Thực thi chính sách an sinh xã hội ở thành phố đà nẵng hiện nay (tt) - Pdf 41

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ ANH

THùC THI CHÝNH S¸CH AN SINH X· HéI
ë THµNH PHè §µ N½NG hiÖn nay - THùC TR¹NG
Vµ GI¶I PH¸P

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 62 31 02 01

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS.TS. NGUYỄN VĂN VĨNH
2. PGS.TS. LÊ VĂN ĐÍNH

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi

Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về
chính sách xã hội, chính sách an sinh xã hội, về khoa học chính sách công,
khoa học quản lý công.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Việc tiếp cận vấn đề được dựa trên nền tảng khoa học của chuyên ngành
chính trị học và vận dụng các kiến thức liên ngành chính sách công, quản lý
công. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích tài liệu có sẵn;
phương pháp định lượng; phương pháp định tính.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học chính sách công, quản lý công;
hiện thực hóa những nội dung được nêu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5
BCHTƯ khóa XI “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 2020”. Đánh giá một cách khách quan về những kết quả đạt được, những
tồn tại, hạn chế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng thực thi hệ thống chính sách an sinh xã hội để xây dựng Đà Nẵng
thành một thành phố “an bình, đáng sống”.Với những đóng góp đó, luận
án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những tổ chức, cá nhân
quan tâm đến vấn đề này.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung luận án gồm có 4 chương, 11 tiết.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. NHÓM CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH
CÔNG, CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

4

của Vũ Văn Phúc; “Chính sách an sinh xã hội - thực trạng và giải pháp”
của Lê Quốc Lý; “Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội (phân tích thực
tiễn ở Đồng Nai)” của Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn
Huyền và Nguyễn Anh Dũng; “Pháp luật an sinh xã hội - kinh nghiệm
một số nước đối với Việt Nam” của Trần Hoàng Hải; “Hệ thống an sinh
xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của Đinh Công
Tuấn; "Giáo trình nhập môn về an sinh xã hội" của Nguyễn Hải Hữu;
"Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam" của Nguyễn Hải Hữu ; "Giáo trình
Luật an sinh xã hội" của Nguyễn Thị Kim Phụng ; "Giáo trình ưu đãi xã hội"
của Trường Đại học Lao động; "Giáo trình Cứu trợ xã hội" của Trường Đại
học Lao động...Ngoài ra còn có các bài nghiên cứu trên các tạp chí liên quan
đến lĩnh vực ASXH: “An sinh xã hội ở nước ta - một số vấn đề lý luận và
thực tiễn” của Vũ Văn Phúc; “Về xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã
hội ở nước ta những năm tới” của Mai Ngọc Cường; “Hệ thống an sinh xã
hội cho người nông dân Việt Nam” của Nguyễn Danh Sơn; "Tiếp tục thực
hiện tốt chính sách ưu đãi người có công, bảo đảm an sinh xã hội trong phát
triển bền vững" của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân; “Bảo đảm an sinh xã hội
dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng” của Dương Văn Thắng…Các công
trình nghiên cứu này đã trình bày những vấn đề cơ bản: Lý luận cơ bản chính
sách ASXH và kinh nghiệm một số nước, vai trò của nhà nước trong việc
thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay, thực trạng hệ thống và
việc thực thi chính sách ASXH ở nước ta hiện nay; phương hướng, giải pháp
xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam trong thời
gian tới. Đây là những tham khảo để tác giả làm rõ quan niệm, cấu trúc, vai
trò của chính sách ASXH; đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp
nâng cao hiệu quả của việc thực thi chính sách ASXH ở Việt Nam trong
nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở
nước ta hiện nay.

nghiên cứu từng mảng trong nội dung cơ bản của hệ thống ASXH như:
Chính sách bảo trợ xã hội, ưu đãi người có công, thương bệnh binh, gia đình
chính sách; dạy nghề và giải quyết việc làm; xóa đói giảm nghèo, nhà ở xã
hội và nhà ở thu nhập thấp… Các kết quả nghiên cứu này là tài liệu tham
khảo quý giá, để từ đó tác giả có cái nhìn tổng quan trong việc phân tích thực
trạng chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng.
1.3. NHẬN XÉT TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Đề tài luận án "Thực thi chính sách an sinh xã hội ở thành phố Đà
Nẵng hiện nay - thực trạng và giải pháp” có sự tiếp thu, chọn lọc kết quả
nghiên cứu của các công trình trước đó, đồng thời có những kiến giải riêng


