SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1) Thực trạng của vấn đe à :
- Tham khảo ý kiến của Ban Giám Hiệu, từ đồng nghiệp, kết hợp với những điều
đã tích luỹ từ các cuộc tập huấn, từ các tài lệu tham khảo như Tạp chí tuổi thơ ,
Thế giới trong ta, Báo giáo dục …, từ 2 năm qua, tôi đã mạnh dạn đưa những ý
tưởng “Dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh” vào một số
môn học, đặc biệt là môn Toán - môn học có mặt thường xuyên trong mỗi
ngày của chương trình Tiểu học.
- Kết quả thu được nhận thấy ngay là thái độ học tập của trẻ được cải thiện rõ
nét nhất, chuyển từ thụ động sang chủ động chiếm lónh kiến thức, thích thú với
những hình thức học tập mới lạ, với những trò chơi “Chơi mà học” lý thú.
2) Những hạn chế khi áp dụng cách thức cũ :
- Học sinh thụ động, chỉ chú trọng học thuộc lòng những ghi nhớ, những qui tắc
toán cứng ngắc, rập khuôn mà không hiểu, thậm chí không bao giờ muốn tìm
hiểu xem tại sao như thế này mà không như thế kia?
- Môn Toán từ lúc nào bỗng trở nên khô khan tẻ nhạt không chỉ từ phía học sinh
mà còn cả ở phía giáo viên (Giáo viên thường né tránh tiết Toán trong những
lần chọn tiết thao giảng hoặc đăng ký thi đua dạy tốt ở trường bởi vì nó quá
nhàm chán và rập khuôn).
- Học sinh học tập thụ động, không khí lớp nặng nề, tiết Toán trôi qua khó khăn
như một guồng máy đã quá cũ trong khi vận hành.
• NỘI DUNG :
1) CƠ SỞ LÝ LUẬN :
Theo cơ sở khoa học, học sinh tiểu học có những đặc điểm sau :
o Khả năng trực quan nhạy bén hơn khả năng tư duy
o Đánh giá sự vật, hiện tượng theo đònh lượng tốt hơn theo đònh tính .
o Luôn thích thú với những hoạt động tìm tòi, khám phá hơn là tiếp
nhận hoặc lấy sẵn một vật để trước mặt .
- Xét về mặt tâm lý, trẻ tiểu học - nhất là học sinh lớp 5 - luôn muốn tự khẳng
đònh mình với thầy cô, bạn bè, muốn được tôn trọng, thích được khen và chắc
chắn sẽ vô cùng thú vò khi nhận thấy rằng kiến thức do tự mình phát hiện ra chứ
Đối với hoạt động lónh hội kiến thức mới :
- Với tiêu chí “Làm thế nào để tất cả học sinh được tham gia, được thực hành,
được thảo luận, được thao tác trên vật thật ở mức nhiều nhất có thể được”.
- Tận dụng sự hợp tác trong việc chuẩn bò đồ dùng dạy học từ phía học sinh .
- Các phương thường sử dụng : trực quan, thực hành, luyện tập, đặt vấn đề, giảng
giải, đàm thoại …
- Các hình thức học tập : cá nhân, nhóm đôi, nhóm lớn, cả lớp, học ngoài sân…
Ví dụ : Dạy khái niệm “ Thể tích của một hình”
* Phương pháp dạy trước đây :
GV dùng đồ dùng dạy học có sẵn ở bộ phận thiết bò đó là các khối lập phương,
khối hộp chữ nhật hoặc là vật dụng có dạng cái ca..... để giảng giải, giới thiệu khái
niệm về thể tích.
O GV thực hiện thao tác xếp các khối lập phương tạo thành khối chữ nhật rồi
so sánh… Kiến thức được áp đặt từ lời nói và hành động của GV đến HS.
O HS thụ động ngồi nghe nhìn và trả lời Kết qua khó kiểm tra được.
* Phương pháp dạy học mới :
O GV dặn HS mang theo mỗi em 1 vật có thể là hộp sữa, lon bia, chai nước
ngọt, chai nước suối (phổ biến nhất)
o Yêu cầu HS xem thông tin trên vỏ hộp và cho biết thể tích của vật em có là
bao nhiêu ?
