thành phố thuộc tỉnh
- Chức năng của Hội đồng nhân dân
Khoản 1 Điều 26 và điều 54 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định rõ chức năng và nhiệm vụ của
HĐND thành phố trực thuộc tỉnh. HĐND thực hiện 02 loại chức năng là “quyết định” và “giám sát”:
- Nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp,
pháp luật và trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền:
- Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân;
- Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh; biện pháp bảo đảm trật tự, an
toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan
liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính
mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn
huyện theo quy định của pháp luật;
1.2.3.2. Cơ cấu tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh
Cơ cấu tổ chức
Theo quy định tại (điều 53) Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, về Hội đồng nhân dân thành
phố trực thuộc tỉnh
Hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh
Theo quy định tại (điều 5, 86 và 87) luật tổ chức chính quyền địa phương 2015
8
Quy định về hoạt động Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số, HĐND thực
hiện 02 loại chức năng là “quyết định” và “giám sát”:
1.2.3.3. Vị trí, tính chất, chức năng nhiệm vụ quyền hạn của Uỷ ban nhân dân thành phố trực
2.1.1 Giai đoạn 1945 -1959
2.1.2. Giai đoạn 1959 - 1980
2.1.3. Giai đoạn 1980 - 1992
2.1.3.1. Từ năm 1980 đến 1986
2.1.3.2. Thời kỳ đổi mới năm 1986 đến năm 1992
2.1.4. Giai đoạn 1992 đến năm 2015:
2.2. THỰC TIỄN TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
2.2.1 Cơ cấu, tổ chức Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc
Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở thành phố
Vĩnh yên bầu ra.
Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh yên được quy định tại (điều 53
Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015) theo nguyên tắc sau đây:
a) Thành phố Vĩnh yên có 122.568 nhân khẩu theo (khoản a điều 53 luật luật tổ chức chính quyền địa
phương năm 2015) thì thành phố Vĩnh yên được bầu ba mươi hai đại biểu.
b) Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai Phó
Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng nhân dân.
c) Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên được thành lập hai ban là: Ban pháp chế và Ban kinh tế xã hội.
Ban của Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên gồm có hai Trưởng ban, hai Phó Trưởng ban và
tám Ủy viên
2.2.2 Thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên
2.2.2.1 Hoạt động ban hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên
Nhiệm kỳ 2010 - 2015, HĐND thành phố Vĩnh Yên tổ chức 16 kỳ họp; ban hành 118 nghị quyết, trong đó có
43 nghị quyết về công tác tổ chức cán bộ, 39 nghị quyết theo luật định và 36 nghị quyết chuyên đề. Đồng
thời, tiến hành 420 cuộc giám sát, 270 cuộc tiếp xúc cử tri.
2.2.2.3 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố Vĩnh Yên
a) Hoạt động giám sát tại kỳ họp:
Kỳ họp được tiến hành đúng luật định, các đại biểu HĐND cấp thành phố Vĩnh Yên thường về dự kỳ họp đạt
tỷ lệ 95% và đã làm việc thể hiện phong cách trí tuệ, đổi mới, dân chủ, hoạt động có thực quyền và hiệu lực
ý kiến phát biểu, chất vấn thảo luận tại kỳ họp diễn ra một cách nghiêm túc, sôi nổi và thiết thực, Những câu
của UBND thì đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 đã mở rộng cơ cấu tổ chức UBND theo đó tất
cả người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của UBND đều là ủy viên của UBND. Đây là quy định
nhằm phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên UBND, tăng cường hiệu lực giám sát của HĐND đối với
UBND cùng cấp thông qua cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
HĐND bầu. Về số lượng Phó Chủ tịch UBND các cấp được quy định theo phân loại đơn vị hành chính, theo
đó đối với đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) có không quá 05
Phó Chủ tịch, loại I có không quá 04 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 03 Phó Chủ tịch. Đối với
đơn vị hành chính cấp huyện loại I có không quá 03 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 02 Phó
Chủ tịch.
Như vậy: Uỷ ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên, nhiệm kỳ 2010-2015 được cơ cấu nhân sự 1Chủ tịch, 3 Phó Chủ
tịch và 5 Ủy viên (theo Luật UBND và HĐND 2003)
Về phía UBND có 1 Chủ tịch và 3 Phó chủ tịch có 5 Uỷ viên UBND, 11 phòng và tương đương trực thuộc UBND
thành phố, ngoài ra còn có một số đầu mối nữa không trực thuộc UBND, mà trực thuộc cơ quan quản lý cấp trên
như, Cục thống kê, Ngân hàng, kho bạc, Cục hải quan, Toàn án nhân dân, Viện kiểm soát, cục thi hành án dân sự.
