TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Thuộc nhóm ngành khoa học: XH2b
Sơn La, tháng 5 năm 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Thuộc nhóm ngành khoa học: XH2b
Sinh viên thực hiện: Lừ Thị Sơn
Quàng Thị Tiên
Vừ Thị Di
Điêu Thị Quê
Giới tính: Nữ
tài này.
Cuối cùng chúng em xin chân thành cảm ơn hội đồng nghiệm thu đề tài.
Do những điều kiện khách quan và chủ quan nên bản thân đề tài này chắc chắn sẽ
còn nhiều thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các
thầy cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn.
Sơn La, tháng 05 năm 2016
Người thực hiện: Lừ Thị Sơn
Quàng Thị Tiên
Vừ Thị Di
Điêu Thị Quê
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
1
Tên bảng biểu
Bảng 1: Số lượng sinh viên các dân tộc trường Đại học Tây
Bắc năm học 2015 - 2016
Số trang
20
2
Bảng 2: Số lượng sinh viên các dân tộc Khoa Lý luận chính
ngoại khóa
Biểu đồ 3: Tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ
37
9
biến giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên
Biểu đồ 4: Đánh giá của sinh viên về biểu hiện ý thức pháp
38
luật của sinh viên hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay, đất nước ta đã và đang đứng trước
khó khăn thách thức. Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều phải lựa chọn và xây dựng cho
mình hệ thống pháp luật toàn diện, phù hợp với đặc điểm riêng song đồng thời cũng
phải đảm bảo tuân thủ những quy định của pháp luật quốc tế đã được kí kết.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn
diện về kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền với mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đi vào chiều sâu, mở rộng hội nhập quốc tế trong bối
cảnh toàn cầu hóa thì yêu cầu tiếp tục mở rộng hiểu biết và nâng cao ý thức pháp luật
cho thanh niên nói chung, sinh viên nói riêng là rất cần thiết.
Ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội, được hình thành, tồn
tại và phát triển trong những hình thái kinh tế - xã hội đã có giai cấp, Nhà nước và
dựng thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát triển ngày càng giàu đẹp, góp phần xây dựng
thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một yêu cầu cần thiết trong tình hình hiện nay.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao ý
thức pháp luật cho sinh viên khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Tây Bắc trong
giai đoạn hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc nâng cao ý thức pháp luật cho người dân nói chung và sinh viên nói riêng có
ý nghĩa to lớn, tạo nên nội lực cho việc xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, chủ đề này đã được nhiều công trình khoa học
nghiên cứu. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: “Bàn về ý thức pháp
luật” của Hoàng Thị Kim Quế, Luật học, Trường Đại Học Luật Hà Nội, số 1/2003;
“Một số biện pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật phòng, chống ma túy trong học
sinh, sinh viên hiện nay” của Nguyễn Thị Hoàng Lan, Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư
pháp, số 10/2009; “Ý thức pháp luật và xây dựng ý thức chấp hành pháp luật về trật tự,
an toàn giao thông” của Lê Thị Phương Nga, Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, số
7/2009; “Ảnh hưởng của ý thức pháp luật đến việc thực hiện pháp luật ở Việt Nam
hiện nay” – khóa luận tốt nghiệp của Đào Thị Tuyền, TS.Nguyễn Văn Năm hướng
dẫn, Hà Nội, 2012; “Ý thức pháp luật của thanh niên trên địa bàn Thành Phố Hà Nội
trong giai đoạn hiện nay”, khóa luận tốt nghiệp của Phạm Thị Hân, người hướng dẫn:
PGS.TS.Nguyễn Minh Đoan, Hà Nội, 2012...ngoài ra còn rất nhiều bài báo, bài viết về
vấn đề này được đăng trên các tạp chí, sách báo. Nhìn chung, các công trình nghiên
2
cứu đã làm rõ tính cấp thiết và đề xuất những giải pháp thiết thực trong việc nâng cao
ý thức pháp luật cho nhân dân trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, các công trình
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này chưa nhiều và thời gian thực hiện cách đây đã
lâu nên chưa đáp ứng kịp thời với tình hình thực tiễn của đất nước.
Đối với vấn đề nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên thì vẫn là một khoảng
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
- Đề tài dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về các vấn đề có liên quan
trong đề tài.
- Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật và các phương pháp khác như:
Phân tích, tổng hợp, điều tra, khảo sát, thống kê, phỏng vấn.
6. Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần làm rõ về vai trò của ý thức pháp luật và vai trò
của ý thức pháp luật cho sinh viên hiện nay.
