Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND tỉnh đắk lắk - Pdf 41

BỘ NỘI VỤ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HUỲNH NGỌC HOÀNG HẢI

VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH
TRONG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
Mã số: 60 38 01 02.

ĐẮK LẮK – NĂM 2016

1


BỘ NỘI VỤ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HUỲNH NGỌC HOÀNG HẢI

VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH
TRONG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài............................................................ 3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .......................................................... 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .................................................. 6
6. Ý nghĩa của luận văn .......................................................................................... 6
7. Kết cấu của Luận văn ......................................................................................... 6
Chương 1: .............................................................................................................. 7
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC ........................ 7
VÀ VAI TRÒ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN ...................................................................................................................... 7
1.1. VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC.................. 7
1.1.1. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước
1.1.2. Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân

7

9

1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân 10
1.1.4. Nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sat nhân dân
.13
1.2. KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ BẢO VỆ QUYỀN
CON NGƯỜI TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM.......................... 15
1.2.1. Khái niệm về quyền con người và bảo vệ quyền con người

15

1.2.2. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam
20

ĐẮK LẮK ........................................................................................................... 56
2.1.1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH ĐĂK LĂK.

56

2.1.2. KHÁI QUÁT VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK
59
2.2. THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK TRONG CÁC GIAI ĐOẠN TỐ TỤNG HÌNH SỰ
............................................................................................................................. 60
2.2.1. Trong giai đoạn khởi tố và điều tra 60
2.2.2. Trong giai đoạn truy tố và xét xử vụ án hình sự 67
2.2.3. Trong giai đoạn thi hành án hình sự 74
5


2.2.4. Đánh giá chung 79
2.2.4.1. Những thành tựu và nguyên nhân của chúng 79
2.2.4.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của chúng

80

2.3. GIẢ PHÁP BẢO ĐẢM VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP
TỈNH TRONG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI……………….……………….82
2.3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò bảo
vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân 82
2.3.2. Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền con
người của Viện kiểm sát nhân dân 90
2.3.2.1. Đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm sát
91

luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”.
Có nhiều biện pháp tổng hợp để Nhà nước thực hiện bảo vệ quyền con
người, từ xây dựng hệ thống bộ máy, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho đến tổ
chức thực hiện pháp luật. Trong đó, bảo vệ con người thông qua các thiết chế tư
pháp là vô cùng cấn thiết. Hiến pháp năm 2013 ra đời đã hoàn thiện thêm một
bước về tổ chức và phân công thực hiện quyền lực nhà nước, các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp, theo đó, Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực
hiện quyền hành pháp và tòa án thực hiện quyền tư pháp, viện kiểm sát thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Các thiết chế này có trách nhiệm bảo
vệ Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Nói về vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát, Hiến pháp năm
2013 khẳng định: “1. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp. ...3. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo
đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (Điều 107). Luật Tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 ra đời thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, thể chế
7


hóa quan điểm lãnh đạo của Đảng về cải cách hệ thống pháp luật và tư pháp nước
ta gắn với vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát. Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02.6.2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 đã chỉ rõ: “Trước mắt Viện kiểm sát nhân dân vẫn giữ nguyên chức năng như
hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Viện kiểm
sát nhân dân tổ chức cho phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án.
Hiện nay, trong bối cảnh Nhà nước ta đang tích cực hoàn thiện bộ máy nhà
nước, hệ thống pháp luật theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, trong đó có những bộ
luật cơ bản nhằm bảo vệ quyền con người như: Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng
hình sự, thì việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò bảo vệ quyền con người