Hiện tại nhiệm kỳ 2016-2021 UBND thành phố Vĩnh Yên được tổ chức (theo luật CQĐP 2015), được cơ cấu nhân
sự 1Chủ tịch, 3 Phó Chủ tịch và 15 Ủy viên.
Về phía UBND có 1 Chủ tịch và 3 Phó chủ tịch có 15 Uỷ viên UBND, 11 phòng và tương đương trực thuộc UBND
thành phố
* Các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân thành phố.
11
Các cơ quan chuyên môn UBND thành phố trực thuộc tỉnh được tổ chức trên cơ sở tại (khoản 1, 2 điều 55)
luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 và quy định tại điều 8 của nghị định 14/2008/NĐ-CP của chính
phủ và điều kiện thực tế tại thành phố Vĩnh Yên như sau
- Văn phòng HĐND và UBND là cơ quan tham mưu tổng hợp giúp HĐND và UBND thành phố Vĩnh Yên:
Tổ chức phục vụ hoạt động của HĐND, thường trực HĐND, các ban HĐND, các đại biểu HĐND và tham
mưu một số công việc do Chủ tịch UBND thành phố giao;
- Phòng nội vụ: Tham mưu, giúp UBND thành phố Vĩnh Yên thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nội
vụ;
2.2.4 Thực trạng hoạt động điều hành Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên
Căn cứ Luật tổ chức chính quyến địa phương 2015 tại (điều 113, 121, 112 và 123) và Nghị định số 107/CP
ngày 01/04/2004 của Chính phủ quy định số lượng Phó Chủ tịch và cơ cấu thành viên UBND các cấp, Nghị
12
định số 82/2008/NĐ-CP ngày 30/7/2008 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định
107/2004/NĐ-CP ngày 1/4/2004 và Nghị định Số: 08/2016/NĐ-CP của Chính phủ.
Quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ công tác của các thành viên Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên
ban hành theo Quyết định số 3673/QĐ- UBND ngày 08 tháng 05 năm 2010 của Ủy ban nhân dân thành phố
Vĩnh Yên nhiệm kỳ năm 2010 - 2015 như sau:
- Nguyên tắc làm việc:
UBND làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể UBND,
đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên UBND thành phố.
- Nguyên tắc phân công:
+ Chủ tịch UBND thành phố (Chủ tịch) thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Luật
Tổ chứ chính quyền địa phương năm 2015; Chủ tịch lãnh đạo công tác của tập thể UBND thành phố, Thủ
trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố, Chủ tịch UBND các xã, phường; Trực tiếp chỉ đạo điều
hành các công việc lớn, quan trọng, các vấn đề có tính chất chiến lược trên trên tất cả các lĩnh vực công tác
thuộc chức năng, nhiệm vụ của UBND thành phố
+ Phó Chủ tịch giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch. Trong phạm vi, quyền hạn, lĩnh
vực được phân công, Phó Chủ tịch có trách nhiệm và quyền hạn thay mặt Chủ tịch: Chỉ đạo các phòng, ban,
ngành thuộc UBND thành phố, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, chương trình công tác
thuộc ngành, lĩnh vực, địa phương được phân công phụ trách. Kiểm tra, đôn đốc các phòng, ban chuyên môn
thuộc UBND thành phố, trong việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, các kế hoạch,
chương trình, nhiệm vụ thuộc lĩnh vực phụ trách; phát hiện xử lý theo thẩm quyền và đề xuất những vấn đề
mới, khó khăn, vướng mắc phát sinh.
