ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ
HOÀNG BÍCH THỦY
NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2009
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ
HOÀNG BÍCH THỦY
NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số:
giới có những biến động sâu sắc, xu thế toàn cầu hóa tác động đến tất cả các
quốc gia đem lại nhiều thuận lợi đồng thời cũng đặt ra những thách thức to
lớn đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Đặc biệt, khi nước ta thực hiện quá
trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ đó đã và đang đặt ra
nhiều yêu cầu cấp bách, trong đó có yêu cầu tăng cường hơn nữa công tác
quản lý nhà nước bằng pháp luật đồng thời từng bước nâng cao nhận thức và
ý thức chấp hành pháp luật của người dân.
Sinh viên là đối tượng tiếp cận và chịu ảnh hưởng lớn nhất đối với sự
biến động của cơ chế thị trường và xu thế hội nhập của đất nước. Họ thuộc
lứa tuổi đang hình thành và phát triển nhân cách dễ bị chi phối và tác động
bởi những yếu tố bên ngoài, bởi vậy việc nâng cao ý thức pháp luật cho sinh
viên là rất cần thiết và góp phần tác động to lớn đến việc chấp hành nghiêm
chỉnh pháp luật và sự phát triển của đất nước.
Hải Phòng là một thành phố lớn, là nơi có thiên nhiên ưu đãi vừa có
cảng biển, vừa có giao thông thuận lợi cho việc phát triển kinh tế. Hải Phòng
cũng là một trong những trung tâm văn hóa lớn của cả nước, là nơi hội tụ
nhiều trường cao đẳng, đại học và có nhiều sinh viên từ các tỉnh khác đến học
tập và sinh sống. Tuy nhiên, trước sự mở rộng hội nhập của đất nước nói
chung và thành phố nói riêng đã tác động rất nhiều đến lối sống, suy nghĩ của
sinh viên ở Hải Phòng. Tình trạng vi phạm pháp luật, lối sống buông thả, thực
dụng, hưởng thụ... đã xuất hiện ở một bộ phận không nhỏ trong sinh viên.
4
Do đó, việc nhanh chóng nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên các
trường cao đẳng và đại học ở Hải Phòng giúp cho các em có tri thức cần thiết
và hành trang vững bước vào cuộc sống để xây dựng một thành phố lành
mạnh, trật tự, kỷ cương, góp phần xây dựng thành công sự nghiệp công
vẫn là một khoảng trống để ngỏ rất ít công trình nghiên cứu, đề cập đến. Đặc
biệt, đối với Thành phố Hải Phòng những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã
hội có nhiều biến đổi, phát triển, đời sống nhân dân không ngừng nâng cao.
Bên cạnh mặt tích cực đó thì trên địa bàn Thành phố cũng xuất hiện nhiều vấn
đề về trật tự, an ninh, xã hội. Đặc biệt, tình trạng phạm tội trong nhân dân
không ngừng gia tăng, trong đó xuất hiện ngày càng nhiều đối tượng phạm tội
là sinh viên. Trước thực trạng đó đòi hỏi nhu cầu bức thiết được giải đáp, định
hướng về mặt lý luận nhưng vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về
vấn đề nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân trên địa bàn thành phố nói
chung và cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn Thành phố
Hải Phòng nói riêng trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn: phân tích rõ thực trạng và đề xuất một số
giải pháp góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên các trường cao
đẳng, đại học ở thành phố Hải Phòng hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận có liên quan đến ý thức
pháp luật và vai trò của việc nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên hiện nay.
+ Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc nâng cao ý
thức pháp luật của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Thành phố Hải
Phòng hiện nay.
+ Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức pháp luật của
sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Thành phố Hải Phòng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực
tiễn có liên quan đến việc nâng cao ý thức pháp luật của sinh viên các trường
1.1. Khái niệm, đặc điểm, kết cấu và vai trò của ý thức pháp luật
1.1.1. Khái niệm ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật (hay ý thức pháp quyền) là một trong những hình thái
ý thức xã hội thuộc đời sống tinh thần xã hội của con người. Trong lịch sử tư
tưởng của loài người do có sự khác biệt về nhận thức giữa các thời đại cũng
như có sự khác biệt trong quan niệm về lợi ích giai cấp và tầng lớp xã hội nên
quan niêm về nội dung ý thức pháp luật không phải lúc nào cũng có sự thống
nhất, giống nhau.