tác giả (Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)),
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
- Đại học quốc gia Hà Nội - Khoa Luật (2006), Bảo vệ quyền con người bằng
pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia, Hà Nội.
- GS.TSKH. Lê Văn Cảm (chủ biên) (2009), Hệ thống tư pháp hình sự trong
giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Tháng 8/2013), Báo cáo chuyên đề “Xác
định vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát hoạt động xét xử”, Hà Nội.
- Vụ Công tác Lập pháp, Viện Khoa học Kiểm sát (2003), Những sửa đổi cơ
bản của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, NXB Tư pháp, Hà Nội.
- Hội đồng Phối hợp Phổ biến Giáo dục pháp luật Trung ương (2013), Quyền
con người và chính sách pháp luật về quyền con người, Đặc san tuyên truyền pháp
luật số 06/2013.
- TS. Phạm Mạnh Hùng (2011), “Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực
hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Viện
kiểm sát”, Tạp chí kiểm sát (21).
- PGS.TS.Nguyễn Ngọc Chí (2007), “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật
tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 23, tr. 64-80.
- Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn
điều tra của tác giả Lê Hữu Thể và các tác giả (năm 2008).
9


- Lại Văn Trình, Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật
TP. Hồ Chí Minh, năm 2011;
- Trần Hoàng Nhung, Nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân của
Viện kiểm sát nhân dân – Qua thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Vụ Bản,
tỉnh Nam Định, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội,

theo quy định hiện hành.
+ Nghiên cứu về thực tiễn tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk
hiện nay; nghiên cứu thực tiễn thực hiện vai trò bảo vệ quyền con người thông qua
các mặt công tác của Viện kiêm sát nhân dân tỉnh, tìm hiểu các thành tựu, hạn chế
và các nguyên nhân của chúng;
+ Đề xuất những giải pháp nâng cao vai trò bảo vệ quyền con người của
Viện kiểm sát nhân dân nói chung trong giai đoạn hiện nay, trong đó có Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quy định của pháp luật hiện hành về vai trò bảo vệ quyền con người của
Viện kiểm sát nhân dân và việc thực hiện vai trò đó trong thực tiễn ở Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi thời gian: từ 2013 đến nay (2016).
- Phạm vi nội dung: luận văn nghiên cứu công tác trong lĩnh vực hình sự;
(một số số liệu, thông tin khác có liên quan có giá trị tham khảo).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về bảo vệ quyền con người.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả sử dụng phương pháp này để
nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan đến vai trò bảo vệ quyền con người
11


thông qua các mặt công tác của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; các đề tài khoa học,

Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ BẢO VỆ QUYỀN CON
NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1.1. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước
Về vị trí, vai trò: Việt Nam hiện tại là một nước theo hệ thống Xã hội chủ
nghĩa. Bộ máy nhà nước của các nước nằm trong hệ thống các nước xã hội chủ
nghĩa (XHCN) được xây dựng trên nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân, nhân
nhân thực hiện quyền lực của mình thông qua các cơ quan đại diện là Quốc hội và
Hội đồng nhân dân các cấp. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất. Quốc hội
không trực tiếp thực thi quyền lực mà giao cho các cơ quan nhà nước, trong đó
Viện kiểm sát nhân dân được giao chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nói
chung (Hiến pháp 1960, 1980). Hiến pháp 1992 quy định Viện kiểm sát nhân dân
(VKSND) kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố; Hiến
pháp 1992 sửa đổi năm 2001, Hiến pháp năm 2013 quy định VKSND thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Chức năng thực hành quyền công tố
là chức năng chủ yếu của Viện kiểm sát.
Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta được thành lập ngày 26 tháng 7 năm 1960
bằng một đạo luật là Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960.
Yêu cầu đặt ra đối với các Kiểm sát viên là phải hành động một cách vô tư,
khách quan, căn cứ vào các tiêu chí pháp luật, không thiên vị. Với chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thì cần tổ chức Viện kiểm
sát thành một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập. Từ năm 1945 đến nay, việc xác
định vị trí của cơ quan Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước ta luôn luôn thể hiện
xu hướng khẳng định sự độc lập của hệ thống cơ quan này. Từ khi thành lập Viện
kiểm sát nhân dân năm 1960, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, Viện kiểm
13


hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì Viện kiểm sát là một trong những cơ quan thể
14


hiện trực tiếp bản chất của Nhà nước ta, là một bộ phận quan trọng và không thể
thiếu trong bộ máy Nhà nước. Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định nhiệm vụ
của Viện kiểm sát nhân dân là: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp
luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
1.1.2. Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân
Theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, Viện kiểm sát nhân dân
Việt Nam là một hệ thống độc lập và được được tổ chức ở 4 cấp, gồm:
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (hiện có 3 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh);
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (hiện có 63
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh).
- Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (hiện có
691 Viện kiểm sát cấp huyện tại 691 quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh).
Trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có các Viện kiểm sát quân sự, gồm:
- Viện kiểm sát quân sự Trung ương.
- Viện kiểm sát quân sự cấp Quân khu, Quân chủng, Quân đoàn...
- Viện kiểm sát quân sự cấp Khu vực.
Quy định như vậy là sự thể chế hóa quy định trong Hiến pháp 2013, và đã có
nhiều thay đổi so với mô hình Viện kiểm sát theo Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ
sung năm 2001 và Luật TCVKSND 2002. Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung
năm 2001 quy định hệ thống Viện kiểm sát gồm:"Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự”.Quy định này
là nhằm xác định hệ thống Viện kiểm sát được tổ chức theo địa giới hành chính từ

huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; (và hệ thống Tòa án
quân sự) (Theo Điều 3 Luật Tổ chức tòa án nhân dân 2014).
1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
- Chức năng, nhiệm vụ chung của Viện kiểm sát nhân dân
Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định về chức năng của Viện kiểm sát là:
“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”.
16


Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Viện kiểm sát kiểm sát nhân
dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần
bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện
kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp ở địa phương mình. Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật.
Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ:
“bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
(Khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013);
“bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm
chỉnh và thống nhất”. (Khoản 2 Điều 2 Luật TCVKSND 2014).
- Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được
thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và
trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

trọng và bảo vệ;
iii) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi
hành nghiêm chỉnh;
iv) Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử
lý kịp thời, nghiêm minh.
Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân
dân có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 4 Luật tổ chức VKSND 2014.
1.1.4. Nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sat
nhân dân:
Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta nói chung. Song, do có vị trí, chức
năng và nhiệm vụ mang tính đặc thù nên hệ thống các Viện kiểm sát nhân dân
18


được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù. Đó là nguyên tắc tập
trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào
bất cứ một cơ quan nhà nước nào ở địa phương.
- Nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành.
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc tập trung dân chủ và nhằm bảo
đảm tính thống nhất của pháp chế.
Các cơ quan nhà nước ở địa phương một mặt trực thuộc Chính phủ hoặc Bộ
chủ quản, mặt khác lại trực thuộc Hội đồng nhân dân hoặc ủy ban nhân dân địa
phương. Nguyên tắc này được gọi là nguyên tắc phụ thuộc hai chiều.
Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta không được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc phụ thuộc hai chiều nêu trên, mà theo nguyên tắc tập trung, thống nhất
lãnh đạo trong ngành.
Theo nguyên tắc này, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp trên. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương,

Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Điều đó cũng có nghĩa là
các cơ quan nhà nước ở địa phương không có quyền can thiệp vào hoạt động của
Viện kiểm sát nhân dân.
Về mặt tổ chức, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định bộ
máy và biên chế của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên các Viện kiểm sát nhân dân địa
phương.
Thừa nhận nguyên tắc không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa
phương cũng cần lưu ý là, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa
phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo
cáo công tác trước Hội đồng nhân dân, trả lời chất vấn của các đại biểu Hội đồng
nhân dân về tình hình chấp hành pháp luật ở địa phương và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân ở địa phương. Mặt khác, qua thực tiễn hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân, Viện trưởng có quyền kiến nghị với Hội đồng nhân dân về việc
phòng ngừa tội phạm và những biểu hiện vi phạm pháp luật để bảo đảm cho pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh.
20


