ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
CHU HỒNG THẮNG
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP
Ở NGƯỜI NÙNG TRƯỞNG THÀNH TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP
Chuyên ngành: Vệ sinh xã hội học và TCYT
Mã số: 62.72.01.64
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Thái Nguyên, năm 2017
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC – ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS Dương Hồng Thái
2. TS Trịnh Văn Hùng
Phản biện 1: ...................................................................
........................................................................................
Phản biện 2: ...................................................................
........................................................................................
Phản biện 3: ..................................................................
........................................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
tim mạch. Theo Tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới tỷ lệ mắc tăng
huyết áp khoảng 10 - 15% dân số và ước tính đến 2025 vào khoảng
29%. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, đô thị
hoá, tỷ lệ bệnh tăng huyết áp cũng ngày một tăng cao. Nghiên cứu
của Viện Tim mạch Việt Nam tại cộng đồng cho thấy sự gia tăng
tăng huyết áp ở người từ 25 tuổi trở lên trong cộng đồng tăng từ
11,7% năm 1992, lên 16,3% năm 2002 (ở 4 tỉnh phía Bắc) và 27,2%
năm 2008 (cả nước), cao ngang hàng với các nước trên thế giới. Theo
Tổ chức Y tế thế giới, khống chế được những yếu tố nguy cơ này có
thể làm giảm được 80% tăng huyết áp. Can thiệp càng sớm vào quá
trình phát triển tăng huyết áp thì càng ít tốn kém và hiệu quả cao.
Người Nùng là một trong 53 dân tộc ít người ở Việt Nam.
Người Nùng có những nét văn hóa riêng, có nhiều phong tục tập
quán trong đó còn có những tập quán không tốt cho sức khỏe, ảnh
hưởng đến THA. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người
dân tộc Nùng khá cao (tới 25,5% người cao tuổi).Vấn đề tăng huyết
áp của người dân tộc Nùng có thể khác với người kinh và người dân
tộc thiểu số khác bởi các yếu tố văn hóa như phong tục tập quán lối
sống liệu có ảnh hưởng đến sức khỏe không. Vậy thực trạng tăng
huyết áp của người Nùng trưởng thành ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay
ra sao? Yếu tố nào là nguy cơ tăng huyết áp của người Nùng ở Thái
Nguyên? Và giải pháp nào để phòng chống tăng huyết áp cho người
Nùng ở Thái Nguyên? Do đó, nghiên cứu đáp ứng 3 mục tiêu sau:
2
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1- Xác định tỷ lệ tăng huyết áp ở người Nùng trưởng thành
(25-64 tuổi) tại tỉnh Thái Nguyên năm 2012.
2- Xác định một số yếu tố nguy cơ tăng huyết áp ở người Nùng
những nội dung thực hành chưa tốt đạt thực hành tốt hiệu quả là
37,0%.
- Đối với quản lý người tăng huyết áp tại bệnh viện (446,2%),
tiếp theo là quản lý tại nhà (379,1%), thấp nhất là hiệu quả phát hiện
tăng huyết áp (11,1%); Hiệu quả đối với chỉ số tai biến mạch máu
não (55,2%), tiếp đến là tăng huyết áp giai đoạn II (34,5%).
CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Phần chính luận án dài 122 trang, không kể phần tài liệu tham
khảo và phụ lục, bao gồm: Đặt vấn đề 03 trang; Chương 1. Tổng
quan: 30 trang; Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 21
trang; Chương 3. Kết quả nghiên cứu: 34 trang; Chương 4. Bàn luận:
32 trang; Kết luận: 01 trang, Khuyến nghị: 01 trang.
Kết quả luận án được trình bày trong 36 bảng, 02 biểu đồ, 05
hình và 04 hộp thoại. Luận án sử dụng 120 tài liệu tham khảo trong
đó có 66 tiếng Việt và 54 tiếng Anh.
MỘT SỐ PHẦN CHÍNH CỦA LUẬN ÁN
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Tình hình tăng huyết áp hiện nay
THA là một thách thức đối với y tế công cộng bởi tỷ lệ của
bệnh ngày một gia tăng và bởi các biến chứng về tim mạch và bệnh
thận đi kèm. Tỷ lệ mắc tăng huyết áp thay đổi ở các quốc gia như
Indonesia 6-15%, Malaysia 10-11%, Hà Lan là 37%, Pháp là 1024%, Hoa Kỳ là 24%... Trung Quốc (2001) 27%; Thái Lan (2001)
20,5%; Châu Phi (2007) 21,3%. Một nghiên cứu ở Brasil, với nhóm
tuổi từ 20 đến 69 tuổi có tỷ lệ THA là 23,6%.