+ Ủy viên UBND thành phố được Chủ tịch phân công phụ trách một số lĩnh vực cụ thể và chịu trách nhiệm
cá nhân trước Chủ tịch, HĐND, UBND thành phố, đồng thời cùng với các thành viên UBND thành phố chịu
trách nhiệm tập thể về hoạt động của UBND thành phố trước HĐND và UBND thành phố. Tham dự đầy đủ
Một là: Với ý nghĩa HĐND phải là cơ quan quyền lực nhà nước có toàn quyền ở địa phương, vừa chịu trách
nhiệm trước nhân dân địa phương, vừa chịu trách nhiệm trước cấp trên. Quy định UBND vừa là cơ quan
chấp hành của HĐND, lại là cơ quan hành chính ở địa phương trực thuộc hai chiều vừa chịu trách nhiệm
trước HĐND vừa chịu sự chỉ đạo cơ quan hành chính cấp trên với mô hình này cả HĐND và UBND đều phụ
thuộc rất lớn vào quy định, chị đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên. Điều đó dẫn tới một hiện
tượng “bao cấp” chính quyền vừa không pháp huy được chính quyền cấp dưới, tạo ra xu thế đùn đẩy trách
nhiệm giữa các cơ quan nhà nước ở các cấp khác nhau. Theo lý thuyết khi thiêt kế bộ máy chính quyền thành
phố trực thuộc tỉnh theo quy định của Luật tổ chức CQDP năm 2015 thì các cơ này có tính tự quản khá cao.
Nhưng các cơ quan chính quyền địa phương nói chung, chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh nói riêng vừa
phải thực hiện các quyết định do mình ban hành vừa phải thực hiện pháp luật, các quyết định của cơ quan
nhà nước cấp trên. Từ dó dẫn đến mâu thuẫn do chính các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên dẫn tới
sự tự quản, tự chịu trách nhiệm của chính quyền thành phố Vĩnh Yên cũng bị hạn chế.
Hai là: Cơ chế và tổ chức của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, giám sát các cấp quá nhiều đối với
chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh nói chung và thành phố Vĩnh Yên nói riêng dẫn đến sự phụ thuộc quá
nhiều vào cơ quan cấp trên mà đáng nhẽ ra một cấp chính quyền hoàn chỉnh chỉ tuân theo quy định của pháp
luật từ đó dẫn tới sự chủ động nửa vời của chính quyền thành phố Vĩnh Yên. Mô hình tổ chức của chính
quyền thành phố trực tỉnh hay chính quyền thành phố Vĩnh Yên hiện nay chưa đảm bảo được tính tự quản và
tự chịu trách nhiệm của mình.
Những hạn chế bất cập về hoạt động :
Một là: hoạt động của HĐND rất khó khăn để thể hiện tính chủ động. Hình thức nội dung, số lượng ngày
họp của HĐND đều được quy định, có quy định cho kỳ họp bất thường nhưng số ngày họp rất ngắn do đó
HĐND chỉ thông qua những dự thảo mà các cơ quan khác đã chuận bị.
Hai là: Đại biều HĐND hầu hết là không chuyên trách, thường trực HĐND , các ban của HĐND thiếu đại
biểu chuyên trách, văn phòng HĐND có các hoạt động thực tế màng nhiều công việc hành chính.
Ba là: Hoạt động chính thức HĐND và UBND tại các kỳ họp, hội nghị, quyết định hành chính và hành vi
hành chính chưa thực sự có hiệu lực và hiệu quả những nội dung hoạt động chưa thực sự có hiệu quả trong
việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa mà chủ yếu những hoạt động phần lớn giải quyết những sự vụ trong
đời sống xã hội.
Bốn là: Hoạt động giám sát của các cơ quan chức năng chưa ngang tầm, chưa sâu, chưa thể hiện hiệu quả
nên dẫn tới tình trạng hoạt động kếm hiệu quả, lộn xộn thiếu kỷ cương vẫn diễn ra; những khiếu nại tố cáo
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đã trở thành yêu cầu cấp thiết từ thực
tiễn cuộc sống, đặc biệt trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế ở nước ta hiện nay.
Chính quyền đô thi được tổ chức hợp lý, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc nhà nước đơn nhất, quyền lực
nhà nước là thống nhất; xác định rõ vị trí, thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền đô thị trong hệ thống
cơ quan nhà nước, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tăng cường phân cấp cho chính quyền đô
thị; thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền đô thị các cấp trong phạm vi được phân
cấp.
Trong quá trình đổi mới bộ máy nhà nước Việt Nam từ 1986 đến nay tuy không có những kết quả như chính
quyền trung ương, nhưng chính quyền địa phương mà cụ thể là chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh đã có
nhiều thay đổi thể hiện trên các mặt sau:
- Chức năng thành phố trực thuộc tỉnh được đổi mới theo hướng tách quản lý nhà nước khỏi sản xuất kinh
doanh, tách quản lý nhà nước với các hoạt động sự nghiệp, cung ứng dịch vụ công thực hiện xã hội hóa một số công
việc của nhà nước, từ đó chính quyền thành phố trực thuộc tỉnh thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước liên
quan đến công tác quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra... địa phương;
Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý cho địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương trên các lĩnh
vực, nhiệm vụ quản lý, tổ chức bộ máy, biên chế và ngân sách. Đáng chú ý là giai đoạn 2001- 2010 nhà nước đã ban
hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định phân cấp quản lý về: quy hoạch kế hoạch, đầu tư và phát triển, tải
sản, ngân sách nhà nước, đất đai tài nguyên, hoạt động sự nghiệp, dịch vụ, tổ chức bộ máy, phân loại xếp hạng tổ
chức biến chế và công chức.