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm tìm ra các biện pháp tác
động giúp sinh viên tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật hoặc được dùng
làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu cho sinh viên khoa Lý luận chính trị, Trường
Đại học Tây Bắc.
7. Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên
khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Tây Bắc.
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp để nâng cao ý thức pháp luật cho sinh
viên khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Tây Bắc.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP
LUẬT CHO SINH VIÊN KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TÂY BẮC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1. Cơ sở lý luận
nó thể hiện tri thức và sự đánh giá về tính công bằng của những quy tắc được chấp
nhận trong một xã hội nhất định với tính cách là luật pháp, về quyền hạn và nghĩa vụ
các thành viên trong xã hội, về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi con
người, nó là một trong những vấn đề cơ bản, đa dạng, phức tạp của đời sống pháp luật.
Từ điển Bách khoa toàn thư của Việt Nam, định nghĩa về ý thức pháp luật được
đề cập như sau: Ý thức pháp luật là tổng hợp những quan điểm, tư tưởng học thuyết
thể hiện thái độ của con người, các nhóm xã hội, giai cấp... đối với pháp luật, pháp
chế cũng như quan điểm của họ về sự hợp pháp hay không hợp pháp trong những
hành vi của những cá nhân, tổ chức, xã hội; Ý thức pháp luật có nội dung chủ yếu:
1. Sự hiểu biết về pháp luật
2. Thái độ đối với pháp luật
3. Khả năng thực hiện, áp dụng pháp luật.
Triết học mác - xít cho rằng, ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức
xã hội trong xã hội có giai cấp, nó cùng tồn tại khách quan với các hình thái ý thức xã
hội khác như đạo đức, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học. Ý thức pháp luật tồn
tại phổ biến trong ý thức của mọi cá nhân và toàn xã hội, bản chất của nó là phản ánh
đời sống pháp luật của xã hội.
Đời sống pháp luật đó là nhu cầu cần phải điều chỉnh những hành vi có tính lặp
đi, lặp lại thường xuyên, phổ biến của con người trong đời sống xã hội nhằm bảo vệ
lợi ích của giai cấp nắm quyền lực và duy trì sự ổn định của cộng đồng xã hội. Nhu
cầu cần điều chỉnh đó được con người phản ánh một cách tích cực và sáng tạo hình
thành ý thức pháp luật.
Ý thức pháp luật hiểu theo nghĩa thông thường, theo nghĩa hẹp thì đó là ý thức
chấp hành những quy định pháp luật của con người. Quan niệm này thường được xem
như sự đánh giá chủ quan của một tập thể, cá nhân nào đó về mức độ hành vi chấp
hành của một đối tượng nhất định trong việc thực hiện pháp luật theo những quy định
trong văn bản pháp lý, đó là sự đánh giá mức độ ý thức pháp luật cao hay thấp, tốt hay
kém của họ. Cách quan niệm này vô hình chung đã đồng nhất ý thức pháp luật với một
hình thức biểu hiện cụ thể của nó. Như vậy, sẽ là quá hẹp, phiến diện vì nó chưa thể
hiện rõ được vai trò, chức năng, bản chất và kết cấu của ý thức pháp luật.
lớn của những nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác là đã phát triển chủ nghĩa duy vật lên
đến đỉnh cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử và lần đầu tiên giải quyết một
cách khoa học vấn đề sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội. C.Mác và Ph.
Ăngghen đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển
trên cơ sở đời sống vật chất, rằng không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã
hội trong bản thân nó nghĩa là không thể tìm trong đầu óc của con người mà phải
tìm trong hiện thực vật chất. Các ông cũng chỉ rõ, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã
hội, ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội,
những quan điểm về chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật...sớm
muộn cũng biến đổi theo.
Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại xã hội
từ góc độ pháp luật, thể hiện trình độ hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật
của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai cấp. Theo đó, ý thức pháp
luật và pháp luật là những bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định và bị
chi phối bởi các yếu tố trong cơ sở hạ tầng mà quan trọng nhất là các điều kiện kinh tế.
9
Vì thế, những nội dung của ý thức pháp luật và những quy định của pháp luật, xét đến
cùng, chính là phải chịu sự chi phối của các yêu cầu khách quan phát sinh trong các
quan hệ xã hội. Về điều này, C.Mác đã khẳng định: “Nhà lập pháp phải coi mình như
là nhà khoa học tự nhiên. Ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát minh ra
chúng mà chỉ nêu chúng lên; ông ta biểu hiện những quy luật nội tại của những mối
quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành văn có ý thức” [8, tr. 232].
