“ tỷ suất giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan tại quận đống đa, hà nội từ 2008 2011 - Pdf 41

LỜI CẢM ƠN
Với một sinh viên năm thứ sáu chuyên ngành Bác sĩ đa khoa, lần đầu
tiên tiến hành một nghiên cứu khoa học là một thử thách lớn. Tôi xin cảm ơn
những người đã giúp đỡ tôi trên suốt chặng đường làm nghiên cứu này.
Đầu tiên, tôi xin cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Y học gia đình đã
hướng dẫn, giúp đỡ tôi có những kiến thức và kĩ năng cơ bản để làm một
nghiên cứu khoa học.
Tôi xin cảm ơn ThS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung, người đã dẫn dắt tôi từ
lúc chuẩn bị đề cương nghiên cứu, cho tới tận khi khóa luận được in thành
quyển. Tôi sẽ luôn ghi nhớ sự kiên nhẫn và nhiệt tình của cô Nhung và thầy
Trần Khánh Toàn trong quá trình tìm kiếm tài liệu tham khảo, xử lí số liệu và
giải thích tỷ mỉ những thông tin mà tôi cần tham khảo.
Tôi cũng luôn biết ơn những điều tra viên, giám sát viên làm việc tại cở
sở thực địa DoDaLab, những người đã làm việc tận tụy giúp tôi có bộ số liệu
của đề tài này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bố mẹ cũng như bạn bè đã luôn ủng hộ
tôi trong quá trình làm nghiên cứu. Sự ủng hộ bằng cả vật chất và tinh thần đó
là nguồn động lực lớn nhất để tôi bất chấp mọi khó khăn đi tới cùng trong đề
tài này.
Nguyễn Lan Phương


MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ..............................................................................................................1
TỔNG QUAN..............................................................................................................3
1. Khái niệm về TSGTKS............................................................................................3
2. Tỷ số giới tính khi sinh ở châu Á và ở Việt Nam....................................................3
2.1 Thực trạng………..................................................................................................3
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến TSGTKS.....................................................................6
3. Hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh...........................................................10

3. Những vấn đề trong nghiên cứu.............................................................................36
KẾT LUẬN................................................................................................................38
KHUYẾN NGHỊ.......................................................................................................40
LỜI CAM ĐOAN......................................................................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................42
PHỤ LỤC...................................................................................................................45


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTV: Điều tra viên
GSV: Giám sát viên
KHHGĐ: Kế hoạch hóa gia đình
TSGTKS: Tỷ số giới tính khi sinh
TSGTTE: Tỷ số giới tính trẻ em
UNFPA: Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc
TCTK: Tổng cục thống kê


DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

Bảng 1. TSGTKS ở Việt Nam thời kì 1999-2011 .....Error: Reference source
not found
Bảng 2. Phân bố tuổi của mẹ...........................................................................20
Hình 1. Bản đồ quận Đống Đa...................Error: Reference source not found


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

LỜI CẢM ƠN..................................................................................1
MỤC LỤC........................................................................................2

Những quan ngại về khả năng Việt Nam cũng sẽ đối mặt với nguy cơ
gia tăng TSGTKS đã được đề cập lần đầu tiên trong những năm đầu thế kỉ 21,
sau khi kết quả của cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 1999 được công
bố. Nhất là từ khi các phân tích số liệu của cuộc Điều tra biến động dân số
năm 2006 cung cấp các bằng chứng về sự gia tăng bất thường của TSGTKS ở
Việt Nam với 110 trẻ em trai trên 100 trẻ em gái, thì vấn đề TSGTKS đã thu
hút sự quan tâm của các nhà nhân khẩu học, các nhà lập chính sách và các cơ
quan truyền thông đại chúng .
Các nghiên cứu về vấn đề giới tính khi sinh ở Việt Nam chủ yếu dựa
vào các cuộc điều tra cắt ngang về dân số hoặc dựa vào số liệu báo cáo của
Tổng cục thống kê (TCTK). Được tiến hành trên cỡ mẫu lớn, các nghiên cứu


