Thực thi chính sách an sinh xã hội ở thành phố đà nẵng hiện nay - Pdf 41

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ ANH

THùC THI CHÝNH S¸CH AN SINH X· HéI
ë THµNH PHè §µ N½NG hiÖn nay - THùC TR¹NG
Vµ GI¶I PH¸P

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 62 31 02 01

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. NGUYỄN VĂN VĨNH
2. PGS.TS. LÊ VĂN ĐÍNH

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả luận án

Lê Anh


MỤC LỤC

Trang
1


Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN QUA

3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến việc
thực thi chính sách an sinh xã hội ở thành phố Đà Nẵng
3.2. Hoạt động thực thi chính sách an sinh xã hội ở Đà Nẵng trong thời
gian qua
3.3. Đánh giá kết quả việc thực thi chính sách an sinh xã hội ở thành phố
Đà Nẵng thời gian qua

46
46
48
82

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN TỚI

4.1. Dự báo những yếu tố tác động đến hoạt động thực thi chính sách an
sinh xã hội ở Đà Nẵng
4.2. Quan điểm nâng cao chất lượng thực thi chính sách an sinh xã hội ở
thành phố Đà Nẵng
4.3. Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng thực thi chính sách an
sinh xã hội ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

KCB
KTTT
KT - XH
LÐ-TB&XH
LLLÐ
NCC
NCT
NKT
NOXH
TCXH
TGXHTX
TTg
UBND
XHCN

:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

Chính trị quốc gia
Chính trị - xã hội
Dân tộc thiểu số
Ðối tượng chính sách
Ðào tạo nghề
Tổng sản phẩm quốc nội
Hội đồng nhân dân
Hợp tác xã
Khám chữa bệnh
Kinh tế thị trường
Kinh tế - xã hội
Lao động - Thương binh và xã hội
Lực lượng lao động
Người có công
Người cao tuổi
Người khuyết tật
Nhà ở xã hội
Trợ cấp xã hội
Trợ giúp xã hội thường xuyên
Thủ tướng
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa



DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Trang
Bảng 3.1: Ý kiến đánh giá của người dân về hiệu quả thực thi chính sách
an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong 5 năm

XII cũng chỉ rõ: Quản lý tốt sự phát triển xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao
phúc lợi xã hội; thực hiện tốt chính sách với người có công; nâng cao chất lượng chăm
sóc sức khỏe nhân dân, chất lượng cuộc sống của nhân dân; thực hiện tốt chính sách
lao động, việc làm, thu nhập [56, tr.76, 78].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương khóa XI khẳng định:
Chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực
để phát triển nhanh và bền vững trong mọi giai đoạn phát triển. Chính sách
xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ
với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực
trong từng thời kỳ… Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của người có công và bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) là nhiệm vụ
thường xuyên, quan trọng của Ðảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và
toàn xã hội [55, tr.90, 91].
Nhờ thực hiện tốt các chính sách xã hội, thời gian qua các lĩnh vực xã hội đạt
được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là giảm nghèo, tạo việc làm, ưu đãi người có
công, giáo dục và đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; đời
sống vật chất và tinh thần của người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số
được cải thiện, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị - xã
hội; nước ta được Liên hợp quốc công nhận là một trong các quốc gia đi đầu trong
việc thực hiện một số mục tiêu Thiên niên kỷ [55, tr.70,71].
Đối với thành phố Đà Nẵng, Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát
triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất
nước [17], đã xác định: Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị
lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung.Trên cơ sở mục tiêu
chung đó, thành phố Đà Nẵng đã thực hiện chủ trương gắn phát triển kinh tế với


2
giải quyết các vấn đề xã hội, chính sách an sinh xã hội, quan tâm nhân tố con người
và đã đạt được những kết quả tích cực: Trên lĩnh vực kinh tế: Tốc độ tăng trưởng



