PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực học tập của học SINH TRONG dạy học môn GDCD lớp 11, PHẦN “CÔNG dân với các vấn đề CHÍNH TRỊ xã hội” ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG lý tử tấn – hà nội - Pdf 41

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN
******

LA THỊ CÔNG

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 11, PHẦN “CÔNG
DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI” Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÝ TỬ TẤN – HÀ NỘI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: GIÁO DỤC CÔNG DÂN

HÀ NỘI, 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN
******
LA THỊ CÔNG

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 11, PHẦN “CÔNG
DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI” Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÝ TỬ TẤN – HÀ NỘI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM VĂN HÙNG

HS
PPDH
PP
THPT

Viết đầy đủ
Giáo viên
Giáo dục công dân
Học sinh
Phương pháp dạy học
Phương pháp
Trung học phổ thông


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài

Môn GDCD ở trường phổ thông giữ vị trí và nhiệm vụ quan trọng trong
việc đào tạo thế hệ trẻ. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy rằng HS phổ thông rất
ít chú ý đến môn học này. Đó là do quan niệm chưa đúng về bộ môn GDCD –
môn phụ trong giáo dục ở các trường phổ thông. Tuy nhiên nguyên nhân quan
trọng phải thừa nhận là do chất lượng giảng dạy của chính những những giáo
viên dạy GDCD hiện nay. Hoạt động giảng dạy vẫn theo hướng vai trò trung
tâm, chủ đạo thuộc về giáo viên, còn HS chủ yếu vẫn thụ động, phụ thuộc vào
giáo viên trong quá trình học tập và tiếp nhận tri thức. Điều này đã làm giảm
đáng kể chất lượng dạy học. Cần tạo môi trường để HS tích cực tranh luận
đưa ra quan điểm của mình, từ đó xác định, điều chỉnh lại cho phù hợp, để
biến những kiến thức thành niềm tin, thành tri thức của mình.

Từ những lí do nêu trên, tôi đã chọn vấn đề : Phát huy tính tích cực học
tập của HS trong dạy học môn GDCD lớp 11, phần “Công dân với các vấn đề
chính trị xã hội” ở trường THPT Lý Tử Tấn - Hà Nội, làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2.

Lịch sử nghiên cứu
Việc phát huy tính tích cực của người học trong quá trình dạy học
từ lâu đã được những nhà giáo dục coi là một trong những điều kiện cơ
bản nhất để đạt kết quả trong quá trình dạy học. Ngay từ thời cổ đại,
các nhà giáo dục đã chú ý đến việc tìm tòi các biện pháp để phát huy
tính tích cực nhận thức của người học. Socrate (469-399 TCN) là một
triết gia và cũng là một nhà giáo dục nổi tiếng. Phương pháp nổi bật
của ông trong giáo dục là dùng đàm thoại để tiến hành giáo dục. Ông
thường đặt câu hỏi để môn đệ phải tìm tòi, suy nghĩ trả lời, thấy được
cái sai, cái đúng. Khổng Tử (551 - 479 TCN) cũng cho rằng trong
giảng dạy người thầy chỉ “gợi lên một mối”, rồi để cho người học tự
mình suy nghĩ mà hiểu điều đó. Phương pháp này đã tạo điều kiện cho
người học phát huy khả năng suy luận và năng lực phát hiện, lý giải
vấn đề, phát huy tính tích cực nhận thức của mình.

2


Từ đầu thế kỷ XX đến nay, việc dạy học tích cực được đề cập đến
khá rầm rộ dưới nhiều thuật ngữ khác nhau như “dạy học lấy HS làm
trung tâm”, “dạy học hướng vào người học”, “dạy học tập trung vào
người học”, “PP dạy học tích cực”, “tư tưởng dạy học tích cực”… Từ
đó “phương pháp tích cực” được sử dụng một cách phổ biến ở châu Âu.
Cùng với xu thế trên của thế giới, ở Việt Nam việc dạy học theo hướng

giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy, hướng dẫn học sinh tự học
môn GDCD đề từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả môn học.[8]
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt – Viện khoa học giáo dục trong cuốn
“Giáo dục học” tập I đã nhấn mạnh: Trong dạy học nhất định phải gắn
tri thức học sinh đã học với thực tiễn bằng những hoạt động cụ thể, có
như vậy mới đảm bảo tính nguyên tắc thống nhất giữa lí luận với thực
tiễn, một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học.[27]
Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga, trong cuốn “Phương pháp
dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông” cho
rằng: “Có thể nói, định hướng chung của việc đổi mới phương pháp
dạy học là tăng cường vai trò chủ động, tích cực, tự lực và sáng tạo của
học sinh trong quá trình dạy học, khắc phục tình trạng dạy học thầy
thuyết trình, trò thụ động nghe, ghi chép”. [11]
Các nhà giáo dục học Việt Nam như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt,
trong cuốn “Giáo dục học” đã nêu lên những phẩm chất quan trọng của
hoạt động nhận thức đó là: tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập và tác
dụng của chúng đối với kết quả học tập của học sinh.
Những công trình nghiên cứu trên là những gợi mở quý báu về
mặt lí luận giúp tôi tìm được hướng giải quyết các nhiệm vụ của khóa
luận. Phát huy tính tích cực học tập của học sinh - vấn đề này đặc biệt
quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học ngày nay nói
chung và dạy học môn GDCD nói riêng.
Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở khoa học của vấn đề phát huy tính tích cực trong học tập
của học sinh qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc
phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học môn giáo dục công
dân lớp 11, phần “Công dân với các vấn đề chính trị xã hội” ở trường THPT
Lý Tử Tấn - Hà Nội.


với các vấn đề chính trị xã hội”.
Chương II: Một số biện pháp phát huy tính tích cực học tập của học
sinh trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 11, phần “công dân với
các vấn đề chính trị xã hội” ở trường THPT Lý Tử Tấn – Hà Nội.

PHẦN NỘI DUNG

5


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH
CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO
DỤC CÔNG DÂN LỚP 11, PHẦN “CÔNG DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ
CHÍNH TRỊ XÃ HỘI”.
1.1. Cơ sở lí luận của việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh
thông qua dạy học môn giáo dục công dân lớp 11, phần “Công dân
với các vấn đề chính trị xã hội”.
1.1.1. Quan niệm tính tích cực và phát huy tính tích cực học tập của học
sinh
 Quan niệm về tính tích cực
Trong học tập, hoạt động nhận thức của HS đi từ nhận thức cảm tính đến
nhận thức lí tính và trở về với thực tiễn. Quá trình này chỉ được hình thành
khi HS có những phẩm chất: Tự giác, tích cực, độc lập nhận thức dưới sự điều
khiển của thầy giáo. Từ thái độ tự giác nhận thức, mới phát triển ý thức tích
cực nhận thức của HS, chỉ có tích cực nhận thức HS mới có sự độc lập, sáng
tạo trong nhận thức. Như vậy, tích cực nhận thức là yếu tố trung gian, quan
trọng trong hoạt động nhận thức của học sinh, khái niệm đó được hiểu như thế
nào?
Theo từ điển tiếng Việt [ Viện ngôn ngữ học, 1999], tích cực nghĩa là có
ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển. Người tích cực là

trong những nhiệm vụ chủ yếu nhằm đào tạo những con người năng động góp
phần phát triển cộng đồng.
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu rằng “ tính tích cực” là ý thức, thái
độ hoạt động tích cực của mỗi người trong quá trình nhận thức, nhằm đạt
được hiệu quả cao những mục đích đã đề ra trong hoạt động. Tính tích cực là
cơ sở thuận lợi để phát triển các năng lực khác trong hoạt động nhận thức của
mỗi người.
 Quan niệm về tính tích cực học tập của học sinh:
Tính tích cực học tập của HS là sự ý thức tự giác của HS về mục đích
học tập, thông qua đó HS sử dụng ở mức độ cao các chức năng tâm lí
để giải quyết các nhiệm vụ học tập có hiệu quả.