2

này cho phép đưa ra ước đoán chính xác về TSGTKS ở cấp quốc gia nhưng
không phản ánh được thực tế vốn rất khác nhau ở các địa phương . Một số
nghiên cứu đã được tiến hành tại một số địa phương ở miền Bắc nhưng chưa
có nghiên cứu nào thực hiện tại khu vực nội thành Hà Nội, vì vậy chúng tôi
thực hiện nghiên cứu tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội với đề tài: “ Tỷ

suất giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan tại quận Đống
Đa, Hà Nội từ 2008-2011”.
Mục tiêu nghiên cứu là:
1. Mô tả TSGTKS tại quận Đống Đa, Hà Nội từ năm 2008 đến năm
2011.
2. Mô tả một số yếu tố có liên quan đến tỷ số giới tính khi sinh tại
quận Đống Đa, Hà Nội.



Nhiều số liệu chi tiết hơn cho thấy sự gia tăng của tỷ lệ trẻ em trai trong
tổng số trẻ ở châu Á chủ yếu là do sự gia tăng TSGTKS tại Đông Á, trong khi
đó tỷ số này tại khu vực Đông Nam Á và Tây Á lại bình thường .
Năm 1950, ba trong số bốn khu vực ở châu Á có tỷ số giới tính khi sinh
bình thường: 105/100 ở Tây Á và Đông Nam Á, 106/100 ở Nam Trung Á.
Riêng ở Đông Á, TSGTKS đã đạt 109/100. Tình hình ở bốn khu vực này vẫn
không thay đổi cho đến những năm 1980. Sau đó, đã có sự gia tăng TSGTKS
tại Đông Á từ năm 1980-1985 và ở Nam Trung Á từ năm 1985-1990, trong
khi ở các nơi khác chỉ số này vẫn bình thường. Đến những năm 1990, tình
trạng trở nên xấu đi một cách rõ rệt.Trong giai đoạn 2000-2005, TSGTKS đã
lên tới 114/100 tại khu vực Đông Á do ảnh hưởng của Trung Quốc và một
chút của Hàn Quốc. Tại Nam Trung Á, xu hướng này bị chi phối bởi Ấn Độ,
TSGTKS ở quốc gia này đạt 107/100 . Đáng chú ý nhất là các vùng phía
Đông Bắc Trung Quốc hay Tây Bắc Ấn Độ, có TSGTKS tăng liên tục từ
những năm cuối thập kỉ 80 và đạt mức cao trên 120 từ năm 2000 đến nay .
Những quan ngại về khả năng Việt Nam cũng sẽ đối mặt với nguy cơ
gia tăng TSGTKS đã được đề cập lần đầu tiên trong những năm đầu của thế kỉ
21, sau khi kết quả của cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 1999 được
công bố .
Sự gia tăng bất thường của TSGTKS ở Việt Nam trong những năm gần
đây đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà lập chính sách, các cơ quan
thông tin đại chúng cũng như các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước .
Trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2005, xu hướng biến động
TSGTKS ở Việt Nam không rõ ràng và dường như dao động trong khoảng
104-109/100. Tuy nhiên, theo các phân tích của Tổng cục thống kê dựa trên


5

kết quả của các cuộc Điều tra biến động dân số hàng năm và kết quả của Tổng


2008

112,1

2003

104,0

2009

110,5

2004

108,0

2010

111,2

2005

106,0

2011

111,9

Nguồn: Sách Điều tra biến động dân số và KHHGĐ 1/4/2011:các kết quả chủ yếu, trang 54.

các cặp vợ chồng biết trước giới tính của thai nhi. Siêu âm là kĩ thuật đầu tiên
được sử dụng để xác định giới tính thai nhi và đã trở nên thông dụng, kỹ thuật
này được sử dụng phổ biến ở các bệnh viện công và các cơ sở y tế tư nhân do
giá thành lắp đặt và sử dụng của thiết bị này giảm đi nhanh chóng. Kết hợp
với những đạo luật cho phép phá thai theo yêu cầu, các kĩ thuật xác định giới