Theo nghĩa hẹp, ý thức pháp luật là ý thức chấp hành những quy định
pháp luật của con người.Vì thế khi đánh giá ý thức pháp luật của một tập thể
hay một cá nhân nào đó người ta so sánh giữa ý thức chấp hành của những đối
tượng đó với yêu cầu của những quy định trong văn bản pháp luật để đánh giá
ý thức pháp luật cao hay thấp, tốt hay xấu của họ. Quan niệm này đồng nhất ý
thức pháp luật với một hình thức biểu hiện của nó, đó là ý thức chấp hành
những quy định của pháp luật. Cách hiểu về ý thức pháp luật theo nghĩa này
bộc lộ sự hạn chế, thiếu toàn diện vì đây mới chỉ là sự nhìn nhận đánh giá bên
ngoài, mang tính hình thức và dễ rơi vào chủ quan, phiến diện chưa đủ để thể
hiện rõ bản chất, vai trò năng động và sáng tạo của ý thức pháp luật.
Có quan niệm cho rằng: “Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã
hội biểu thị mối quan hệ của con người đối với pháp luật" [12, tr.147]. Đây là
quan niệm mang tính khái quát cao nhưng lại qúa chung chung chưa phản ánh
được kết cấu, nội dung và nguồn gốc của ý thức pháp luật.
8
Có quan niệm lại chỉ tập trung nhấn mạnh cơ cấu của ý thức pháp luật:
"Ý thức pháp luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật và tâm lý
pháp luật. Hay cụ thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những hiểu biết quan
điểm pháp lý, những tình cảm pháp luật cùng với sự tôn trọng và thói quen
quy luật, đặc điểm chung của ý thức pháp luật. Phản ánh của ý thức pháp luật
là phản ánh có nhận thức, phản ánh sáng tạo. Con người nhận thức, đánh giá
và thể hiện thái độ của mình trước các hiện tượng pháp lý vì vậy trình độ phản
ánh của ý thức pháp luật phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người. Các
đặc điểm của ý thức pháp được thể hiện như sau:
Thứ nhất, với tính cách là một hình thái ý thức xã hội - ý thức pháp luật
chịu sự qui định của tồn tại xã hội nhưng đồng thời nó cũng có tính độc lập
tương đối.
Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định.
Công lao to lớn của những nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác là đã phát triển chủ
nghĩa duy vật lên đến đỉnh cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử và lần
đầu tiên giải quyết một cách khoa học vấn đề sự hình thành và phát triển của
ý thức xã hội. C.Mác và Ph. Ăngghen đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần
của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở đời sống vật chất, rằng không
thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó nghĩa là
không thể tìm trong đầu óc của con người mà phải tìm trong hiện thực vật
chất. Các ông cũng chỉ rõ, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã
hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội, những quan
điểm về chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật... sớm
muộn cũng biến đổi theo.
Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn
tại xã hội từ góc độ pháp luật, thể hiện trình độ hiểu biết pháp luật và thái độ
đối với pháp luật của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai
cấp. Theo đó, ý thức pháp luật và pháp luật là những bộ phận của kiến trúc
thượng tầng, chịu sự quy định và bị chi phối bởi các yếu tố trong cơ sở hạ
tầng mà quan trọng nhất là các điều kiện kinh tế. Vì thế, những nội dung của
ý thức pháp luật và những quy định của pháp luật, xét đến cùng, chính là sự
phản ánh đời sống hiện thực khách quan, phản ánh sự vận động, biến đổi và
11
12
lớn. Ví dụ: những biểu hiện tâm lý của pháp luật phong kiến như sự thờ ơ,
phủ nhận pháp luật vẫn phổ biến trong xã hội ta.