3
những hạn chế, bất cập: Quá trình phát triển kinh tế đã dẫn đến việc mở rộng và
phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ đã thu hút số lượng lớn lao động từ các
địa phương khác đến tham gia làm việc và cư trú, trong đó có không ít lao động tự
do, những người lang thang cơ nhỡ. Mặt khác, dưới tác động của quá trình đô thị
hóa, các đối tượng dân cư bị thu hồi đất, phải chuyển đổi nghề nghiệp, phải tái định
cư do quá trình mở rộng và chỉnh trang đô thị rất lớn, gây áp lực cho việc giải quyết
việc làm, ổn định cuộc sống, bố trí nhà ở trên địa bàn thành phố, gây khó khăn cho
công tác ASXH. Bên cạnh đó, hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp đã
góp phần làm tăng số lượng học sinh, sinh viên đến học tập và ở lại làm việc đã gây
áp lực không nhỏ về vấn đề chỗ ở, khám chữa bệnh, chăm sóc y tế và các vấn đề xã
hội khác [48, tr.18-19].
Ngày 12-11-2013, Bộ Chính trị ban hành Kết luận 75-KL/TW của Bộ Chính
trị (khóa XI) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW năm 2003 của
Bộ Chính trị (khóa IX) “Về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời
kỳ CNH, HĐH đất nước” với nhiều cơ chế, chính sách mới, tạo động lực mới cho
Đà Nẵng phát triển [19].Với quan điểm phát triển bền vững: “Kết hợp phát triển
kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và tài nguyên
thiên nhiên, nâng cao chất lượng cuộc sống, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã
hội” [48, tr.87], “Tiếp tục thực hiện đồng bộ và có hiệu quả chương trình thành
phố “5 không”, “3 có”, Chỉ thị 24-CT/TU, Chỉ thị 25-CT/TU của BTV Thành uỷ
và các chính sách an sinh xã hội đang triển khai, nâng cao thu nhập và chất lượng
cuộc sống của nhân dân” [47, tr.33-34] để phấn đấu xây dựng Đà Nẵng trở thành
“một thành phố có môi trường đô thị văn minh và giàu tính nhân văn, có đời sống
văn hóa cao; một trong những thành phố hài hòa, thân thiện, an bình; một thành
phố hấp dẫn và đáng sống” [48, tr.29], một thành phố giàu đẹp, an bình, văn minh,
hiện đại [48, tr.24], thành phố “4 an” - an ninh trật tự, an toàn giao thông, an toàn
vệ sinh thực phẩm và an sinh xã hội; việc khảo sát một cách khách quan thực trạng

liệu thu thập được từ các báo cáo tổng kết, các nghiên cứu đã có, các tài liệu khác
liên quan đến đề tài) thông qua việc phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh.
Phương pháp định lượng: NCS tiến hành điều tra chọn mẫu với số lượng 307 phiếu
trưng cầu ý kiến. Số phiếu điều tra này có cơ cấu mẫu như sau: về giới tính, có 142
nam (46,3%), 165 nữ (53,7%); địa bàn thành thị có 212 người (69%), nông thôn gồm
105 người (31%). Địa bàn khảo sát được lựa chọn đại diện cho 3 vùng (vùng nội
thành là quận Hải Châu có 109 phiếu; vùng ven là quận Cẩm Lệ có 103 phiếu; và
vùng nông thôn là huyện Hòa Vang có 105 phiếu); mẫu được NCS chọn theo nguyên
tắc ngẫu nhiên. Phương pháp định tính: NCS thực hiện 21 mẫu phỏng vấn sâu, trong
đó, đối tượng phỏng vấn sâu được lựa chọn ngẫu nhiên trên 3 địa bàn kể trên.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học chính sách công, quản lý công; vai trò của
việc thực thi hệ thống chính sách ASXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
- Góp phần hiện thực hóa những nội dung được nêu Nghị quyết Hội nghị lần thứ
5 BCHTƯ khóa XI “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”.


6
- Đánh giá một cách khách quan về những kết quả đạt được, những tồn tại,
hạn chế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực thi hệ thống
chính sách ASXH để xây dựng Đà Nẵng thành một thành phố “an bình, đáng sống”.
Với những đóng góp đó, luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
những tổ chức, cá nhân quan tâm đến vấn đề này.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận án gồm có 4 chương, 11 tiết.


7
Chương 1

động của xã hội; hơn thế nữa hệ thống giá trị, hệ thống chính trị của nước Mỹ có những