7

tính thai nhi đã cho phép các bậc cha mẹ tránh sinh ra những trẻ có giới tính
không mong muốn và ngay lập tức việc thay đổi hành vi này đã được phản
ánh qua những con số thống kê về TSGTKS .
Các yếu tố cung cấp dịch vụ như áp dụng một kĩ thuật mới, chỉ nói lên
một phần của câu chuyện. Đằng sau tất cả là sự khao khát có con trai của các
cặp vợ chồng vẫn còn tồn tại nhiều ở khu vực châu Á. Điều này thôi thúc họ
sử dụng tất cả các biện pháp như: bỏ rơi trẻ sơ sinh, nhận con nuôi, thậm chí
là giết chết trẻ sơ sinh gái để chắc chắn có con trai .
Để hiểu được những lí do đằng sau tâm lí ưa thích con trai và nhu cầu
lựa chọn giới tính trước sinh đòi hỏi xác định ba điều kiện cần: tâm lí ưa thích
con trai, sự sẵn có của các dịch vụ y tế hiện đại cần thiết cho việc xác định và
lựa chọn giới tính trước sinh và mức sinh thấp .
Điều kiện thứ nhất và là điều kiện tiên quyết là tâm lí ưa thích con trai
trong xã hội. Hiện tượng này xuất phát từ những đặc trưng về văn hóa-xã hội
và kinh tế của các nước châu Á.Trong khi ở Trung Quốc và Hàn Quốc với
việc thờ cúng tổ tiên và nối dõi tông đường, Nho giáo được coi là hệ thống có
giá trị quyết định ; . Con trai thường trợ giúp cha mẹ, kể cả khi đã lập gia
đình, là chỗ dựa của gia đình khi về già và được thừa kế tài sản. Xã hội Việt
Nam cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Nho giáo, đặc biệt là ở miền Bắc do đó
tâm lí ưa thích con trai trở lên mãnh liệt. Câu tục ngữ “nhất nam viết hữu,
thập nữ viết vô” đã phản ánh điều này . Tâm lí ưa thích con trai ảnh hưởng

tính thai nhi trước sinh. Điều tra biến động dân số năm 2011 chỉ ra rằng
76,9% phụ nữ mang thai biết giới tính thai nhi trước sinh, trong số đó 98,8%
biết qua siêu âm .
Giống như ở các quốc gia khác trong khu vực, tư nhân hóa và thương
mại hóa hệ thống chăm sóc y tế ở Việt Nam đã dẫn đến việc sử dụng quá mức


9

các thiết bị công nghệ để sàng lọc giới tính.Việc này kết hợp với thực tế rằng
việc phá thai ba tháng giữa là hợp pháp, đã tạo ra áp lực cho phụ nữ phải đạt
được đầu ra “đúng” cho việc mang thai của mình là có con trai .
Điều kiện thứ ba liên quan đến mức sinh thấp và các chính sách liên
quan. Ở các vùng của Hàn Quốc, đặc biệt là ở Trung Quốc, việc ban hành
chính sách hạn chế nghiêm ngặt quy mô gia đình đã có ảnh hưởng mạnh mẽ
tới việc giảm sinh nhưng cũng ảnh hưởng tới quá trình quyết định sử dụng
việc lựa chọn giới tính như một công cụ để có được kết quả mong muốn của
gia đình .
Việt Nam đã thực hiện chính sách dân số mạnh mẽ trong những thập kỷ
qua dựa trên “niềm tin” rằng việc giảm tốc độ tăng trưởng dân số sẽ tăng tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) . Trong những năm 1990, chương trình dân số đẩy
mạnh gia đình một đến hai con, một chính sách được soạn thảo bởi Ủy ban
Quốc gia dân số và KHHGĐ đã được thực hiện có hiệu quả và Việt Nam đã
được trao giải thưởng Dân số của Liên hợp quốc vào năm 1999 .
Các nghiên cứu cho thấy rằng trong khi trên cả nước các cặp vợ chồng
được khuyến khích là chỉ có tối đa là hai con thì chính sách này lại được áp
dụng nghiêm ngặt hơn với Đảng viên và cán bộ nhà nước ; . Vì có học vấn
cao hơn và điều kiện kinh tế tốt hơn, những người trong nhóm này dường như
đã rơi vào tình huống dẫn họ đến sử dụng các dịch vụ để lựa chọn giới tính:
tiếp cận dễ dàng với dịch vụ sức khỏe sinh sản kể cả những dịch vụ mà có thể