6

về những vấn đề đang đặt ra từ góc nhìn Chính trị học: Nhìn nhận việc
thực thi chính sách an sinh xã hội trong một chỉnh thể với các chính sách
kinh tế, văn hóa, an ninh chính trị. Việc đảng bộ, chính quyền thành phố
đặt ra các chương trình liên quan đến an sinh xã hội như chương trình
thành phố “5 không”, “3 có”, thành phố “4 an” không phải là sự ban ơn
mà là nghĩa vụ của đảng bộ, chính quyền đối với người dân Đà Nẵng. Hơn
nữa, Đà Nẵng còn đặt mục tiêu xây dựng “thành phố đáng sống” và những
chương trình liên quan đến an sinh xã hội của Đà Nẵng đã thể hiện quyết
tâm về mặt chính trị “nói đi đôi với làm”. Để đạt được mục tiêu nghiên
cứu, tác giả sẽ triển khai những nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, làm rõ cơ
sở lý luận về ASXH và hệ thống chính sách ASXH ở nước ta trong điều
kiện hiện nay. Thứ hai, phân tích thực trạng thực thi chính sách ASXH ở
thành phố Đà Nẵng thời gian qua. Thứ ba, xác định phương hướng và đề
xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng việc thực thi hệ

hội, Bảo trợ xã hội, Xóa đói giảm nghèo, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế.
2.1.2. Chính sách an sinh xã hội và vai trò của hệ thống chính
sách an sinh xã hội trong xã hội
2.1.2.1. Chính sách an sinh xã hội
Chính sách an sinh xã hội là hệ thống chủ trương, phương hướng và
biện pháp đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá
nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và
tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc


8

làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em
mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh,
những người bị thiên tai địch họa.
2.1.2.2. Vai trò của hệ thống chính sách an sinh xã hội trong xã hội
Trong xã hội hiện đại, các quốc gia, một mặt hướng vào phát huy
mọi nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao
khả năng cạnh tranh của nền kinh tế tạo ra bước phát triển bền vững và
ngày càng phồn vinh cho đất nước; mặt khác không ngừng hoàn thiện hệ
thống ASXH để giúp cho con người, nhất là người lao động, có khả
năng chống chọi với các rủi ro xã hội, đặc biệt là rủi ro trong KTTT và
rủi ro xã hội khác.
2.2. THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI VÀ VÀ VAI TRÒ
CỦA NHÀ NƯỚC TRONG THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI

2.2.1. Tổ chức thực thi trong chu trình chính sách
2.2.1.1. Chu trình chính sách
Ở Việt Nam hiện nay, chu trình chính sách thường được chia làm 3
công đoạn: Hoạch định chính sách, tổ chức thực thi chính sách, đánh

và của toàn xã hội; xây dựng hệ thống ASXH đa dạng, đa tầng hướng tới
bao phủ toàn dân; nâng cao năng lực tư sinh của người dân và cộng đồng.
Đối tượng của chính sách ASXH là mọi người dân, kể cả những người
trong đối tượng lao động, người chưa đến tuổi lao động và người hết tuổi
lao động, trong đó bao gồm các đối tượng của chính sách xã hội là người
nghèo thành thị và nông thôn, phụ nữ, trẻ em, thanh niên, người tàn tật và
người dân tộc thiểu số…
2.2.2.2. Các yếu tố ảnh hướng đến việc thực thi chính sách an sinh
xã hội
Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách an sinh xã
hội có thể kể đến như sau: Thể chế chính sách về ASXH, thể chế tổ chức
bộ máy và cán bộ; nhận thức của xã hội và người dân; môi trường thực thi
chính sách ASXH.
2.2.3. Vai trò của nhà nước trong việc thực thi chính sách an sinh
xã hội và việc thực thi chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong thời
gian qua
2.2.3.1. Tính tất yếu khách quan của việc nhà nước thực hiện
chính sách an sinh xã hội
Tính tất yếu của việc nhà nước thực hiện chính sách ASXH xuất
phát từ những lý do cơ bản sau: Thứ nhất, xuất phát từ chức năng xã hội
của nhà nước. Thứ hai, để khắc phục những mặt hạn chế của nền kinh tế
thị trường. Thứ ba, bảo vệ quyền của mọi người dân. Thứ tư, chỉ có nhà
nước mới có thể đưa ra những cơ chế khuyến khích phù hợp và ảnh