8
khác biệt so với các nước trên thế giới, vì vậy việc vận dụng đòi hỏi phải có những điều
chỉnh tất yếu
- "Giáo trình Hành chính học" của Nguyễn Hữu Hải [74] và "Đại cương về
phân tích chính sách công" của Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa [75] đã trình bày những
nội dung cơ bản về khái niệm, chức năng, ý nghĩa của phân tích chính sách công; các
nguyên tắc và yêu cầu của việc phân tích chính sách công; các yếu tố tác động đến
phân tích chính sách công; tiêu chí trong phân tích chính sách công; nội dung phân tích
chính sách công; phương pháp phân tích chính sách công. Phân tích chính sách công có
vai trò quan trọng và là khâu khởi đầu, xuyên suốt trong chu trình chính sách. Cuốn
sách đã cung cấp công cụ và phương pháp phân tích chính sách thực sự khoa học.
"Chính sách công - Những vấn đề cơ bản" của Nguyễn Hữu Hải [76] đã trình bày
những nội dung cơ bản về Chính sách công như: Đặc điểm, vai trò, phân loại chính
sách công; cấu trúc nội dung và chu trình chính sách công; hoạch định chính sách công;
tổ chức thực thi chính sách công - quan niệm, vị trí, ý nghĩa, các bước tổ chức thực thi
chính sách công; phân tích chính sách công; đánh giá chính sách công; tổ chức công tác
phân tích, đánh giá chính sách công. Đặc biệt cuốn sách đã cung cấp những phụ lục về
quy trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam: quy trình hoạch định chính sách
công của Quốc hội, quy trình hoạch định chính sách công của Chính phủ, quy trình
hoạch định chính sách công của HĐND cấp tỉnh. Đây là tư liệu cung cấp khá hệ thống
những kiến thức cơ bản về chính sách công , vận dụng những kiến thức cơ bản đã học
vào thực tiễn đánh giá chính sách công, góp phần hoàn thiện công tác hoạch định và
thực thi chính sách công trong quản lý nhà nước.
- "Quản lý công" của Trần Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hải [156] đã đề cập đến quá
trình phát triển khoa học quản lý công; vấn đề khu vực công; nhà quản lý công và nội
dung quản lý công, kỹ năng quản lý công; những thách thức trong quá trình quản lý
công ở Việt Nam. Đây là tài liệu thể hiện cách tiếp cận mới về nội dung, hình thức,


1.2.1. Nhóm công trình nghiên cứu về an sinh xã hội, hệ thống chính
sách an sinh xã hội
- “Pháp luật an sinh xã hội - kinh nghiệm một số nước đối với Việt Nam” của
Trần Hoàng Hải, Lê Thị Thúy Hương [73] đã làm rõ quan niệm và vai trò của pháp
luật an sinh xã hội của một số nước như Đức, Nga, Hoa Kỳ cũng như khái quát khá
đầy đủ hệ thống pháp luật an sinh xã hội của Việt Nam. Trên cơ sở đó, các tác giả
đã nhấn mạnh để hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội của Việt Nam trong tình hình
mới cần phải xúc tiến xây dựng Bộ Luật an sinh xã hội và cải cách các Luật Bảo
hiểm xã hội và Luật Bảo hiểm y tế.
- "Mô hình phát triển xã hội của một số nước phát triển Châu Âu: Kinh nghiệm
và ý nghĩa đối với Việt Nam" của Nguyễn Quang Thuấn, Bùi Nhật Quang [137] đã phân


10
tích cách thức nhà nước cung cấp các dịch vụ ASXH cho người dân ở một số quốc gia
phát triển ở châu Âu. Từ đó, tác giả đưa ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp cho
sự lựa chọn mô hình phát triển, chính sách đảm bảo ASXH của nước ta hiện nay trong
quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
- “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
của Đinh Công Tuấn [157] đã phân tích tổng quan về hệ thống ASXH của châu Âu
cũng như làm rõ nhu cầu, thách thức trong việc cải cách hệ thống an sinh xã hội của
châu Âu, đồng thời, chỉ ra những thành công, hạn chế, những kinh nghiệm trong
đảm bảo ASXH thông qua: Hệ thống ASXH theo mô hình “thị trường xã hội” của
Đức; hệ thống an sinh xã hội theo mô hình “xã hội dân chủ” của Thuỵ Điển; hệ
thống an sinh xã hội theo mô hình “thị trường tự do” của Anh. Từ đó, cung cấp
nhiều luận cứ khoa học cho xây dựng và thực hiện chính sách ASXH phù hợp với
điều kiện của Việt Nam hiện nay.
- "Bảo đảm xã hội trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản hiện nay" của Trần
Thị Nhung [105] đã phân tích được khái niệm và lịch sử phát triển của hệ thống