hôn trước 30 tuổi mà còn nhiều người trong số họ hoàn toàn không có khả


11

năng lập gia đình . Theo dự báo của Unfpa, nếu Việt Nam không có các biện
pháp can thiệp thì tới năm 2050 sẽ có khoảng 4,3 triệu nam giới không thể
kết hôn .
Kết hôn với người nước ngoài (nhập khẩu cô dâu) dường như cũng
không giải quyết được vấn đề này. Việt Nam hiện đang chứng kiến dòng chảy
ngược khi số lượng lớn phụ nữ kết hôn với người nước ngoài và định cư ở
nước ngoài ; . Hơn nữa, độ tuổi kết hôn của phụ nữ Việt Nam đang tăng lên có
thể làm giảm số cô dâu trong tương lai. Cùng với sự gia tăng số phụ nữ chọn
lối sống độc thân như đã quan sát thấy ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore,
các xu hướng trong tương lai có thể còn trầm trọng hơn, thay vì giảm bớt đi
sự căng thẳng xã hội bởi dư thừa nam giới trong độ tuổi kết hôn sau 20 năm
nữa .
Ngay đối với phụ nữ, tình trạng thiếu hụt cũng không cải thiện được vị
thế của họ. Sự khan hiếm này cũng không mở rộng được vị thế xã hội của họ,
mà chỉ gây thêm áp lực đối với việc kết hôn, gia tăng các nguy cơ bạo hành
giới, gia tăng nhu cầu mua dâm, phát triển mạng lưới buôn bán phụ nữ .
4. Đặc điểm của Hà Nội
4.1 Đặc điểm tình hình
4.1.1. Về quy mô dân số
Thực hiện nghị quyết của Quốc hội về mở rộng địa giới hành chính Thủ
đô, Hà Nội được mở rộng với diện tích trên 3.344 km 2, dân số 6,32 triệu
người chiếm 7,51% dân số cả nước với 29 quận, huyện và 577 xã, phường, thị
trấn, là thành phố đông dân thứ hai toàn quốc sau thành phố Hồ Chí Minh,
cuối năm 2010 quy mô dân số toàn thành phố là 6,9 triệu người .