10

hưởng của mình để gây sức ép cần thiết trong việc thúc đẩy những đóng góp
bắt buộc.
2.2.3.2. Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và

3.1.1. Về vị trí địa lý tự nhiên, dân số, hành chính
Thành phố Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương (1997) và
đô thị loại I cấp quốc gia (2003).Tổng diện tích tự nhiên của thành phố Đà
Nẵng hiện nay là 1.285,43km2; tổng dân số thành phố Đà Nẵng là
1.011.803 người (theo niên giám thống kê năm 2014) – trong đó dân tộc
Kinh chiếm 99,6 % dân số và các dân tộc thiểu số chiếm 0,4% dân số.
3.1.2. Về kinh tế - xã hội
Hơn 40 năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
(1975 - 2015) và gần 20 năm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương
(1997 - 2017); trải qua các chặng đường xây dựng và phát triển, lãnh đạo
và nhân dân thành phố Đà Nẵng đã chung sức, chung lòng, tận dụng thời
cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, đưa thành phố phát triển đạt được nhiều
thành tựu to lớn và đáng tự hào.
3.1.2.1. Về kinh tế
Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn giai đoạn 2010 - 2015 (GRDP,
giá so sánh 2010) tăng 9,7%/năm, cao hơn mức bình quân cả nước, đến
năm 2015 đạt 45.885 tỷ đồng, bằng 1,6 lần năm 2010; GRDP bình quân
đầu người được nâng lên rõ rệt, năm sau cao hơn năm trước, đến năm 2015
đạt 62,65 triệu đồng, tương đương 2.908 USD, gần bằng 2 lần năm 2010.
3.1.2.2. Về xã hội
Bên cạnh những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế, xây dựng cơ
sở hạ tầng và chỉnh trang đô thị; thành phố Đà Nẵng còn được biết đến là
địa phương ban hành nhiều chính sách mang đậm tính nhân văn, nhiều giải
pháp đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, dần
định hình nét văn hóa của thành phố, được nhân dân tin tưởng và ủng hộ.
Chương trình “Thành phố 5 không”, “Thành phố 3 có” là những chủ


12


thiện và bảo vệ quyền trẻ em”, “Hội nạn nhân chất độc da cam”..., với việc
xây dựng các Bệnh viện Phụ nữ, Bệnh viện Ung thư tầm cỡ khu vực để tầm
soát, chữa trị miễn phí cho các bệnh nhân nghèo, phụ nữ mắc phải những căn
bệnh nan y, ổn định đời sống của những người là nạn nhân chất độc da cam,


13

những người có hoàn cảnh éo le, những người gặp rủi ro, tai nạn lao động,
những người mất việc làm do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, những gia
đình nghèo, các đối tượng chính sách, thai sản, những người không chăm sóc
được bản thân, người khuyết tật có được cuộc sống ổn định.
3.2.2.2. Thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo
Đà Nẵng luôn xem giảm nghèo là bộ phận của kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội địa phương với quan điểm muốn giảm nghèo thực sự,
muốn giảm nghèo đa chiều phải dùng tổng lực nguồn xã hội; không chỉ
nguồn lực tập trung cho hộ nghèo mà phải có nguồn lực đầu tư cho ASXH,
phải đảm bảo thoát nghèo thực chất, thoát nghèo bền vững.Trong những
năm qua, được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận,
các ngành, đoàn thể, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, chương
trình giảm nghèo của thành phố được thực hiện một cách toàn diện và đều
khắp, đã tác động kịp thời đến các đối tượng nghèo cần được thụ hưởng,
mang lại lợi ích thiết thực cho người nghèo: Trong 3 năm 2011 - 2013, với
chủ đề “Năm an sinh xã hội”, thành phố tập trung chăm lo đời sống cho các
đối tượng chính sách, đối tượng xã hội, hộ nghèo và đồng bào dân tộc; mục
tiêu “không có hộ đặc biệt nghèo” cơ bản hoàn thành; Đề án giảm nghèo
giai đoạn 2009 - 2015 về đích trước 3 năm (năm 2012), giai đoạn 2013 2017 về đích trước 2 năm (năm 2015), đến cuối năm 2015 không còn hộ
nghèo theo chuẩn mới của thành phố. Kết quả đạt được trong công tác
giảm nghèo của thành phố Đà Nẵng qua các giai đoạn theo từng cấp độ
khác nhau với chuẩn nghèo khác nhau (cao hơn chuẩn nghèo quốc gia mức chuẩn nghèo mới của Đà Nẵng được thông qua ngày 9/7/2015 cao