năng xã hội của nhà nước, khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường, đảm
bảo quyền cơ bản của con người, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế)
- “Xây dựng và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” của Mai
Ngọc Cường [35] đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của chính sách ASXH trong nền
kinh tế thị trường; thực trạng hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay; phương
hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam đến
năm 2015. Cuốn sách đã chỉ rõ tác động mặt trái của kinh tế thị trường: tình trạng phân
hóa giàu nghèo, sự bất bình đẳng trong thu nhập, nguy cơ thất nghiệp và bệnh tật, đói
nghèo. Đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò của Đảng, Nhà nước trong việc ban hành và
tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội nói
chung, ASXH nói riêng
- “An sinh xã hội ở nước ta ở Việt Nam hướng tới năm 2020” của Vũ Văn
Phúc [109] đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm thế giới về
ASXH: quan điểm và cách tiếp cận về về an sinh xã hội, xây dựng và thực hiện hệ
thống về ASXH ở nước ta trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN;
những vấn đề thực tiễn về an sinh xã hội ở nước ta: xây dựng và hoàn thiện hệ
thống ASXH ở Việt Nam, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, ASXH cho cư dân
vùng nông thôn, vùng nghèo, vùng khó khăn, vùng dân tộc và miền núi, đào tạo
nghề. Cuốn sách đã phác họa bức tranh tổng thể về cơ sở lý luận và những vấn đề
thực tiễn về ASXH ở nước ta. Tuy nhiên, các chuyên đề, bài viết của chuyên gia
chưa được tổng quan hóa nên tính logich của các nội dung vẫn còn bất cập.
-“Chính sách an sinh xã hội - thực trạng và giải pháp” của Lê Quốc Lý [95]
đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về những trở ngại trong thực thi chính sách


12
ASXH; những trở ngại trong thực thi chính sách ASXH ở Việt nam gần đây thông
qua việc đánh giá nhóm cán bộ thực thi và đối tượng thụ hưởng chính sách; trên cơ
sở mục tiêu, quan điểm thực thi chính sách ASXH ở Việt Nam đến năm 2020 cuốn
sách đã nêu lên 5 nhóm giải pháp khắc phục những trở ngại trong thực thi chính sách

13
xã hội (là hệ thống các chính sách hỗ trợ những người đang đối mặt (hoặc đe doạ)
bởi sự thiếu thốn nguồn thu nhập (mà đó chính là khoản lương bổng) hoặc các
khoản chi tiêu đặc biệt khác) và đề cập đến các chương trình mà chính phủ các
nước đặt ra với mục đích hàng đầu là giúp đỡ những người dân gặp rủi ro dẫn đến
việc bị mất hoặc giảm sút thu nhập; chế độ ASXH được xem như là sự bảo vệ của
nhà nước đối với người dân trước những rủi ro về xã hội. "Social Security in Global
Perspective" (An sinh xã hội trong viễn cảnh toàn cầu) của tác giả John Dixon
[185] đã đề cập đến nội dung ASXH của một quốc gia là nhằm cung cấp các biện
pháp công cộng (tiền mặt và hiện vật) cho những biến cố ngẫu nhiên mà luật pháp
đã quy định người dân có quyền được hưởng bao gồm mất mát thu nhập hoặc thu
nhập không đầy đủ, bù đắp hỗ trợ chi phí đối với những người sống phụ thuộc; an
sinh xã hội chỉ dành cho những cá nhân và hộ gia đình bị rơi vào hoàn cảnh mất
hoặc giảm thu nhập thường xuyên một cách đột ngột - ASXH chỉ tập trung vào hạn
chế nghèo đói, bồi thường xã hội và phân phối lại thu nhập, các hình thức bảo hiểm
không được coi là một bộ phận của ASXH. "Về bảo trợ xã hội và thúc đẩy xã hội:
Thiết kế và triển khai hệ thống an sinh hiệu quả" của nhóm tác giả M.Grosh,
C.Ninno, E.Tesliuc và A.Ouerghi [71] đã đề ra quan niệm "Mạng lưới an sinh xã
hội vừa dùng để đỡ những người rơi từ trên xuống về phương diện kinh tế trước khi
họ rơi vào cảnh bần hàn, vừa trợ cấp hoặc cung cấp một khoản thu nhập tối thiểu
cho những người ở trạng thái nghèo thường xuyên, lâu dài hơn"; ASXH chỉ bao
gồm hệ thống chính sách trợ giúp xã hội không có đóng góp và nhắm đến đối tượng
là người nghèo và người dễ bị tổn thương. Đồng thời, ASXH cũng chỉ dừng lại ở
những hoạt động chính thức của nhà nước mà không tính đến vai trò của tư nhân,
thị trường trong việc cung cấp các dịch vụ ASXH khác.
Nhìn chung, các ấn phẩm và quan niệm của một số học giả được đề cập đến ở
trên đều nhấn mạnh rằng, ASXH là các biện pháp bảo vệ sự an toàn xã hội cho các
thành viên của mình trong trường hợp họ gặp rủi ro dẫn đến bị mất hoặc giảm thu
nhập hay tăng chi phí đột ngột, thông qua các tầng lưới khác nhau để duy trì cuộc
sống bình thường - các tầng lưới đó bao gồm các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo

nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững ở Quận Hải Châu trong thời gian đến. “Giải
quyết nhà ở cho người thu nhập thấp tại Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp" của
Lê Văn Đính, Hồ Kỳ Minh [60] đã trình bày những thành tựu trong việc thực hiện
chính sách nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp
nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng nhằm hiện thực hóa Chương trình 3 có (có nhà ở, có việc làm, có nếp sống
văn minh đô thị) và mục tiêu xây dựng thương hiệu Thành phố đáng sống ở Đà
Nẵng.“Đà Nẵng với bài học thân dân, an dân và đồng thuận xã hội trong xây dựng