Tuy nhiên, trong những điều kiện nhất định, nhiều tư tưởng pháp luật đặc biệt là
tư tưởng pháp luật khoa học có thể vượt lên trên sự quy định của tồn tại xã hội. Nếu đó
là tư tưởng pháp luật của giai cấp cầm quyền thì nó sẽ có cơ hội thuận lợi thể hiện
pháp luật và tạo ra những sự tiến bộ trong đời sống xã hội.
Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nào đó nhưng nó cũng
có tính kế thừa những yếu tố của ý thức pháp luật của thời đại trước đó.Tất nhiên
nhau, hỗ trợ và làm tiền đề cho nhau trong sự hình thành và phát triển của nhau. Trong
đó, ý thức đạo đức có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự hình thành và nâng cao ý
thức pháp luật, nhất là đối với ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Sự khác nhau giữa ý thức pháp luật và ý thức tôn giáo thể hiện ở chỗ: Ý thức tôn
giáo là sự phản ánh hoang đường hư ảo về thế giới khách quan và gắn cho những hiện
tượng tự nhiên, xã hội trở nên thần bí, không phải do bị cưỡng chế hay ép buộc và ý
thức tôn giáo thường mang tính chủ quan của từng cá nhân trong xã hội. Bản chất của ý
thức pháp luật là sự nhận thức, đánh giá có sự điều chỉnh, có sự cưỡng chế, ép buộc của
các quy định chung mang tính khách quan trong xã hội mà bắt buộc mọi cá nhân đều
phải tuân thủ. Các Mác đã viết: Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con
người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã để lại đánh mất mình một lần nữa. Khác
với tôn giáo, ý thức pháp luật lại là sản phẩm của sự sàng lọc của con người về những
điều được coi là cần thiết, bắt buộc phải tuân theo trong mọi hoạt động, mọi ứng xử để
đảm bảo lợi ích của toàn xã hội, mà trước hết là lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Ý thức pháp luật khác với ý thức thẩm mỹ ở chỗ, ý thức thẩm mỹ là ý thức thỏa
mãn trước cái đẹp và điều này không mang tính bắt buộc chung đối với tất cả mọi
người. Trong xã hội, khó có một tiêu chuẩn chung về cái đẹp cho mọi người và nó
không mang tính cưỡng chế như ý thức pháp luật. Vì thế, ý thức thẩm mỹ cho phép
các cá nhân có sự lựa chọn rộng rãi - điều này khác với ý thức pháp luật. Nhà nước và
giai cấp cầm quyền luôn thông qua việc đặt ra quy phạm pháp luật làm chuẩn mực xử
sự cho hành vi của mỗi người trong xã hội, tức là áp đặt ý thức pháp luật cho xã hôi.
Việc không thừa nhận ý thức này có nghĩa là chống lại ý chí của Nhà nước và sẽ bị
cưỡng chế bằng các chế tài của pháp luật.
Thứ ba, ý thức pháp luật mang tính giai cấp
11
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội mang tính giai cấp sâu sắc, phản
ánh đời sống pháp luật của xã hội, thông qua quan điểm, tư tưởng về pháp luật của giai
12
trị, xã hội tư bản chủ nghĩa giai cấp tư sản giữ địa vị thống trị, trong xã hội xã hội chủ
nghĩa giai cấp thống trị là giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản). Khi giai cấp cầm quyền là lực lượng tiến bộ của xã hội, có lợi ích
kinh tế - chính trị phù hợp với lợi ích căn bản của số đông các lực lượng khác trong xã
hội thì hệ tư tưởng pháp luật sẽ mang tính khoa học, tính cách mạng, tính dân chủ và
tính xã hội cao. Ngược lại, nó có thể trở nên lạc hậu, thậm chí phản động khi nó đối
lập với xã hội, nó sẽ là rào cản của phát triển xã hội. Tuy nhiên, hai khuynh hướng trên
nó luôn luôn chuyển hóa để trở thành ý thức pháp luật của toàn xã hội, suy cho cùng
nó phản ánh sâu sắc bản chất tồn tại xã hội do tồn tại xã hội quy định, mà đỉnh cao của
nó là lợi ích kinh tế - chính trị của giai cấp thống trị ở mỗi xã hội nhất định.
Hai là: tâm lý pháp luật là sự phản ánh tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm
của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý.