phố cũng đã và đang triển khai có hiệu quả “Đề án hỗ trợ chuyển đổi
ngành nghề, giải quyết việc làm, ổn định đời sống đối với đối tượng
trong diện thu hồi đất sản xuất, di dời, giải toả trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng” và lồng ghép các chương trình, dự án, hỗ trợ vay vốn và đào tạo
nghề đã góp phần GQVL cho 22.891 người, chiếm 88,98% so với tổng
lao động bị mất việc làm do bị thu hồi đất.
3.2.2.4. Chính sách có nhà ở trong chương trình “thành phố 3 có" có việc làm, có nhà ở, có nếp sống văn minh đô thị” của thành phố
Với chương trình “Thành phố 3 có”: có việc làm, có nhà ở, có nếp sống
văn minh đô thị; Đà Nẵng là thành phố dẫn đầu cả nước về chính sách
nhà ở xã hội, phát triển quỹ nhà ở xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống cho người dân, giải quyết một phần chính sách an sinh xã hội, tạo
bước đột phá thực hiện chính sách có nhà ở, Đà Nẵng đã có nhiều chính
sách đột phá để phát triển nhà ở xã hội.Việc triển khai xây dựng, hỗ trợ
sửa chữa nhà ở cho người có công (NCC) với cách mạng, hộ đồng bào
dân tộc thiểu số, hộ nghèo trong những năm qua luôn đạt và vượt kế
hoạch đề ra (bình quân mỗi năm hỗ trợ sửa chữa, xây mới cho đối tượng


15

chính sách trên 1.052 nhà; chất lượng công trình đảm bảo 3 chức năng,
tiện sinh hoạt, chống bão và chống lũ). Các chính sách này đã góp phần
tạo ra bộ mặt đô thị ngày càng sạch đẹp, tạo lập được sự đồng thuận xã
hội cao, thể hiện trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị trong việc nâng
cao chất lượng sống cho cư dân thành phố.
3.2.2.5. Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công,
thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ
Thực hiện chính sách NCC trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong
thời gian qua đã đạt được những kết quả hết sức to lớn: Hệ thống văn bản
chính sách thành phố ban hành dành cho NCC ngày càng hoàn thiện, toàn

đóng góp quan trọng của ngành Y tế và ngành Bảo hiểm xã hội thành phố.
3.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH
XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI GIAN QUA

3.3.1. Những mặt thành công
Trong quá trình xây dựng và phát triển, Đà Nẵng là thành phố có tốc
độ phát triển kinh tế nhanh, xây dựng, chỉnh trang đô thị hiệu quả. Bên
cạnh những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng
và chỉnh trang đô thị, thành phố Đà Nẵng còn được biết đến là địa phương
ban hành nhiều chính sách mang đậm tính nhân văn, nhiều giải pháp đảm
bảo an sinh xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, dần định hình
nét văn hóa của thành phố, được nhân dân tin tưởng và ủng hộ. Chương
trình “Thành phố 5 không”, “Thành phố 3 có”, Thành phố “4 an” là những
chủ trương lớn được thành phố thực hiện, nhằm hướng đến các mục tiêu
an sinh bền vững. Bằng những việc làm cụ thể, thiết thực và hiệu quả trên
lĩnh vực ASXH, Đà Nẵng đã tạo được sự đồng thuận trong xã hội và chính
sự đồng thuận đó đã trở thành nguồn lực to lớn, ủng hộ, cổ vũ sự nghiệp
xây dựng và phát triển thành phố, là bệ phóng để Đà Nẵng tăng tốc và cất
cánh. Thành công lớn nhất của Đà Nẵng trong quá trình xây dựng và phát
triển nói chung và thực thi chính sách an sinh xã hội nói riêng chính là
được lòng dân. Bằng những việc làm cụ thể, thiết thực và hiệu quả trên
lĩnh vực ASXH, Đà Nẵng đã tạo được sự đồng thuận trong xã hội và chính
sự đồng thuận đó đã trở thành nguồn lực to lớn, ủng hộ, cổ vũ sự nghiệp
xây dựng và phát triển thành phố, là bệ phóng để Đà Nẵng tăng tốc và cất
cánh: Mẫu số chung của sự đồng thuận xã hội là việc thực thi các chính
sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hệ thống chính sách ASXH
nói riêng đều hướng đến mục tiêu nâng cao mức sống của người dân.
Chính vì vậy, cái thành công nhất ở Đà Nẵng là: “Đảng nói dân tin, Mặt
trận đoàn thể vận động dân theo, chính quyền làm dân ủng hộ”. Ý kiến
đánh giá của người dân (thông qua kết quả khảo sát xã hội học) về hiệu