15
và phát triển" của Lê Văn Đính [58] đã trình bày những thành tựu trong việc thực
hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Đà Nẵng và đánh giá nguyên
nhân của thành tựu đo là do Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam
thành phố đã phát huy bài học thân dân, an dân và đồng thuận xã hội trong xây
dựng và phát triển.
- Ngoài các ấn phẩm sách, tạp chí; còn có những bài viết, chuyên đề được in
trong các kỷ yếu hội thảo, đề tài nghiên cứu và các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
nghiên cứu về ASXH ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên, thành phố Đà Nẵng:
Hội thảo “Phát triển kinh tế và an sinh xã hội - từ lý luận đến thực tiễn các
miền tỉnh miền Trung” của Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III [87]. Kỷ
yếu Hội thảo bao gồm các chuyên đề lý luận về an sinh xã hội; kết quả thực thi
chính sách an sinh xã hội trên các lĩnh vực (xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc
làm, trợ cấp xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nhà ở xã hội) ở miền Trung Tây Nguyên, thành phố Đà Nẵng. Hội thảo “Tăng trưởng xanh khu vực miền Trung
- Tây Nguyên: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra” của Viện Hàn lâm Khoa học xã
hội Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Vùng Trung bộ - Học viện CTQG Hồ Chí
Minh, Học viện Chính trị khu vực III [175] đã bàn về vấn đề tăng trưởng xanh khu
vực miền Trung - Tây Nguyên
Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu những nội dung trong hệ
thống an sinh xã hội ở khu vực miền Trung: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng

quan niệm, cấu trúc, vai trò của chính sách ASXH; đánh giá thực trạng và đề xuất
các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc thực thi chính sách ASXH ở Việt Nam
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay. Thứ ba, các
công trình nghiên cứu về ASXH ở miền Trung nói chung và thành phố Đà Nẵng nói
riêng đi sâu vào việc nghiên cứu từng mảng riêng lẻ trong nội dung cơ bản của hệ
thống ASXH như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; chính sách bảo trợ xã hội, ưu đãi
người có công, thương bệnh binh, gia đình chính sách; dạy nghề và giải quyết việc làm;
xóa đói giảm nghèo, nhà ở xã hội và nhà ở thu nhập thấp… Các kết quả nghiên cứu
này là tài liệu tham khảo quý giá, để từ đó tác giả có cái nhìn tổng quan trong việc phân
tích thực trạng chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng.
- Như đã phân tích ở trên, có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về an
sinh xã hội và việc thực hiện chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên; vấn đề ASXH có
nội hàm rất rộng và có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển KT - XH, nhất là
trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, cho
nên nghiên cứu về ASXH vẫn luôn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Mặt khác,
hiện nay, chưa có công trình nào đi vào đánh giá việc thực thi chính sách ASXH ở
thành phố Đà Nẵng một cách cụ thể, toàn diện. Đà Nẵng là địa phương có tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao, tốc độ đô thị hóa rất nhanh nhưng chính quá trình đó cũng
đã dẫn đến nhưng vấn đề xã hội bức xúc: Quá trình phát triển kinh tế đã dẫn đến
việc mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ đã thu hút số lượng lớn
lao động từ các địa phương khác đến tham gia làm việc và cư trú, trong đó có không
ít lao động tự do, những người lang thang cơ nhỡ… Mặt khác, dưới tác động của
quá trình đô thị hóa, các đối tượng dân cư bị thu hồi đất, phải chuyển đổi nghề


18
nghiệp, phải tái định cư do quá trình mở rộng và chỉnh trang đô thị rất lớn, gây áp
lực cho việc giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống, bố trí nhà ở trên địa bàn thành
phố, gây khó khăn cho công tác ASXH. Bên cạnh đó, hệ thống các trường đại học,
cao đẳng, trung cấp đã góp phần làm tăng số lượng học sinh, sinh viên đến học tập

- Trong cuốn An sinh xã hội Việt Nam hướng tới 2020 tác giả Vũ Văn Phúc
quan niệm: Theo nghĩa rộng ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status