Xác định đúng nhu cầu số lượng đại biểu HĐND và tăng cương chất lượng hiểu quả chức năng giám sát
của cơ quan này, xác lập cơ cấu thường trực HĐND ở các cấp..
Thực hiện đúng chủ chương tinh giản và phân định chức năng, nhiệm vụ của các thành viên UBND,
CQCM thuộc UBND cũng được tinh giản mạnh theo hướng tinh gọn giảm đầu mối trung gian. Ví dụ : trước 1986
có lúc số lượng cơ quan CQCM thuộc UBND rất lớn cấp tỉnh có khoảng trên dưới 35 cơ quan nay còn 17 đến 20
quan, thành phố trực thuộc tỉnh có trên dưới 20 cơ quan, nay còn 12 đến 13 cơ quan.
Quan điểm xây dựng thành phố Vĩnh Yên
Sau gần 20 năm từ khi thị xã Vĩnh Yên được thành lập và phát triển từ đô thị loại IV rồi được nâng
cấp lên đô thị loại III thành phố trực thuộc tỉnh là thủ phủ của tỉnh Vĩnh Phúc, đến nay là đô thị loại II. Từ sự
cấp thiết đối với việc xây dựng chính quyền đô thị ở Vinh Yên và những đặc điểm chủ yếu của đô thị nêu
thuộc tỉnh trong cả nước nói chung và chính quyền thành phố Vĩnh Yên nói riêng.
Thứ nhất, là phải định hướng sự phát triển đô thị, thông qua việc xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển đô
thị qua các giai đoạn khác nhau, để xây dựng môi trường vật thể đô thị, bao gồm kết cấu hạ tầng, kiến trúc thượng
tầng, cảnh quan đô thị theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật.
Thứ hai, phải trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để dẫn dắt sự phát triển đô thị theo hướng XHCN, đặc biệt là đầu
tư xây dựng kết câu hạ tầng công cộng thiết yếu phục vụ cho các yêu cầu phát triển kinh tế, nâng cao mức sống xã
hội và cân bằng sinh thái đô thị.
Thứ ba, là phải thiết lập đồng bộ hệ thống pháp luật và thi hành nhất quán các chính sách đã ban hành để tạo môi
trường ổn định và thuận lợi cho các nhà kinh doanh trong, ngoài nước yên tâm làm ăn phát đạt; chú trọng bảo đảm
cho sự hoạt động bình thường của các loại đô thị hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, bất động sản, sức lao động … trên
địa bàn đô thị.
Thứ tư, phải hạn chế, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân
theo hướng thu hẹp chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư đô thị, khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói
giảm nghèo.
Thứ năm, phải quản lý tốt mọi tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội của khu vực
đô thị; bảo vệ môi trường sinh thái, trật tự và an ninh đô thị.
3.2.2 Giải pháp đối với xây dựng mô hình chính quyền thành phố Vĩnh Yên tinh gọn về tổ
chức, rõ về chức năng, hiệu quả trong hoạt động
17
- Chính quyền thành phố Vĩnh Yên cần phát huy trách nhiệm của người đứng đầu theo tinh thần quyền năng
lớn, trách nhiệm lớn. Ví dụ như, cần áp dụng chế độ bầu cử trực tiếp đối với thị trưởng, thống đốc theo mô
hình Hội đồng - Thị trưởng. Thị trưởng và tỉnh trưởng sẽ chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, chịu
sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Chế định bầu cử trực tiếp chức danh thị trưởng đảm bảo mở
rộng dân chủ, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành pháp ở địa phương.