Tuy nhiên, trong những điều kiện nhất định, nhiều tư tưởng pháp luật
đặc biệt là tư tưởng pháp luật khoa học có thể vượt lên trên sự quy định của
tồn tại xã hội. Nếu đó là tư tưởng pháp luật của giai cấp cầm quyền thì nó sẽ
có cơ hội thuận lợi thể hiện pháp luật và tạo ra những sự tiến bộ trong đời
sống xã hội.
Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nào đó nhưng
nó cũng có tính kế thừa những yếu tố của ý thức pháp luật của thời đại trước
đó.Tất nhiên những yếu tố kế thừa có thể là tiến bộ hoặc không tiến bộ.
Thứ hai, ý thức pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại với các hình
thái ý thức xã hội khác, nhất là đối với ý thức chính trị, đạo đức, tôn giáo,
nghệ thuật.
Tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội thể hiện ở chỗ: Trong
mỗi thời đại lịch sử khác nhau, tùy thuộc vào bản chất của giai cấp cầm quyền
mà vai trò của các hình thái ý thức pháp luật trong đó có ý thức pháp luật
khác nhau. Ý thức pháp luật có thể chịu sự chi phối của các hình thái ý thức
xã hội khác hoặc tác động chi phối ngược lại đối với các hình thái ý thức xã
hội khác. Chẳng hạn, trong xã hội phong kiến ý thức pháp luật đóng vai trò
chịu sự chi phối, trong xã hội tư sản ý thức pháp luật đóng vai trò chi phối các
hình thái ý thức xã hội khác.
Ý thức pháp luật và ý thức chính trị cùng ra đời và tồn tại trong những
xã hội có giai cấp, ý thức pháp luật vừa có tính độc lập tương đối vừa chịu sự
chi phối của ý thức chính trị. Nếu ý thức chính trị phản ánh những nguyên tắc
trong mối quan hệ giữa các tập đoàn người trong xã hội đối với quyền lực nhà
nước thì ý thức pháp luật phản ánh mối quan hệ của các cá nhân đối với nhà
Sự khác nhau giữa ý thức pháp luật và ý thức tôn giáo thể hiện ở chỗ: Ý
thức tôn giáo là sự phản ánh hoang đường hư ảo về thế giới khách quan và
gắn cho những hiện tượng tự nhiên, xã hội trở nên thần bí, không phải do bị
14
cưỡng chế hay ép buộc và ý thức tôn giáo thường mang tính chủ quan của
từng cá nhân trong xã hội. Bản chất của ý thức pháp luật là sự nhận thức,
đánh giá có sự điều chỉnh, có sự cưỡng chế, ép buộc của các quy định chung
mang tính khách quan trong xã hội mà bắt buộc mọi cá nhân đều phải tuân
thủ. Các Mác đã viết: "tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con
người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã để lại đánh mất mình một lần
nữa". Khác với tôn giáo, ý thức pháp luật lại là sản phẩm của sự sàng lọc của
con người về những điều được coi là cần thiết, bắt buộc phải tuân theo trong
mọi hoạt động, mọi ứng xử để đảm bảo lợi ích của toàn xã hội, mà trước hết
là lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Ý thức pháp luật khác với ý thức thẩm mỹ ở chỗ, ý thức thẩm mỹ là ý
thức thỏa mãn trước cái đẹp và điều này không mang tính bắt buộc chung đối
với tất cả mọi người. Trong xã hội, khó có một tiêu chuẩn chung về cái đẹp
cho mọi người và nó không mang tính cưỡng chế như ý thức pháp luật. Vì
thế, ý thức thẩm mỹ cho phép các cá nhân có sự lựa chọn rộng rãi - điều này
khác với ý thức pháp luật. Nhà nước và giai cấp cầm quyền luôn thông qua
việc đặt ra quy phạm pháp luật làm chuẩn mực xử sự cho hành vi của mỗi
người trong xã hội, tức là áp đặt ý thức pháp luật cho xã hôi. Việc không thừa
nhận ý thức này có nghĩa là chống lại ý chí của Nhà nước và sẽ bị cưỡng chế
bằng các chế tài của pháp luật.