Tâm lý pháp luật được hình thành một cách tự phát, dưới dạng tình cảm, tâm
trạng, thái độ, cảm xúc của con người đối với pháp luật. Sự tồn tại của tâm lý pháp luật
thường gắn với trạng thái tâm lý của con người, là sự phản ánh trực tiếp, những "cung
bậc" tình cảm của con người đối với các hiện tượng pháp lý cụ thể. Tâm lý pháp luật là
một bộ phận của ý thức pháp luật, so với hệ tư tưởng thì nó phong phú hơn, có tính
bền vững hơn và ít biến đổi và gắn bó chặt chẽ với thói quen, truyền thống, tập quán
của con người, của cộng đồng xã hội.
Nói tâm lý pháp luật là nói đến sự biểu đạt những cảm xúc, tâm trạng, thái độ của
con người đối với pháp luật, liên quan mật thiết với nhu cầu và lợi ích của con người
và mức độ biểu hiện của nó với pháp luật, mặt khác nó còn chịu sự ràng buộc của
những thói quen, truyền thống, tập quán sản xuất lao động, quan hệ kinh tế - xã hội
của con người. Bởi vậy, cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, tâm lý pháp luật
thường ít biến đổi, chậm thay đổi, nó mang tính bảo thủ, có tính bền vững cao so với
tư tưởng pháp luật. Do vậy, để xóa bỏ ý thức pháp luật lạc hậu, xây dựng ý thức pháp
luật xã hội chủ nghĩa thì không thể chủ quan tùy tiện áp đặt khiên cưỡng, ngược lại
dân, bên cạnh việc đổi mới hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật, việc kiểm tra
giám sát thực hiện pháp luật cần phải tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật
hơn nữa cho thế hệ trẻ nhất là với đối tượng thanh niên, sinh viên hiện nay.
* Vai trò của ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật ra đời từ những điều kiện xã hội nhất định, phản ánh nhu cầu
điều chỉnh cũng như quá trình điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội. Ý
thức pháp luật có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội. Tùy thuộc vào ý
thức pháp luật tiến bộ hay lạc hậu mà sự tác động của nó có vai trò tích cực hay ảnh
hưởng tiêu cực đến các mặt khác nhau của đời sống xã hội.
14
Ở đây, chúng tôi tập trung phân tích vai trò của ý thức pháp luật đối với đời sống
kinh tế, chính trị, văn hóa - tư tưởng.
Thứ nhất, vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống kinh tế. Đời sống kinh tế
của xã hội là tổng thể những mối quan hệ, tương tác lẫn nhau của con người liên quan
trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm và dịch vụ
nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người với một nguồn lực có giới hạn.
Ý thức pháp luật có thể góp phần thúc đẩy đời sống kinh tế phát triển, bởi lẽ ý
thức pháp luật là tiền đề trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhà
nước. Hệ thống pháp luật nhà nước nếu phản ánh đúng quy luật phát triển kinh tế,
phản ánh đúng nhu cầu và xu hướng phát triển của một chế độ kinh tế - xã hội trong
giai đoạn lịch sử nhất định thì mới có tác dụng thúc đẩy và tạo điều kiện cho các quan
hệ kinh tế - xã hội mới phát triển.
Do đó, Nhà nước với tư cách là người trực tiếp sáng tạo pháp luật trước hết phải
nhận thức được những đòi hỏi khách quan của đời sống kinh tế - xã hội thực tiễn,
những yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển của kinh tế - xã hội để phản ánh kịp
thời vào hệ thống pháp luật. Pháp luật là công cụ quản lý kinh tế của đất nước thông
qua việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch phát triển thành hệ thống các quy phạm
pháp luật luôn có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hình thái ý thức xã hội khác. Những
quan điểm, tư tưởng pháp luật khoa học, tiến bộ góp phần củng cố, phát huy những
nhân tố tích cực ở các hình thái ý thức xã hội khác; đồng thời khắc phục những quan
niệm không phù hợp, ảnh hưởng xấu đến lợi ích của các giai cấp, đến đời sống cộng
đồng và tiến bộ xã hội.
Ý thức pháp luật cao giúp khắc phục tình trạng xâm phạm quyền tự do dân chủ
của nhân dân. Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa đã góp phần vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ,
kiên quyết chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sôvanh
nước lớn.
Ý thức pháp luật quyết định hiệu quả của việc thực hiện pháp luật, đưa pháp luật
vào cuộc sống. Ý thức pháp luật cao là cơ sở cho những ứng xử có văn hóa của con
người khi con người có ý thức tôn trọng nhau thông qua việc nghiêm chỉnh chấp hành,
tuân thủ pháp luật.