O Nhóm đôi - cùng tìm, nói cho nhau nghe hoặc ghi ra bảng nhóm như :
- Chai nước ngọt có thể tích thực là 1,5 lít
- Chai nước suối lớn có thể tích thực là 1 lít
- 2 -
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
- Chai nước suối nhỏ có thể tích thực là 0,5 lít
Có thể HS chỉ ghi được thông số chứ không nói được dơn vò như : hộp sữa có
thể tích 200ml; lon bia có thể tích 330ml
GV lưu ý : Cụm từ “ Thể tích thực ”
o Sau khi HS đã nêu thông tin về thể tích trên vật thực, GV đặt vấn đề : “ Thể
Ví dụ : Trò chơi : Ai mà tài thế ?
- 3 -
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Cách chơi : trong 2 phút tìm và so sánh thể tích của các vật xung quanh có hình
dạng tương đươn. Nhóm, tổ nào tìm được nhiều cặp và so sánh đúng là thắng.
b) MỘT SỐ TRÒ CHƠI, CÁCH TỔ CHỨC LỚP HỌC:
Trò chơi “Tìm bạn” : GV phát cho mỗi em một thẻ ghi số (số tự nhiên,
phân số hoặc số thập phân…) hoặc ghi các dữ liệu có liên quan đến nội
dung cần ghi nhớ (đáy, chiều cao, vận tốc, thời gian) . Tìm những người có
giá trò tương ứng, phù hợp… theo mục tiêu bài học dưới sự phát lệnh của
GV. Có ghi điểm cho từng đôi, từng nhóm.
Ứng dụng dạy các bài :
O Phân số bằng nhau, Tính chất cơ bản của phân số .
o Số thập phân : so sánh, sắp xếp, tìm các giá trò bằng nhau…
o Củng cố các qui tắc tính về chu vi, diện tích, thể tích, tìm vận tốc, thời
gian, quãng đường……
Giáo viên sẽ là trọng tài ghi điểm số trên bảng. Và dó nhiên kết quả
vừa học vừa chơi như thế này sẽ tạo không khí hào hứng , học sinh
tích cực hơn.
Trò chơi “Ai mà tài thế ? “: trong một khoảng thời gian nhất đònh , bạn
nào tìm được , làm nhiều dữ kiện đúng theo yêu cầu của GV thì thắng.
Ứng dụng dạy các bài:
o Thuộc qui tắc, công thức liên quan đến hình học, toán chuyển động,
các bảng đơn vò đo ……
Trò chơi “Ai nhanh hơn” : Với một lượng kiến thức đã đònh , bạn nào
thực hiện xong yêu cầu nhanh hơn thì thắng.
Ứng dụng dạy các dạng bài Luyện tập, củng cố kiến thức.
Trò chơi “Tiếp sức vượt khó”: từng tổ nhóm sẽ cùng nhau giải quyết một
số bài nhiều nội dung hoặc có nội dung khó.
Ứng dụng dạy các bài Luyện tập chung hoặc giải toán đố.
- 100% học sinh phải làm việc - giáo viên là người hướng dẫn, hỗ trợ để các em
tìm tòi, tích cực chủ động sáng tạo để chiếm lónh kiến thức.
- Trò chơi dễ, phù hợp với học sinh, không bắt bí, quá khó.
4) PHẠM VI ÁP DỤNG :
Ưu điểm
- Phát huy rất tốt vai trò trung tâm của học sinh.
- Tạo được sự hứng thú cao trong mỗi tiết học.
- Tạo tình thân ái, tinh thần đoàn kết làm cơ sở rèn luyện và phát triển nhân
cách học sinh.
- Thay đổi cách nhìn khô khan, nhàm chán trong giờ học Toán
- HS có tinh thần hợp tác, biết tôn trọng, lắng nghe ý kiến của bạn và mạnh dạn
nêu những nhận đònh riêng của mình cơ sở sự tự tin trong giao tiếp.
Hạn chế
- GV cần có nỗ lực cao, nhanh nhẹn và khả năng linh hoạt trong các tình huống
sư phạm , quản lý lớp tốt.
- 5 -