Thứ ba, ý thức pháp luật mang tính giai cấp
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội mang tính giai cấp sâu
sắc, phản ánh đời sống pháp luật của xã hội, thông qua quan điểm, tư tưởng
nhà chuyên môn pháp lý, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội hay các người
làm công tác lãnh đạo, quản lý nhà nước. Những tư tưởng quan điểm pháp
luật của các cá nhân trong xã hội thường rất đa dạng, phong phú trong khi hệ
tư tưởng pháp luật của xã hội chỉ có một, đó là hệ thống thống nhất những tư
tưởng quan điểm được giai cấp thống trị xã hội thừa nhận và được phổ biến
rộng rãi, truyền bá công khai thông qua các hoạt động của toàn bộ hệ thống
chính trị và các ấn phẩm được phép ban hành. Hệ tư tưởng pháp luật luôn
16
luôn có xu hướng biến đổi mạnh mẽ thành ý thức pháp luật đầy đủ của toàn
xã hội.
Tâm lý pháp luật là trình độ nhận thức trực giác, cảm tính dưới sự tác
động mạnh mẽ của yếu tố nhu cầu, lợi ích của cá nhân, tập thể hay của cộng
đồng xã hội. Nó mang nhiều tính chủ quan tự phát, trong hoạt động giao tiếp
hàng ngày trước các sự kiện, hiện tượng pháp luật lớn nhỏ xảy ra trong con
người thường biểu hiện trạng thái tâm lý có tác động ảnh hưởng đến hành vi
của họ. Những trạng thái đó bao gồm tình cảm, tâm trạng, truyền thống, thói
quen, niềm tin, thành kiến, sự bắt chước, phụ họa theo một mô hình có sẵn
hoặc tin theo những lời khuyên nào đó... Tình cảm, tâm trạng là những yếu tố
rất năng động trong tâm lý pháp luật. Trong thực tế một qui định mới ra đời,
nếu người có trách nhiệm thực hiện thấy rằng: qui định đó phù hợp với
nguyện vọng, đáp ứng được lợi ích, nhu cầu của mình thì xuất hiện trong họ
tình cảm tích cực, trạng thái phấn khởi thôi thúc hành động muốn thực hiện
qui định đó nhanh chóng. Ngược lại nếu họ cho rằng qui định đó là không phù
hợp, không đem lại lợi ích cho mình thì xuất hiện tâm trạng tiêu cực, buồn bã
miễn cưỡng chấp hành, thậm chí không chấp hành. Tình cảm phát triển cao là
động cơ thôi thúc con người suy nghĩ hành động một cách tích cực, sáng tạo.
Như vậy, tình cảm pháp luật ảnh hưởng rất lớn tới thái độ tích cực hoặc tiêu
thường phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều mặt cuộc sống hàng ngày của con
người, thường xuyên chi phối cuộc sống đó. Ý thức pháp luật thông thường
tuy là trình độ thấp so với ý thức lý luận, nhưng những tri thức kinh nghiệm
phong phú đó có thể trở thành tiền đề quan trọng cho sự hình thành các lý
thuyết xã hội. Hàng ngày con người sống và thường xuyên có mối liên hệ, tác
động với nhau và va chạm với các sự kiện pháp lý, tham gia trực tiếp vào
nhiều quan hệ pháp luật về dân sự, hành chính, giao thông, hình sự...tham gia
vào các hoạt động chính trị, pháp lý như bầu cử, khiếu nại, tố cáo, đóng góp ý
kiến vào các dự án luật... Trong lao động sản xuất, con người giao tiếp, học
tập, ảnh hưởng lẫn nhau và cùng chịu tác động của các hình thức, phương
pháp giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật của nhà nước, của các tổ chức xã
18
hội thông qua các phương tiện truyền thông như: đài, báo, truyền hình, các
hình thức nghệ thuật... Sự tác động ảnh hưởng qua lại của nhiều hình thức nêu
trên giúp cho con người có những hiểu biết nhất định về pháp luật chủ yếu là
ở mức độ kinh nghiệm thông thường. Những hiểu biết thông thường phổ biến
về pháp luật giúp cho con người xử lý nhanh nhạy, kịp thời có hành vi phù
hợp với những đòi hỏi ở mức chung nhất những quy phạm pháp luật khi gặp
những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày. Mỗi cá nhân tùy theo vị trí
xã hội và điều kiện sống, có những hiểu biết pháp luật ở mức thông thường
khác nhau và trong lĩnh vực pháp luật này có thể có hiểu biết pháp luật mức
độ lý luận nhưng ở lĩnh vực khác lại có mức độ hiểu biết pháp luật thông
thường. Không phải ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào mọi hoạt động xã hội cũng
cần đến ý thức pháp luật lý luận. Không phải ai cũng có mức độ hiểu biết lý
luận về pháp luật ở tất cả các khâu, các lĩnh vực của pháp luật, ý thức pháp
luật thông thường làm phong phú ý thức pháp luật lý luận, là điều kiện, môi
trường cho việc hình thành ý thức pháp luật lý luận.