- Chính quyền thành phố Vĩnh Yên phải có năng lực quản lý đô thị, khả năng giải quyết nhanh và hiệu quả
các vấn đề nảy sinh ở thành phố Vĩnh Yên. Hiệu quả là thước đo đánh giá sự thành công của mỗi cấp chính
quyền. Nguyên tắc đầu tiên để đổi mới chính quyền thành phố Vĩnh Yên cần phải dựa trên tiêu chí hiệu quả
quản lý, đo đó mô hình chính quyền thành phố Vĩnh Yên phải đảm bảo tổ chức theo hướng tinh, gọn về bộ
Thứ nhất, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền quản lý cho chính quyền thành phố Vĩnh Yên: chính
18
quyền thành phố Vĩnh Yên cần phải được phân cấp mạnh hơn và cụ thể hơn, trong đó phải phân định rõ mối
quan hệ giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương. Về cơ bản, chính quyền đô thị là một
dạng cụ thể của chính quyền địa phương nên sẽ có đầy đủ quyền hạn và chức năng nhiệm vụ của một cấp
chính địa phương. Tuy nhiên, để đảm bảo chính quyền thành phố Vĩnh Yên có đủ năng lực quản lý, phù hợp
với điều kiện đặc thù về kinh tế, chính trị, xã hội của thành phố Vĩnh Yên, đảm bảo chức năng của đô thị
trong phát triển kinh tế thì chính quyền thành phố Vĩnh Yên cần được trao quyền tự chủ hơn nữa về ngân
sách, tăng cường nguồn thu, có thể tính tới việc trao cho chính quyền thành phố Vĩnh Yên quyền quy định
một số loại thuế áp dụng ở địa phương
3.2.2.4. Kiện toàn hệ thống chính trị thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc
Hướng tới mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, thì việc kiện toàn
hệ thống chính trị tại thành phố Vĩnh Yên là hết sức cần thiết. Chính quyền đô thị không phải là một thiết chế
không thể tách rời khỏi hệ thống chính trị, do đó khi xây dựng mô hình mới cần tính đến đảm bảo vai trò
lãnh đạo của đảng, sự tham gia của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -xã hội vào quản lý đô thị. Hệ
thống các tổ chức này cũng cần được đổi mới về tổ chức để phù hợp với mô hình chính quyền đô thị mới.
3.2.2. 5. Bảo đảm kinh phí thực hiện thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc
Việc áp dụng mô hình mới vào thực tiễn đòi hỏi có một lộ trình và nguồn kinh phí đảm bảo thực hiện. Các
chi phí có thể phát sinh khi áp dụng mô hình mới đó là:
- Chi phí liên quan đến hiện đại hóa công sở, đầu tư cơ sở vật chất, thay đổi các biểu mẫu, giấy tờ;
- Chi phí đào tạo lại nguồn nhân lực;
- Chi phí nghiên cứu, đánh giá tác động của mô hình mới ở một số địa phương cụ thể.
3.2.3 Giải pháp đối với phân cấp quản lý, thẩm quyền cho chính quyền thành phố Vĩnh yên.
Thứ nhất, cần khắc phúc tình trạng trung ương ôm nhiều việc và làm thay địa phương. Tình trạng
này dẫn đến hậu quả là các cơ quan cấp cao có quyền giải quyết lại không giải quyết tốt, còn các cơ quan cấp
cơ sở là sát với người dân có đầy đủ năng lực để thực thi nhưng lại không được phân cấp thẩm quyền để giải
quyết, để tránh quan liêu, đồng thời giảm bớt ách tắc trong giải quyết công việc đỏi hỏi phân cấp cho chính
quyền thành phố Vĩnh Yên, tăng cường thêm nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền thành phố Vĩnh Yên (mà
hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có
năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân thông qua các hình thức đào tạo, bồi dưỡng
phù hợp, có hiệu quả.
Như vậy, chính quyền thành phố Vĩnh Yên cần được tổ chức theo mô hình riêng cũng như cần có năng lực
quản lý đặc biệt là trong hoạch định chính sách, lập quy hoạch, kế hoạch, quản lý dân cư và cung cấp dịch vụ
công. Việc đẩy mạnh phân cấp quản lý và tiến hành phân cấp cụ thể cho chính quyền thành phố Vĩnh Yên, là
điều kiện tiên quyết đảm bảo chính quyền thành phố Vĩnh Yên có đủ năng lực quản lý những vấn đề phát
sinh ở thành phố Vĩnh Yên một cách hiệu quả và kịp thời nhất.