4
Điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam về tần suất THA và các
yếu tố nguy cơ tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam năm 2001 - 2002 cho
thấy tần suất THA ở người trưởng thành là 16,5%. Các yếu tố nguy
5
Ưu điểm của giải pháp là đáp ứng được nhu cầu thông tin về
cách phòng bệnh cho NCT. Do hoạt động truyền thông được lồng
ghép trong các chương trình sinh hoạt thường kỳ của Hội nên ít tốn
kém về thời gian và kinh phí. Hoạt động truyền thông đã mang lại sự
hiểu biết về cách phòng bệnh cho người cao tuổi nên đã được nhiều
người cao tuổi tự nguyện tham gia. Giải pháp đã được cộng đồng cấp
nhận. Giải pháp kiểm soát THA của Nguyễn Kim Kế ở Hưng Yên
với việc tăng cường truyền thông phòng chống THA cho các đối
tượng nguy cơ và quản lý bệnh nhân THA tại Trạm y tế xã/phường.
Kết quả là tỷ lệ người cao tuổi được quản lý đúng là 100%, chỉ có có
6,7% ở nhóm can thiệp không thực hiện đủ liều thuốc huyết áp. Kết
quả giải pháp kiểm soát THA cho người cao tuổi đạt hiệu quả.
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Người dân tộc Nùng trưởng thành từ 25 - 64 tuổi. động trí tuệ;
Cán bộ Trạm Y tế (TYT) xã và nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB) ở
khu vực nghiên cứu, Đại diện cộng đồng: Lãnh đạo Đảng, Chính
quyền và các đoàn thể, tổ chức quần chúng ở xã nghiên cứu; Già
làng, trưởng bản người Nùng.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Các xã có nhiều người Nùng sinh sống đó là xã Lâu Thượng,
Phú Thượng, Tràng Xá huyện Võ Nhai; Xã Tân Long, Minh Lập,
Văn Hán huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/2012 đến tháng 12/2015.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
1/P (1 P ) 1/P (1 P )
1
1
*
2
2
In(1 )
2
Trong đó:
P2*: Tỷ lệ ăn mặn (nguy cơ THA) của nhóm không THA
được ước tính là 40% (theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lân
Việt) [64].
P1*: Tỷ lệ ăn mặn ước lượng cho nhóm THA, được tính toán
dựa trên OR= 3,75 và P2*=0,4
1
P
OR P2
β: mức sai lầm loại 2, chọn β = 0,1 (lực mẫu 90%)
Z2(): hệ số tra bảng ứng với giá trị được 8,6.
Thay số vào công thức tính và làm tròn số được n = 200 người
cho mỗi nhóm can thiệp và đối chứng.
* Phương pháp chọn mẫu:
- Chọn xã: Trong 6 xã đã chọn trong nghiên cứu mô tả, nhóm
nghiên cứu lựa chọn 2 xã theo tương đồng về các tiêu chí: có cùng
thể chế, cùng chính sách, tương tự về vị trí địa lý, khí hậu, vùng
miền, tương đồng về cơ cấu dân tộc và các điều kiện kinh tế, văn hóa,
8
xã hội. Dựa vào các tiêu chí, chọn 2 xã ở huyện Đồng Hỷ đó là xã
Tân Long và xã Văn Hán. Bốc thăm ngẫu nhiên xã Văn Hán là xã
can thiệp, xã Tân Long làm đối chứng.
- Chọn đối tượng đánh giá hiệu quả sau can thiệp: người Nùng
trưởng thành (25-64 tuổi) bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ
thống tương tự như cách chọn trong điều tra mô tả ban đầu.
2.2.3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính
2.2.3.1. Nghiên cứu định tính trong giai đoạn mô tả trước can thiệp
* Phỏng vấn sâu:
- Trưởng thôn bản: Mỗi xã 2 người, tổng là 12 người/6 xã
- Trưởng họ: Mỗi xã 2 người, tổng là 12 người/6 xã
- Già làng: Mỗi xã 2 người, tổng là 12 người/6 xã
* Thảo luận nhóm:
- CBYT: 01 nhóm ở 1 xã gồm 4 CBYT xã và 6 NVYTTB, tổng là
6 nhóm. Lãnh đạo cộng đồng: 01 nhóm ở 1 xã gồm 10 người đại diện
Chính quyền, ban ngành, tổ chức quần chúng xã, bản, tổng là 6 nhóm.
- Người THA: 01 nhóm ở 1 xã gồm 10 người đại diện cho
nhóm bệnh nhân đại diện có nam, nữ, có các lứa tuổi, tổng là 6 nhóm.
và sau tập huấn. Thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành của người
Nùng trưởng thành về phòng chống THA trước và sau can thiệp.
Các chỉ số đánh giá tác động của hoạt động can thiệp phát
hiện, quản lý, điều trị THA.