chế, bất cập đã nêu.
3.3.3. Nguyên nhân của kết quả đạt được và hạn chế
3.3.3.1. Nguyên nhân của kết quả đạt được
Thứ nhất, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt của Thành
ủy; sự quản lý, điều hành năng động, sáng tạo của chính quyền; sự giám
sát chặt chẽ của HĐND, sự phối hợp nhịp nhàng của Mặt trận và các đoàn
thể trong việc ban hành và thực thi nhiều chính sách ASXH mang đậm tính


18

nhân văn. Thứ hai, chính quyền thành phố đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo
các cơ chế, chính sách trong việc ban hành các chương trình có tính đột
phá, vượt trội (so với Trung ương) để thực hiện mục tiêu ASXH bền vững.
Thứ ba, Trên cơ sở phương châm “tương trợ cộng đồng”, “xã hội hóa”,
MTTQ, các tổ chức CT - XH đã huy động các tổ chức xã hội, hội quần
chúng tham gia tích cực vào các hoạt động ASXH xã hội, nhân đạo, từ
thiện.Thứ tư, trên tinh thần xã hội hóa với nguyên tắc “chính quyền và nhân
dân đồng lòng, chung sức trong thực thi các chính sách xã hội giàu tính nhân
văn nhằm xây dựng Đà Nẵng thành một thành phố an bình, đáng sống”; các
tổ chức xã hội, hội quần chúng đã có những “đóng góp tích cực cho sự phát
triển chung của thành phố, nhất là trên các lĩnh vực công tác xã hội, nhân
đạo, từ thiện”. Thứ năm, chính quyền thành phố luôn quan tâm, ưu tiên
việc duy trì sự bền vững về tài chính phục vụ cho hoạt động ASXH.
3.3.3.2. Nguyên nhân của hạn chế
Thứ nhất, do tình hình suy giảm kinh tế toàn cầu, việc sản xuất, kinh
doanh gặp khó khăn đã làm hạn chế nguồn lực hổ trợ cho hoạt động
ASXH. Thứ hai, do ảnh hưởng của thiên tai gây ra những hậu quả nặng nề
vì thế đối tượng thụ hưởng chính sách ASXH thường xuyên biến động.Thứ
ba, do tác động của hoạt động chỉnh trang đô thị, gần một trăm nghìn hộ


4.2.1. Quan điểm định hướng chung của Đảng, Nhà nước ta và
của Đảng bộ, Chính quyền thành phố Đà Nẵng về an sinh xã hội
Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
người có công và bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng
của Ðảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Tiếp tục
thực hiện đồng bộ và có hiệu quả chương trình thành phố “5 không”, “3
có”, Chỉ thị 24-CT/TU, Chỉ thị 25-CT/TU của BTV Thành uỷ và các chính
sách ASXH đang triển khai, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống
của nhân dân.
4.2.2. Quan điểm của tác giả luận án
Thực thi chính sách ASXH phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên,
chủ yếu và là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và là quyền lợi, trách
nhiệm của toàn xã hội. Hệ thống ASXH phải đa dạng, toàn diện, đa tầng,
linh hoạt, công bằng, bền vững nhằm không ngừng mở rộng diện bao phủ
và hiệu quả của chính sách ASXH. Phát triển hệ thống ASXH phải đặt


20

trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Tuyên truyền, tạo
lập sự đồng thuận cao “Đảng nói, dân tin; Chính quyền làm, dân ủng hộ;
Mặt trận vận động, dân theo” và tổ chức thực hiện quyết liệt chính sách
ASXH. Phát triển hệ thống ASXH với nội dung, cách tiếp cận và chuẩn
mực mang tính hội nhập.
4.3. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC THI
CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI
GIAN TỚI