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay là các giải pháp tăng cường phân cấp giữa Chính phủ và chính quyền địa
phương, một mặt còn thiếu tính đồng bộ, chưa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm
của từng cấp chính quyền địa phương; chính quyền địa phương các cấp chưa có đủ thẩm quyền và các điều
kiện cần thiết để chủ động, năng động trong việc thực hiện các nhiệm vụ mà địa phương có khả năng làm
được, nhưng mặt khác, một số nhiệm vụ cần quản lý tập trung, thống nhất lại được chuyển giao cho chính
quyền địa phương, làm giảm hiệu quả quản lý của nền hành chính nhà nước. Đồng thời, sự khác nhau về mô
hình tổ chức và chức năng, nhiệm vụ giữa chính quyền thành phố với chính quyền tỉnh, chính quyền, thành
phố thuộc tỉnh, thị xã với chính quyền huyện, cũng như chính quyền, phường và chính quyền xã chưa được
làm rõ; chính quyền cấp xã, phường là nơi trực tiếp tổ chức các hoạt động quản lý, điều hành các công việc
hành chính ở cơ sở, trực tiếp tổ chức việc thi hành pháp luật, nhưng thẩm quyền và trách nhiệm chưa được
xác định một cách tương xứng.
Vì vậy chúng ta nên trao thêm quyền cho cấp cơ sở đó là chính quyền xã, phường được xác định là cấp cơ
sở, gần dân nhất, nơi dân trực tiếp trước tiên để giải quyết các công việc hành chính như chứng nhận, xác
thực, đăng ký…; tiếp nhận và xử lý theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân.
Cấp xã, phường cũng là nơi có nhiều vấn đề phải được giải quyết thông qua cộng đồng như xây dựng, sửa
chữa, bảo dưỡng đường sá đi lại, công trình phúc lợi, các vấn đề về văn hoá, xã hội…Mặt khác, xã, phường
20
là nơi các cộng đồng dân cư sinh sống, được hình thành và gắn bó thông qua quan hệ láng giềng, có nhiều
mối quan hệ rất cần được giải quyết không chỉ trên cơ sở pháp luật mà còn cả trên cơ sở đồng thuận và tự
nguyện, tự quản. Vì vậy, cần phân quyền nhiều hơn theo hướng bảo đảm quyền tự quản địa phương cho
trọng sự giám sát xã hội, sự phản biện xã hội đối với việc ban hành các chính sách, pháp luật của chính
quyền địa phương.
21
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3
Hướng tới mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu về xây dựng một hệ thống
chính quyền đô thi hoạt động có hiệu lực hiệu quả, có trách nhiệm, minh bạch đã được đề cập trong chương
trình cải cách hành chính 2001 – 2010 và tiếp tục được khẳng định trong giai đoạn 2011 – 2020. Để đáp ứng
được nhu cầu đặt ra trong tình hình mới từ sự cấp thiết đối với việc xây dựng chính quyền đô thị ở nước ta và
những đặc điểm chủ yếu của đô thị nêu trên, đòi hỏi tổ chức bộ máy chính quyền đô thị phải có đặc thù riêng
để đảm bảo cho việc quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công ở đô thị được thực hiện tập trung, thống
nhất, nhanh nhạy, giảm thiểu các tầng nấc trung gian và thực sự có hiệu lực, hiệu quả. Đối với chính quyền
thành phố Vĩnh yên, những giải pháp được đưa ra cần thực hiện đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực hiệu quả
trong tổ chức hoạt động trên đia bàn thành phố Vĩnh yên tỉnh vĩnh phúc.
22
KẾT LUẬN
Đề tài đã nghiên cứu, đề xuất các nguyên tắc và giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới tổ chức, hoạt
động chính quyền thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Trên thế giới hiện nay tổ chức, hoạt động bộ máy chính quyền đô thị ở một số nước phát triển
thường tổ chức không có nhiều cấp. Chính quyền địa phương được tổ chức cụ thể, được tổ chức theo mô
hình chính quyền đô thị hay chính quyền nông thôn. Việc tổ chức mô hình như vậy dựa trên trình độ phát
triển dân trí đạt mức cao, điều kiện nhà nước pháp quyền đã được hoàn thiện, trình độ tổ chức quản lý nhà
nước, đặc biệt là điều kiện kinh tế rất phát triển.
Trong bối cảnh nước ta hiện nay đang hội nhập sâu rộng với quốc tế, chúng ta đang xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chuyển từ nền kinh tế quan liêu tập chung bao cấp sang nền kinh tế thị
trường, Trong những năm gần đây, Đảng ta đang từng bước quan tâm, định hướng xây dựng chính quyền đô