2.2.6. Phương pháp thu thập số liệu
Các Bác sỹ chuyên khoa Nội khám lâm sàng tim mạch, cân
nặng, chiều cao, đo HA, khám nội khoa theo phiếu điều tra. Các cán
bộ dự phòng phỏng vấn trực tiếp các đối tượng theo phiếu điều tra
KAP.. Phiếu điều tra được xây dựng theo đúng qui trình.Tiến hành
phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm trọng tâm với các đối tượng liên quan
tại các xã nghiên cứu.
2.2.7. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được nhập và phân tích trên chương trình SPSS version
13.0.
10
Trong nghiên cứu mô tả sử dụng tỷ lệ phần trăm và dùng thuật
toán so sánh χ2, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác xuất
p
chủ yếu mức độ nhẹ (70,0%). Trong nghiên cứu của chúng tôi tương
đương với tỷ lệ THA ở Thái Lan (20,5%), Châu Phi (21,3%) và thấp
hơn ở Hoa Kỳ (24%), Trung Quốc (27%), cao hơn ở Indonesia (15%),
Malaysia (11%) và thấp hơn theo điều tra 8 tỉnh/thành phố của Viện
Tim mạch năm 2008, tỷ lệ này là 25,1%.
11
Bảng 3.2. Tỷ lệ THA của người Nùng trưởng thành theo một số
đặc điểm cá nhân (n=1.466)
Số lượng Số lượng
điều tra
THA
25 - 34
376
38
35 - 44
420
62
Lứa tuổi
45 - 54
428
100
55 - 64
242
74
Nam
746
152
Giới
30,6
20,4
16,9
17,7
32,0
23,4
20,2
17,0
19,1
Tỷ lệ THA có xu hướng tăng theo tuổi, thấp nhất là nhóm tuổi
là 25 - 34 tuổi (10,1%), cao nhất là nhóm tuổi 55 - 64 tuổi (30,6%).
Tỷ lệ THA ở nam (20,4%) cao hơn nữ (16,9%). Tỷ lệ người THA ở
người công chức, viên chức cao nhất (32,0%), thấp nhất là làm ruộng
(17,7%). Người trưởng thành có trình độ tiểu học trở xuống có tỷ lệ
THA cao nhất (20,2%). Với nhóm nhóm tuổi 55 - 64 tuổi nghiên ứu
này tương đương với kết quả của Nguyễn Kim Kế ở Hưng Yên lứa
tuổi này người Kinh (21,3%), song thấp hơn ở dân tộc Tày ở Na
Hang Tuyên Quang (30,7%), của người dân tộc thiểu số trong nghiên
cứu của Nguyễn Văn Phát ở Yên Minh Hà Giang (33,3%).
12
Bảng 3.3. Tỷ lệ THA ở người Nùng trưởng thành
theo một số đặc điểm hộ gia đình (n = 1.466)
Chỉ số
Biến số
Đông người
84
20
23,8
1.382
254
18,4
488
978
334
1.132
198
108
166
60
214
58
22,1
17,0
18,0
18,9
18,0
nhập bình quân từ 1.000.000 đ trở lên cao nhất (22,7%). Tỷ lệ người
Nùng THA ở hộ nghèo và đủ ăn tương đương nhau (18,0 - 18,9%).
Tỷ lệ người THA có nhà kiên cố cao nhất (23,3%). Về phương tiện
truyền thông: Tỷ lệ hộ gia đình người Nùng THA không có phương
tiện truyền thông cao hơn (38,0% so với 18,1%).
13
Bảng 3.4. Tỷ lệ THA theo BMI của người Nùng trưởng thành
(n = 1.466)
BMI
SL
điều tra
Thiếu cân, thiếu dinh dưỡng trường
138
diễn (< 18,5 Kg/m2)
Bình thường (18,5 - < 23 Kg/m2)
1.134
2
Thừa cân, béo phì (≥ 23 Kg/m )
194
SL
THA
Tỷ lệ
(%)
309
532
625
690
288
488
172
606
688
Tỷ lệ (%)
21,1
36,3
42,6
47,0
19,7
33,3
11,7
41,3
46,9
Kiến thức, thái độ, thực hành của người Nùng về phòng chống
THA nhìn chung chưa tốt: Tỷ lệ người Nùng có kiến thức tốt thấp
(21,1%), thái độ tốt còn thấp (47,0%) và thực hành tốt cũng còn rất
thấp (11,3%).