và hạn chế đến mức tối đa các yếu tố tiêu cực trong sự vận hành của cơ chế
kinh tế. Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang thực hiện nền kinh tế
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Với đặc trưng này, bên cạnh những tích cực trong việc nâng cao tính cạnh
tranh và năng suất lao động thì cũng tồn tại những hạn chế tiêu cực đó là việc
chạy theo lợi nhuận, bất chấp mọi thủ đoạn như làm hàng giả, hàng lậu, tham
ô, tham nhũng, đầu cơ, tích trữ để nâng giá gây rối loạn thị trường, ảnh hưởng
đến sự phát triển kinh tế. Do vậy, muốn có sự cạnh tranh lành mạnh trên thị
trưòng thì cần phải có các đạo luật phù hợp. Chẳng hạn như luật chống độc
quyền, luật bảo vệ người tiêu dùng, luật doanh nghiệp, luật cạnh tranh, luật
phá sản...sẽ phát huy được tính tích cực của cơ chế kinh tế này và cũng phát
huy tích cực vai trò quản lý kinh tế của nhà nước nhằm đem lại hiệu quả cho
sự phát triển kinh tế. Để có được các đạo luật phù hợp này thì hệ tư tưởng
pháp luật đóng vai trò quan trọng.
20
Do ảnh hưởng của trình độ, tâm lý, thói quen, tập quán và cả những
điều kiện kinh tế làm cho ý thức pháp luật của người dân nước ta chưa cao,
điều này có tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế như tự do cạnh tranh,
bất chấp các thủ đoạn như gian lận trong sản xuất kinh doanh làm cho gây tổn
thất kinh tế của xã hội như làm hàng giả, hàng kém chất lương, trốn thuế...
Như vậy, việc nâng cao ý thức pháp luật cho người dân sẽ hạn chế được
những tiêu cực của nền kinh tế và phát huy những tích cực của cơ chế kinh tế
ở nước ta hiện nay, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.
Như vậy, muốn kinh tế phát triển, thúc đẩy đời sống xã hội đi lên thì ý
thức pháp luật phải là nhân tố quan trọng trong quá trình ổn định, điều chỉnh
mọi quan hệ xã hội. Điều đó chỉ được thực hiện khi có tác động tích cực của
hệ tư tưởng pháp luật, bởi vì nó giữ vai trò định hướng cho kinh tế và đời
Thứ ba, vai trò của ý thức pháp luật trong việc phát triển văn hóa
Chúng ta thấy rằng ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, nó
có quan hệ và tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác trong đó
có cả văn hóa. Sự tác động này diễn ra theo hai chiều hướng, có thể là tích
cực hoặc là tiêu cực. Chẳng hạn, ý thức pháp luật của một cá nhân tốt họ sẽ
tiếp nhận những luồng văn hóa tích cực, trình độ văn hóa sẽ nâng cao, tạo ra
những hành động tích cực trong cuộc sống. Ngược lại nếu ý thức pháp luật
kém, cá nhân đó sẽ tiếp cận với những luồng tư tưởng xấu, nhiễm những thói
hư tật xấu dẫn đến tư tưởng lệch lạc và có những suy thoái về đạo đức, lối
sống... điều này sẽ gây ra những tác hại cho sự phát triển văn hóa của xã hội.