7


Các cấp độ của tính tích cực học tập
Dưới góc độ lí luận dạy học, quá trình phát triển của tính tích cực nhận
thức trải qua các giai đoạn chủ yếu sau:
Thứ nhất là, tính tự giác: Là giai đoạn xác định ý thức, thái độ, tinh thần
trách nhiệm học tập. Nó là cơ sở của tính tích cực học tập của HS.
Thứ hai là, tính tích cực: Có sự kết hợp của nhận thức, tình cảm, ý chí.
Thứ ba là, tính độc lập: Tương đương với tính tích cực sáng tạo. Là giai
đoạn cao nhất của tính tích cực, biểu hiện ở chỗ HS tự mình phát hiện được
vấn đề, tự mình đề xuất được cách giải quyết vấn đề.
Tính tích cực hoạt động học tập, về tính chất là tính tích cực nhận thức,
đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng, trí tuệ và nghị lực cao trong quá
trình chiếm lĩnh tri thức. Tính tích cực học tập ở HS THPT đạt cấp độ từ thấp
đến cao như:
Bắt chước: HS cố gắng thực hiện theo các mẫu hoạt động của thầy cô. Nhờ
đó, kinh nghiệm được tích lũy qua kinh nghiệm của người khác. Bắt chước là

dạy học thì việc xem xét bản chất của phát huy tính tích cực phải được đặt
ra trong một giới hạn nhất định. Vì thế, cần hiểu chính xác phát huy tính
tích cực có nghĩa là làm cho người học sống và làm việc tích cực đến mức
tối đa so với tiềm năng và bản chất của mỗi người, so với những điều kiện
và cơ hội thực tế mà mỗi người có được.
Phát huy tính tích cực học tập của học sinh
Có thể nói tính tích cực là một trong những phẩm chất quan trọng
trong hoạt động nhận thức, mặt chất lượng của nhân cách, là điều kiện cơ
bản giúp HS nắm vững tài liệu học tập, biết hướng sự chú ý, tập trung của
mình vào hoạt động học tập, hình thành nhu cầu nhận thức, sẵn sàng tích
cực hoạt động sức lực và trí tuệ để hoàn thành các nhiệm vụ học tập.
Con người là một chủ thể có ý thức trong hoạt động xã hội. Sự phát
triển của con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó hoạt động tích
cực của bản thân họ là yếu tố quyết định trực tiếp. Do đó muốn phát triển
con người phải tích cực trong hoạt động của mình, cho dù mọi điều kiện,
hoàn cảnh học tập có thuận lợi đến đâu chăng nữa, nếu không có sự nỗ lực
của bản thân thì sự học tập không thể đạt được kết quả cao. Yếu tố quyết
9


định trực tiếp chất lượng học tập đó là sự nỗ lực, tích cực, cố gắng của
mỗi cá nhân.
Trong việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, việc phát huy
tính tích cực của HS trong học tập là một biện pháp chủ yếu để nâng cao
chất lượng giáo dục ở nhà trường phổ thông. Vấn đề phát huy tính tích
cực học tập của HS có ý nghĩa rất lớn đối với việc dạy học nói chung, dạy
học GDCD nói riêng ở nhà trường THPT.
Tính tích cực học tập của HS phát triển theo bề rộng và chiều sâu, từ
đó được nâng cao. Trước tiên cá nhân có tính tích cực học tập ở một hay
một vài môn học, ở mức độ hoàn thiện thấp, sau sẽ phát triển tính tích cực

+ Hoạt động học tập có hiệu quả: biểu hiện ở kết quả học tập môn GDCD.
Tính tích cực học tập môn GDCD biểu hiện ở những dấu hiệu như: Hăng
hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích
phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải
thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ, chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng
đã học để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì
hoàn thành các bài tập môn GDCD, không nản trước những tình huống khó
khăn, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên những cái đã biết,
sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống.
• Mục tiêu môn giáo dục công dân:
Về kiến thức: cung cấp cho HS những hiểu biết ban đầu về thế giới quan
duy vật và PP luận biện chứng; hiểu các giá trị đạo đức, pháp luật cơ bản của
con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; biết được bản chất của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; vai trò của nhà nước trong việc
đảm bảo thực hiện pháp luật, hoạch định chính sách và quản lí kinh tế; hiểu
đường lối, quan điểm của Đảng; các chính sách quan trọng của Nhà nước về
xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong gia đoạn hiện nay; hiểu trách nhiệm của
công dân trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách,
pháp luật của nhà nước; hiểu trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tham gia phát
triển kinh tế của công dân.
Về kỹ năng: trên cơ sở những kiến thức được cung cấp, HS biết cách vận
dụng những kiến thức đó vào phân tích, đánh giá các hiện tượng, các sự kiện,
các vấn đề trong thực tiễn xã hội cuộc sống phù hợp với lứa tuổi; biết lựa
chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội; bảo vệ

11


cái tốt, cái đúng cái đẹp và đấu tranh, phê phán, lên án đối với những hành vi,
hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống phù hợp với khả năng của bản thân.

đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Học sinh học các tri thức của

12


phần 5 (Công dân với pháp luật), đây là những tri thức thuộc bộ môn pháp
luật, là sự phát triển tiếp nối phần pháp luật ở bậc Trung học cơ sở, nhằm
cung cấp những hiểu biết cơ bản về bản chất, vai trò, vị trí của pháp luật, giúp
học sinh chủ động, tự giác điều chỉnh hành vi của cá nhân và đánh giá được
hành vi của người khác theo quyền hạn và nghĩa vụ của công dân trong giai
đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Từ những điều trên tôi nhận thấy giáo dục phẩm chất chính trị tư tưởng
đạo đức cho HS là nhiệm vụ của tất cả các môn học và mọi hoạt động giáo
dục của nhà trường. Nhưng theo chức năng của mình, môn GDCD có vị trí rất
quan trọng, trực tiếp trang bị cho HS cơ sở lí luận và hành vi ý thức về những
quan niệm đạo đức, ý thức chính trị, chế độ xã hội, pháp luật, quyền và nghĩa
vụ của nhân dân, các chính sách của đảng và nhà nước.
 Đặc điểm nội dung phần công dân với các vấn đề chính trị xã hội
Cùng với các môn khoa học cơ bản trong chương trình giáo dục phổ
thông trung học ở nước ta hiện nay, GDCD có một vai trò quan trọng trong
đào tạo, phát triển năng lực con người – những công dân tương lai của thế kỉ
XXI. Đây là một môn khoa học chính trị - xã hội nhằm trang bị cho HS kiến
thức cơ bản về thế giới quan và PP luận duy vật biện chứng, những phạm trù
đạo đức và một số phạm trù và qui luật kinh tế cơ bản; bản chất nhà nước
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hiểu được bản chất, vai trò của pháp
luật với sự phát triển của nhân loại. Thông qua tri thức về các vấn đề chính trị
xã hội được trình bày trong 8 bài phần công dân với các vấn đề chính trị xã
hội lớp 11, thông qua những bài giảng, tiết dạy của giáo viên HS biết tự giác
sống và học tập theo những chính sách mà đảng và nhà nước đề ra.
Về cấu trúc nội dung chương trình phần công dân với các vấn đề chính trị

định trình bày 4 chính sách, trong chương trình mới không trình bày chính
sách xã hội nhưng bổ sung thêm hai chính sách (chính sách dân số và giải
quyết việc làm, chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường). Số lượng và thứ
tự trình bày các chính sách chỉ có ý nghĩa tương đối. Trách nhiệm công dân
đối với các chính sách được coi trọng ở tất cả các bài.

14


Có thể nhận thấy, tri thức của phần này chủ yếu được xây dựng dựa trên
các môn khoa học cơ bản là Chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, xã hội
học,...và một số vấn đề về chủ trương chính sách đường lối của Đảng, của
Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, còn tích hợp nhiều
nội dung giáo dục xã hội cần thiết cho các công dân trẻ tuổi như: Giáo dục
dân số, giáo dục môi trường, giáo dục giới tính, giáo dục lòng yêu nước...
nhằm hướng HS vươn tới những giá trị cơ bản của người công dân Việt Nam
trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với những hiểu biết tối
thiểu, cơ bản về phương hướng phát triển kinh tế, về các vấn đề chính trị - xã
hội HS có thể xác định được phương hướng học tập, lựa chọn ngành nghề
hoặc các lĩnh vực khác sau khi ra trường và xác định được trách nhiệm của
mình đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
• Mục tiêu của phần công dân với các vấn đề chính trị - xã hội:
Về kiến thức: Hiểu được tính tất yếu và đặc điểm của thời kì quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, hiểu được bản chất của Nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa ở nước ta, nắm được nội dung cơ bản của một số chính sách lớn của
Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Về kỹ năng: Biết vận dụng kiến thức để phân tích sự khác nhau về bản
chất giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với các nhà nước trước đó, biết thực hiện
các quyền dân chủ và tham gia tuyên truyền các chính sách lớn của Đảng và
Nhà nước. Biết tìm hiểu và phân tích, đánh giá một số vấn đề gần gũi trong