4.3.1. Nhóm giải pháp chung

Tạo điều kiện về cơ chế tài chính cho phát triển chính sách ưu đãi đối với
NCC và ASXH của thành phố. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCC ở tất cả các cấp, các ngành,
đoàn thể và cơ sở; sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện các mục tiêu nhiệm
vụ gắn với ASXH.
4.3.2.2. Chính sách bảo trợ xã hội: Tiếp tục ban hành các văn bản
triển khai thực hiện hoạt động bảo trợ xã hội phù hợp với thực tiễn của
thành phố. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục về hoạt
động bảo trợ xã hội. Đầu tư nâng cấp mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội và
thực hiện có hiệu quả các hoạt động trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi;
đối với lĩnh vực chăm sóc trẻ em; đối với nạn nhân chất độc hóa học, người
tàn tật.
4.3.2.3. Nhóm giải pháp giảm nghèo bền vững: Công tác giảm nghèo
bền vũng luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong chương trình
phát triển về KT - XH của thành phố. Tiếp tục có những giải pháp cơ bản
giúp người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội như hỗ trợ y tế, hỗ trợ
giáo dục hỗ trợ nhà ở, tực hiện đồng bộ các giải pháp giúp người nghèo
phát triển sản xuất, tăng thu nhập nâng cao mức sống cho người nghèo để
vươn lên thoát nghèo bền vững (giải quyết việc làm và dạy nghề, hỗ trợ tín
dụng, hỗ trợ phương tiện sinh kế, ướng dẫn cách làm ăn, chuyển giao kỹ
thuật và kinh nghiệm cho hộ nghèo), nâng cao hiệu quả việc thực hiện các
giải pháp truyền thông, giám sát đánh giá và nâng cao năng lực, đảm bảo tốt
điều kiện về nguồn lực tài chính.
4.3.2.4. Nhóm giải pháp về dạy nghề và giải quyết việc làm: Nâng
cao nhận thức của các cấp, các ngành, xã hội về học nghề, đào tạo nghề;
tăng cường các điều kiện đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo nghề; tăng
cường và đổi mới phương thức đầu tư cho dạy nghề để nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh xã hội hoá, hợp tác quốc tế trong đào tạo
nghề và xuất khẩu lao động, tăng cường các yếu tố đẩy mạnh phát triển
kinh tế tạo việc làm mới, phát triển nguồn vốn, phát huy hiệu quả sử dụng

tài chính, thanh tra kiểm tra; các hoạt động nghiên cứu xây dựng các cơ
chế chính sách để thúc đẩy đầu tư kinh doanh nhà ở.Đề xuất các mô hình
phát triển NOXH trong thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng: Mô hình nhà cho thuê, Mô hình nhà ở giá rẻ, Mô hình
Hợp tác xã nhà ở.
4.3.2.6. Nhóm giải pháp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế: Tiếp tục
triển khai thực hiện có hiệu quả các văn bản chỉ đạo của BHXH Việt Nam;
Chương trình hành động số 26-Ctr/TU ngày 28/5/2013 của Thành ủy Đà


23

Nẵng về thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI)
về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai
đoạn 2012-2020”; Kế hoạch số 8190/KH-UBND ngày 16/9/2013 của
UBND thành phố triển khai Chương trình hành động số 26-Ctr/TU của
Thành ủy Đà Nẵng. Không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ và công
tác thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN. Tăng cường
sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức ở địa phương trong việc
thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN theo Quy chế phối
hợp đã được UBND thành phố ban hành. Đẩy mạnh công tác kiểm tra
chuyên ngành và kiểm tra liên ngành việc chấp hành pháp luật về BHXH,
BHYT. Kiện toàn tổ chức bộ máy BHXH thành phố và BHXH quận,
huyện. Bảo đảm các điều kiện phục vụ hoạt động cho BHXH thành phố và
các đơn vị trực thuộc, huy động các nguồn lực cho hoạt động phát triển
BHY. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động toàn nhân dân nâng cao
ý thức về trách nhiệm, quyền lợi trong việc thực hiện chính sách
BHXH,BHYT và góp phần đảm bảo ASXH.
KẾT LUẬN
Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ASXH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status