4.2. Tình hình mất cân bằng giới tính
Tại Hà Nội, trong hơn 10 năm qua vấn đề mất cân bằng giới tính khi
sinh diễn ra với tốc độ tăng nhanh, ngày càng lan rộng và đã đến mức báo
động.
Giai đoạn 2001-2005, tỷ số này vẫn nằm ở ngưỡng bình thường. Từ năm
2006 đến nay tỷ lệ này có tốc độ gia tăng đáng kể. Theo kết quả Tổng điều tra
Dân số và nhà ở ngày 01/4/2009: TSGTKS của Hà Nội là 113/100. Năm 2010
là 117/100, năm 2011 là 116/100.
Theo báo cáo của 29 quận, huyện 9 tháng năm 2012, TSGTKS của toàn
thành phố là 116.Trong đó các quận, huyện có biểu hiện mất cân bằng cao
gồm: Đông Anh, Thường Tín, Mỹ Đức, Hà Đông, Sơn Tây, Ba Vì, Mê Linh,
Phúc Thọ, Gia Lâm, Thanh Oai .
5. Đặc điểm của quận Đống Đa
Quận Đống Đa là một quận nội thành có khoảng 352.000 dân sinh sống
tại 21 phường trên một diện tích khoảng 10km2, trong đó 50,6% là nữ giới.
Tỷ suất sinh thô là 2,2%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi là 7,2% trên toàn quận.
Người dân chủ yếu là công chức, người kinh doanh hay làm việc trong các
ngành dịch vụ.
Mạng lưới y tế tại đây rất phát triển. Trong đó, nhiệm vụ chăm sóc sức
khoẻ cho nhân dân do Trung tâm Y tế Đống Đa đảm nhiệm. Ngoài ra, trên
mỗi phường đều có một trạm y tế phụ trách công tác chăm sóc sức khỏe ban
đầu cho người dân. Ở đây có các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa và nhiều
phòng khám tư nhân. Do mạng lưới y tế phát triển và vị trí thuận lợi nên
người dân dễ dàng tiếp xúc với các dịch vụ y tế.


14

Hình 1. Bản đồ quận Đống Đa


hôn nhân) được thu thập cập nhật dựa trên bảng câu hỏi sau đó được nhập và
lưu giữ trong hệ thống cơ sở dữ liệu chung của cơ sở thực địa DoDaLab.
2. Người thu thập số liệu
Việc điều tra thu thập thông tin tại DoDaLab được thực hiện bởi 60
điều tra viên (ĐTV), hầu hết là nữ. Phần lớn các ĐTV là cộng tác viên của
Chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình tại mỗi cụm dân cư. Các ĐTV
được chia thành 8 nhóm do 8 giám sát viên (GSV), là các cán bộ y tế, cán bộ
dân số của phường phụ trách.
3. Sai số nghiên cứu và kĩ thuật khống chế sai số
4.1. Sai số thu thập thông tin.
Do nghiên cứu đề cập đến những vấn đề nhạy cảm nên người được
phỏng vấn khó có thể trả lời thẳng thắn, dẫn đến những sai lệch khi thu thập
số liệu. Để hạn chế, chúng tôi đã chọn những người điều tra hầu hết là phụ nữ,
có uy tín trong cộng đồng, có kĩ năng giao tiếp và phỏng vấn tốt, các ĐTV
giải thích rõ ràng cho người được điều tra về sự bảo mật thông tin cá nhân của
họ.
Do phương pháp thu thập thông tin được lặp lại 3 tháng 1 lần, với bộ
câu hỏi giống nhau dễ dẫn đến sự nhàm chán cho cả những người được hỏi
nên dễ dẫn đến sự không nghiêm túc trong lúc trả lời câu hỏi. Để khắc phục
chúng tôi giải thích kỹ cho họ vai trò của họ với nghiên cứu, bên cạnh đó,
chúng tôi lồng ghép hoạt động này với các hoạt động chăm sóc sức khỏe
khác.
Điều tra được tiến hành trong nhiều năm nên có một số điều tra viên
không thể theo tiếp tục công việc sau nhiều năm do những lí do khác nhau,
những người mới được tuyển vào sẽ khó khăn hơn trong bắt đầu công việc


17

mới, kỹ năng phỏng vấn kém, dễ mắc sai lầm. Để khắc phục, các ĐTV được

tới thể chất và tinh thần của đối tượng nghiên cứu.
Các thông tin thu thập được giữ bí mật và chỉ dùng trong nghiên cứu.


19

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Các thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 1: Số trẻ sinh ra qua các năm
Nhận xét: Trong nghiên cứu, số trẻ được sinh ra nhiều nhất vào năm 2009 là
602 trẻ.

Biểu đồ 2: Thứ tự sinh của trẻ
`Nhận xét: Các trẻ sinh ra trong thời điểm này phần lớn là con đầu của các bà
mẹ, số trẻ là con thứ 3 ít, chiếm 3%.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status