 Thể hiện ở điểm số cao sau mỗi bài kiểm tra.
Tóm lại để đạt kết quả cao, HS cần chủ động trong học tập. Tính tích cực
học tập với các dấu hiệu trên có trong HS với các mức độ khác nhau. Nhưng nó
chỉ được bộc lộ và phát huy khi HS có động lực và đạt tới lợi ích nhất định.
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh
trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 11, phần “Công dân với các
vấn đề chính trị xã hội” ở trường THPT Lý Tử Tấn - Hà Nội.
1.2.1. Vài nét về trường THPT Lý Tử Tấn

16


Trường THPT Lý Tử Tấn được thành lập ngày 20 tháng 5 năm 2005
với qui mô HS trên 30 lớp với tổng số HS 1047 em, trong đó có 428 em HS
khối 10, 305 em HS khối 11, 314 em HS khối 12.
Khu vực tuyển sinh chủ yếu là con em thuộc miền tây huyện Thường
Tín, ngoài ra còn một số HS ở các xã lân cận và HS toàn thành phố. Khu vực
miền tây Thường Tín chủ yếu là các xã thuần nông, thu nhập thấp, kinh tế khó
khăn. Để tạo thuận lợi cho số HS khu vực này được tiếp tục theo học thuận
lợi, với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và tiến tới phổ cập giáo
dục trung học cho nhân dân trong huyện. Do trường mới thành lập, bề dày
truyền thống còn ít. Đầu vào tuyển sinh còn thấp, trong vài năm gần đây gặp khó
khăn trong việc tuyển sinh nên trường phải xin tuyển HS toàn thành phố.
Về cơ sở vật chất: Trường có bố trí 2 phòng thực hành máy tính gồm
50 máy tính cho HS thực hành môn tin và 2 phòng máy chiếu. Các phòng học,
phòng chức năng, phòng thực hành, phòng bộ môn… được thiết kế theo mô
hình chuẩn quốc gia, nhà trường có có đầy đủ các phòng thực hành bộ môn,
phòng tập đa năng, phòng máy chiếu, sân chơi, bãi tập…
Đội ngũ nhà trường với tổng số cán bộ - giáo viên - nhân viên là 79

từ thực trạng học tập môn GDCD của trường, tôi đã thu được kết quả ở các
mặt sau đây:
- Sự nhận thức của học sinh về tầm quan trọng, ý nghĩa môn học GDCD
Nhận thức là kim chỉ nam cho hoạt động, nếu có nhận thức đúng đắn, HS
sẽ có cách thức học tập phù hợp. Qua khảo sát, tôi nhận thấy đa số các em
HS tại trường THPT Lý Tử Tấn – Hà Nội có nhận thức đúng đắn về tầm
quan trọng của môn GDCD. Điều này thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng, ý nghĩa môn GDCD.

GDCD là một môn học

Đồng ý

Có nội dung gần gũi, thiết thực với
cuộc sống.
Có vai trò rất quan trọng trong sự
phát triển đạo đức, nhân cách HS.
18

Tỉ lệ (%)
Lưỡng Không đồng
lự
ý

93

0

7


Ý kiến khác: (nếu có ghi rõ nội
dung)

88

12

0

7

14

79

82

12

6

62

26

12

77

23


0

Xem bảng 1 thấy rằng:
93 % HS cho rằng đây là một môn học có nội dung gần gũi, thiết thực
với cuộc sống; 86 % HS đồng ý môn này có vai trò rất quan trọng trong sự
phát triển đạo đức, nhân cách và 88 % HS đồng tình đây là một môn học rất
cần thiết trong chương trình THPT vì góp phần phát triển toàn diện ở HS.
Đây là một thực tế, vì hầu như tất cả các trường THPT nói chung và
Trường THPT Lý Tử Tấn nói riêng đều quán triệt tinh thần không xem
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status