Ý thức pháp luật được xem là điều kiện quan trọng, tiền đề tư tưởng trực tiếp
cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ý thức pháp luật
cao là điều kiện để việc biên soạn, ban hành pháp luật được tiến hành nhanh chóng
và thuận lợi.
16
Như vậy từ những điều trình bày ở trên, có thể nói, ý thức pháp luật có vai trò to
lớn trong đời sống xã hội.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khái quát chung về sinh viên khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học
Tây Bắc
1.2.1.1. Sơ lược về khoa Lý Luận chính trị
Trường Đại học Tây Bắc nằm ở tỉnh Sơn La – một tỉnh của vùng Tây Bắc. Là
trường Đại học đa ngành, Trường Đại học Tây Bắc trở thành trung tâm đào tạo nhân
nghiên cứu, ứng dụng cũng như trong các quan hệ xã hội. Thực tế ngày nay cho thấy
sinh viên của chúng ta ngày càng phát huy khả năng và nỗ lực phấn đấu “Vì ngày mai
lập nghiệp” bằng các thành tích xuất sắc trong học tập cũng như trong sinh hoạt xã
hội, ngày càng thích ứng với thời cuộc, nắm bắt nhiều thông tin trên nhiều lĩnh vực
trong nước lẫn quốc tế. Trong cơ chế mới, vận hội mới của đất nước, sinh viên không
chỉ đơn thuần có học vấn mà còn rất năng động, sáng tạo trong việc vận dụng những
tri thức đã học vào cuộc sống phục vụ bản thân và xã hội, góp phần nhỏ bé của mình
vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, sinh viên cũng có những hạn chế nhất định như:
Về tâm, sinh lý: Ở lứa tuổi này, tâm lý sinh viên có nhiều biến động rất nhạy
cảm, dễ xúc động, dễ bị kích động, bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài như phim,
ảnh, các hoạt động văn hóa xã hội. Khi cơ thể phát triển tạo ra các nhu cầu tìm hiểu sự
việc, những ham muốn về sinh lý, về giới tính cộng với tính tò mò muốn biết hết mọi
việc, muốn làm tất cả những gì mình muốn. Vì thế dễ nảy sinh tâm lý lệch lạc, dẫn đến
hành vi phạm tội, nếu thiếu sự giáo dục, thiếu hiểu biết về cuộc sống, nhất là thiếu
hiểu biết về pháp luật.
Về nhận thức: Đa số người học đang trong giai đoạn bắt đầu hình thành nhân
cách, tâm sinh lý chưa ổn định, suy nghĩ chưa chín chắn, tính cách hay thay đổi. Đa số
các bạn sinh viên chưa nhận thức đầy đủ được tính chất hành vi của bản thân. Những
đặc điểm đó có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình nhận thức và hành động của
sinh viên.
Dưới góc độ xã hội, đây là lứa tuổi bắt đầu được phép tham gia các quan hệ xã
hội, đã có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, bắt đầu phải chịu sự điều
chỉnh của pháp luật, phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi tham gia các quan
hệ xã hội. Ở lứa tuổi này nhân cách đang trong giai đoạn hình thành và phát triển
nhưng chưa ổn định, các bạn sinh viên rất dễ bị sa ngã, bị rủ rê, lôi kéo vào các hành vi
phạm tội do đặc tính hiếu động, tò mò của tuổi trẻ nhưng cũng dễ uốn nắn, dễ tiếp thu
các điều hay, điều tốt khi được định hướng, được giáo dục ngay từ giai đoạn này.
18
điều kiện thuận lợi giúp sinh viên Trường Đại học Tây Bắc hoàn thành tốt nhiệm vụ
của mình.
19
BẢNG 1: SỐ LƯỢNG SINH VIÊN CÁC DÂN TỘC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NĂM HỌC 2015 – 2016
Nguồn: Phòng CTCT & QLNH Trường Đại học Tây Bắc
Stt
Dân tộc
Tổng số
Nam
Nữ
1
Kinh
934
334
600
2
Tày
79
32
47
6
Cao Lan
5
0
5
7
Sán Dìu
2
0
2
8
H’Mông
426
328
98
12
Khơ Mú
15
8
7
13
Dáy
13
2
11
14
La Ha
8
6
2
18
Giáy
8
4
4
19
Hà Nhì
21
15
6
20
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NĂM HỌC 2015 – 2016
20