Hiện nay trong xã hội ta đã xuất hiện một bộ phận không nhỏ những thanh
niên sống thiếu văn hóa, chỉ thích hưởng thụ, thực dụng, vui chơi giải trí
không lành mạnh, tiếp cận rất nhanh những thói hư tật xấu những luồng tư
tưởng phản động phi văn hóa từ bên ngoài và nếu cùng với sự phát triển của
đất nước nếu Đảng và Nhà nước không có giải pháp tác động, ngăn chặn kịp
thời thì những tư tưởng và lối sống như vậy sẽ lan rộng và làm mất dần đi
những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Khi có ý thức pháp
22
luật tích cực trong việc tiếp cận và kế thừa văn hóa làm cho đời sống tinh thần
của con người tốt hơn, những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc sẽ
được giữ gìn và phát huy. Như vậy, qua phân tích chúng ta thấy rằng ý thức
pháp luật có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của văn hóa.
Tóm lại, ngoài những vấn đề mà chúng ta vừa phân tích thì ngoài ra có
thể khẳng định rằng: ý thức pháp luật có vai trò tác động rất quan trọng đến
mọi mặt của đời sống xã hội. Sự tác động diễn ra theo hai chiều hướng có thể
là tích cực nếu ý thức pháp luật tiến bộ, có thể là tiêu cực nếu ý thức pháp luật
kém. Do vậy, cần phải có một cơ chế để phát huy vai trò tích cực của ý thức
chính trị, giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề cấp bách về kinh tế xã hội. Nhưng một thực tế đáng buồn là cùng với sự phát triển về kinh tế - xã
hội, đời sống ngày càng được nâng cao, thì tình trạng vi phạm pháp luật ngày
càng tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng. Trong đó, một số lượng
không nhỏ các vụ vi phạm pháp luật do học sinh, sinh viên gây ra. Nguyên
nhân cơ bản vẫn là do ý thức pháp luật của một bộ phận sinh viên còn hạn
chế.
Thực trạng trên đây dù được lý giải như thế nào đi nữa, chúng ta cũng
cần phải nhấn mạnh rằng, đã có một thời gian dài, công tác tuyên truyền, giáo
dục pháp luật chưa được chú trọng đúng mức, thậm chí nhiều nơi, nhiều lúc
buông lỏng. Sự coi nhẹ và thiếu năng động trong công tác tuyên truyền giáo
dục pháp luật cho học sinh, sinh viên là một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng số lượng học sinh, sinh viên vi phạm pháp luật và kỷ cương
ngày càng tăng. Điều đó đã đặt ra cho chúng ta thấy sự cần thiết phải nhận
thức được ý nghĩa quan trọng mang tầm chiến lược của công tác tuyên truyền
phổ biến và giáo dục ý thức pháp luật trong công tác giảng dạy ở các trường
cao đẳng và đại học hiện nay. Trong một thời gian khá dài, chúng ta mới chỉ
chú trọng bồi dưỡng truyền thụ cho thế hệ trẻ những kiến thức khoa học, mà
chưa chú ý đúng mức đến kiến thức pháp luật và kỹ năng sống. Sự thiếu đồng
bộ trong công tác giáo dục đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là ý thức pháp
24
luật của quần chúng - trước hết là lớp người trẻ tuổi - chưa cao, dẫn đến tình
trạng phạm tội ở lớp người này xảy ra nghiêm trọng, chiếm tỷ lệ cao trong
tổng số người phạm pháp và đang có xu thế ngày càng tăng, trong số đó có
nhiều trường hợp do kém hiểu biết pháp luật mà dẫn đến phạm tội.
Vì vậy, trong tình hình hiện nay, việc nâng cao ý thức pháp luật cho
mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt là đối với học sinh, sinh viên các trường
được đặt ra như là một tất yếu khách quan. Học sinh, sinh viên nhìn chung là