3.2. Một số yếu tố nguy cơ THA của người Nùng trưởng thành tại
Thái Nguyên
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa trình độ
học vấn với THA: Trình độ học vấn của người Nùng càng thấp thì
170
152
1,79
(1,05
- 3,08)
30
48
111
87
1,62
(1,07
- 2,45)
89
113
185
168
2,35
(1,18 - 4,83)
15
32
P
(test χ2)
THA
(1,47 - 5,41)
Không
159
183
Tiền sử
- Nguy cơ thuộc về yếu tố gia đình có người mắc bệnh tim
mạch với THA: Người Nùng ở hộ gia đình có người mắc bệnh tim
mạch nguy cơ THA cao hơn những người sống trong gia đình không
có người mắc bệnh (OR= 3,09 (0,76 - 17,99, p
23
177
23
156
25
175
5
195
28
172
11
189
10
177
190
OR
(CI95%)
P
(test χ2)
2,19
(1,33 - 3,64)
trên (p < 0,05). Uống nhiều rượu: Tình trạng uống rượu ở các làng
bản người Nùng ở Văn Hán nói riêng hay các cộng đồng người Nùng
khác ở Thái Nguyên nói chung. Như ông K già làng người Nùng ở xã
Tân Long:..“Người Nùng uống rượu nhiều, uống bất cứ lúc nào kể
cả lễ tết lẫn tiếp khách… có lẽ làm cho người Nùng bị THA nhiều
hơn… Ăn mặn là thói quen lưu truyền từ đời này sang đời khác thành
tập quán. Ăn nhiều thịt mỡ: Mỡ là thứ không thể thiếu được của
người dân tộc miền núi phía bắc cả Nùng, Tày, Thái lẫn Mường. Mỡ
được sử dụng hàng ngày, ít thì xào nấu, nhiều thì rán…
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa sở thích ăn uống của người THA
Sở thích
Thức ăn Rất thích
nước chấm Ít và không thích
mặn
Rất thích
Thức ăn
xào, rán Ít và không
thích
Sử dụng Mỡ động vật
dầu, mỡ Dầu thực vật
Nhóm Nhóm
OR
bệnh
chứng
(CI95%)
(n=200) (n=200)
80
59
1,59
Nguy cơ thuộc về tình trạng dinh dưỡng (BMI) của người
THA: Người Nùng có BMI cao nguy cơ THA cao hơn người BMI
bình thường với 2,9 lần (1,7 - 5,0); p
buổi, 1.210 lượt người nghe). Vai trò của các các hội quần chúng
khác cũng rất tích cực (25 buổi, 510 lượt hộ, 519 lượt người nghe)…
19
Hoạt động giám sát được 24 buổi với 255 lượt người được
giám sát hỗ trợ đó là cán bộ y tế xã, các tổ chức chính quyền, ban
ngành, đoàn thể xã, NVYTTB, hội NCT…Đây là các đối tượng nòng
cốt tham gia vào TT-GDSK về phòng chống THA cho người Nùng
trong xã.
3.3.2. Hiệu quả thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng THA
Bảng 3.11. Hiệu quả can thiệp đối với kiến thức phòng chống THA
của người Nùng ở hai xã nghiên cứu
Thời điểm Trước CT Sau CT CSHQ HQCT
(n = 200) (n = 200) (%)
(%)
SL
Kiến thức
Kiến thức
tốt
Xã can thiệp
39
Xã đối chứng 37
%
Thái độ
chưa tốt
Trước CT
(n = 200)
SL
%
Xã can
116
thiệp
Xã đối
107
chứng
Xã can
84
thiệp
Xã đối
93
chứng
58,0
53,5
42,0
46,5
Sau CT
(n = 200)
SL
20
Sau 02 năm tăng cường các hoạt động truyền thông phòng
chống THA, hiệu quả can thiệp về thái độ tốt là 46,9%, thái độ chưa
tốt là 68,9%.
Bảng 3.13. Đánh giá chung hiệu quả can thiệp đối với thực hành
dự phòng THA của người Nùng ở hai xã nghiên cứu
Thời điểm Trước CT
Sau CT
(n = 200)
(n = 200)
SL
SL
Thực hành
%
CSHQ
%
(%)
Thực hành
(%)
20,0
4,8
37,0
8,1
Sau 02 năm can thiệp, hiệu quả can thiệp đối với thực hành tốt là
20,0%, thực hành chưa tốt là 37,0%.
3.3.3. Hiệu quả thay đổi về phát hiện, quản lý điều trị THA ở Trạm
Y tế xã
Bảng 3.14. Hiệu quả can thiệp đối với các chỉ số phát hiện, quản lý
điều trị THA của người Nùng ở hai xã nghiên cứu
Hiệu quả
Phát hiện,
CSHQ (%)
Xã CT
Xã ĐC
điều trị và quản lý THA
HQCT
(%)
Số người THA được phát hiện
72,2
21
Về tình hình phát hiện, quản lý điều trị THA ở xã can thiệp có
chiều hướng rất tốt như: Tỷ lệ người THA được phát hiện, tỷ lệ người
THA được quản lý tại bệnh viện, tỷ lệ người THA được quản lý tại
trạm y tế, quản lý tại nhà đều tăng ở xã can thiệp có ý nghĩa thống kê
(p