1.2. KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ BẢO VỆ QUYỀN CON
NGƯỜI TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.2.1. Khái niệm về quyền con người và bảo vệ quyền con người
1.2.1.1. Khái niệm quyền con người
Trong lịch sử nhân loại trước thế kỷ XVII, đã hình thành hai quan điểm chủ
yếu, khác nhau về quyền con người.
Quan niệm thứ nhất, những người theo học thuyết về quyền tự nhiên
(natural rights) xuất phát từ chỗ coi con người là một thực thể tự nhiên, vì vậy
quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được

người. Theo Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc về quyền con người (Office of
High Commissoner for Human Rights - OHCHR), quyền con người là những bảo
đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân
và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà
làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản
(fundamental) của con người [25, tr.37].
Bên cạnh định nghĩa nêu trên, cũng có một định nghĩa khác về quyền con
người thường được nhắc đến, theo đó, “quyền con người là những sự được phép
(entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới
tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội... đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì
họ là con người” [25, tr.37].
Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan
nghiên cứu và các chuyên gia từng nêu ra. Theo PGS.TS Nguyễn Đăng Dung,
Quyền con người: Đó là những quyền cơ bản nhất của con người, được có
một cách tự nhiên gắn bó mật thiết với con người - một động vật cao cấp có lý trí,
và có tình cảm làm cho con người khác với các động vật khác, mà nhà nước thành
lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mình là phải bảo vệ
những quyền đó [15].
Còn theo TS Trần Quang Tiệp, đưa ra một định nghĩa ngắn gọn, khá đầy đủ
và cụ thể về quyền con người như sau: “Quyền con người là những đặc lợi vốn có
tự nhiên mà chỉ có con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định” [15].
22


Cho đến nay, giữa các nhà khoa học - luật gia trong và ngoài nước vẫn còn
nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm quyền con người, nhưng xét chung, quyền
con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý
quốc tế [24].

pháp luật còn thiết lập nghĩa vụ của những chủ thể có liên quan trong việc tôn
trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân [45].
Như vậy, cho đến nay, chúng ta phải thừa nhận rằng chưa có một định nghĩa
triết học kinh điển nào về quyền con người. Bên cạnh việc không có một định
nghĩa tiêu chuẩn thống nhất, cách hiểu về quyền con người cũng cho thấy có sự
khác biệt. Thứ nhất, hiện đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nguồn
gốc, bản chất của quyền con người. Thứ hai, quyền con người được xem xét dưới
nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, đạo đức, chính trị, pháp luật, tôn giáo. mà
mỗi lĩnh vực lại tiếp cận khái niệm này ở một góc độ riêng, tuy nhiên không lĩnh
vực nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người.
Tùy vào tính chất chủ quan của mỗi người, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu mà
quyền con người được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Ở cấp độ quốc tế,
định nghĩa về quyền con người phổ biến nhất vẫn là định nghĩa của Cao ủy LHQ
về quyền con người, theo đó: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn
cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc
sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản
của con người” [25, tr.41].
Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa về quyền con người như
sau: Quyền con người là quyền mà con người được hưởng trong những điều kiện
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định và được nhà nước đảm bảo thông qua
hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
Định nghĩa này đã chỉ ra được những đặc điểm thuộc về bản chất của khái
niệm về quyền con người như nó là quyền tự nhiên, vốn có của con người, được bảo
vệ bằng pháp luật quốc gia.

1.2.1.2. Khái niệm bảo vệ quyền con người
Là một phạm trù đa diện, song quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn
cả với pháp luật. Điều này trước hết là bởi cho dù quyền con người có là bẩm sinh,
vốn có hay phải do các nhà nước quy định, thì việc thực hiện các quyền vẫn cần có
24

cho các quy định đó được thực hiện trong thực tế, tạo thành đảm bảo pháp lý thực
hiện quyền con người. Nói cách khác, đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status