Đánh giá mức độ công khai thông tin trách nhiệm bảo vệ môi trường của các công ty niêm yết tại việt nam - Pdf 41

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
------------

BÁO CÁO TỔNG KẾT

U

Ế

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

́H

Tên đề tài:



ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CÔNG KHAI THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

H

Mã số: GV2015-03-07

IN

Chủ nhiệm đề tài: Th.s Lê Ngọc Mỹ Hằng

Đ
A


Bảng 7: Kết quả Kiểm định Kruskal-Wallis dành cho biến Quy mô DN



Bảng 8: Thống kê mô tả về CED theo khoản mục tại VLF 2012-2014
Bảng 9. Thông kê mô tả yếu tố sản phẩm của VLF 2012-2014

Bảng 10: Thống kê mô tả về tính bền vững công bố bởi VLF 2012-2014

Đ
A

̣I H

O

̣C

K

IN

H

Bảng 11: Thống kê mô tả các mục về Năng lượng bởi VLF 2012-2014

-2-



nghiệp (DN) đều phải góp phần tạo dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh để
hổ trợ DN phát triển liên tục và lâu dài (Tinto, 2000). Các cổ đông sẽ bất bình nếu
báo cáo thường niên thiếu sự minh bạch và trách nhiệm đối với môi trường. Đặc biệt
khi những sản phẩm độc hại được công bố lần đầu tiên và những hành vi huy hoại
đến môi trường sống tăng lên thì làn sóng phẩn nộ từ cộng đồng trở nên gay gắt
(Delmas, 2001).
Vì vậy, các công ty cần thiết lập các chuỗi giá trị để bù đắp các hoạt động hàng
ngày như công khai trách nhiệm đối với môi trường. Phấn đấu cho sự phát triển bền
vững, mục tiêu chính là để đạt được sự thịnh vượng kinh tế mà không làm tổn hại
đến tính toàn vẹn của xã hội. Trách nhiệm đối với xã hội và môi trường thu hẹp
khoảng cách bất đối xứng thông tin giữa các doanh nghiệp và nhà đầu tư (Freeman,
1984). Theo KPMG (2011), báo cáo trách nhiệm của doanh nghiệp đã và đang là vấn
đề cấp bách, với 95% trong 250 tập đoàn toàn cầu hàng đầu (G250) đã thực hiện việc
báo cáo hoạt động xã hội và môi trường. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy rằng việc
báo cáo TNBVMT chủ yếu ở các nước phát triển vẫn mang tính tự nguyện, điều
hoàn toàn khác so với báo cáo kế toán tài chính (Deegan, 2002; Dobbs & Van
Standen, 2011).
Hơn nữa, các học giả truyền thống chỉ tập trung nghiên cứu vào các nước phát
triển, chủ yếu là châu Âu, Mỹ và Úc. Gần đây, một số nhà nghiên cứu đã bắt đầu chú
ý đến thị trường mới nổi, nhưng đã không đề cập đến các quốc gia chuyển đổi quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (Araya, 2006). Belal (2008) và Momin (2006) lập luận rằng
nghiên cứu những tác động đến việc công bố thông tin TNBVMT tại các nước đang
chuyển đổi là có tính chất ban đầu và mới thăm dò.
Trong khi việc công bố đầy đủ thông tin trách nhiệm xã hội không chỉ tăng
cường uy tín doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mà còn góp
phần phát triển bền vững, rất ít công ty ở Việt Nam nhận ra lợi ích này. Trước những
thảm họa môi trường và tác động tiêu cực của xã hội Việt Nam, vấn đề trách nhiệm
xã hội và môi trường của doanh nghiệp đang là nhu cầu cấp bách cần cải thiện
(Nguyen, 2006). Do áp lực của hội nhập quốc tế, cũng là điều cần thiết để Việt Nam
tuân thủ các tiêu chuẩn toàn cầu hóa về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, theo Viện

IN

1.3 Đối tượng nghiên cứu

̣C

K

- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công khai trách nhiệm bảo vệ môi
trường tại các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE).

O

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Đ
A

̣I H

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu sẽ đánh giá mức độ công khai TNBVMT của
158 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE).
- Phạm vi thời gian: thời gian nghiên cứu của đề tài là từ 01/2015 đến 12/2015.
Dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường niên của công ty niêm yết tại HOSE từ năm
2012 đến 2014 và các websites.
1.5 Phương pháp nghiên cứu

1.5.1. Cách tiếp cận
Nghiên cứu vận dụng kỹ thuật phân tích nội dung (Content Analysis), là kỹ thuật
được dùng rộng rãi khi đánh giá mức độ công khai thông tin TNXH (Krippendorff,


U

Ế

Công ty được chọn mẫu là các công ty đã niêm yết tại HOSE trong giai đoạn
2012 đến 2014. Tính đến đầu năm 2014, có khoảng 310 công ty niêm yết trên HOSE
phân theo 20 ngành.1 Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu
nhiên. Tuy nhiên, mục đích là để thu thập các báo cáo thường niên từ cùng một công
ty trong ba năm liên tiếp, mẫu phải được lựa chọn dựa trên công ty cung cấp các báo
cáo thường niên cho mỗi năm từ năm 2012 đến năm 2014. Các công ty đã hủy bỏ
niêm yết trong kỳ và niêm yết sau ngày 01/01/2012 không được bao gồm trong mẫu.
Cuối cùng, 158 báo cáo thường niên của công ty đã thu được mỗi năm, tổng cộng
474 báo cáo thường niên trong ba năm, đồng thời 158 trang web công ty đã được
kiểm tra. Trong số 158 công ty niêm yết trên HOSE, 143 công ty đến từ các ngành
công nghiệp nhạy cảm và 15 từ các ngành công nghiệp không nhạy cảm.
Để đảm bảo đề tài mang tính khoa học và thực tiễn cao, nhóm nghiên cứu sử
dụng 3 phương pháp phân tích cơ bản sau:
+ Phương pháp phân tích thống kê, mô tả
+ Phương pháp nghiên cứu định tính: phỏng vấn sâu 2 chuyên gia trong lĩnh vực
kế toán kiểm toán đến từ Công ty kiểm toán Deloitte- Việt Nam và KPMG Việt
Nam- hai trong 4 công ty kiểm toán hàng đầu thế giới; 2 chuyên gia đến từ Trung
tâm nghiên cứu và phát triển xã hội Việt Nam (CSRD). Thông tin thu thập từ nghiên
cứu định tính nhằm xây dựng bảng tiêu chí chấm điểm công bố thông tin TNBVMT
của công ty niêm yết tại Việt Nam.
+ Phương pháp nghiên cứu định lượng:
Bảng các chỉ tiêu về công bố thông tin được thiết kế vận dụng phương pháp tính
điểm của Gunawan và cộng sự (2009).

II. PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

quản lý nguyên vật liệu và năng lượng, trong đó các công ty hoạt động trong giới hạn
sinh thái hữu hạn của môi trường; và (3) các bên tham gia có hiệu quả, trong đó các
công ty là hoàn toàn minh bạch và có trách nhiệm.

Đ
A

̣I H

O

̣C

K

IN

1.1.1 Các lý thuyết giải thích trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh
nghiệp
Các nghiên cứu của Chen (2009) sử dụng lý thuyết trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp (CSR) để xác định động cơ và các bên liên quan của trách nhiệm bảo vệ môi
trường (CER).
Giác Ngộ Tự lãi (Enlightened Self-Interest)
Các nhà khoa học xã hội đã chỉ ra hai lý do tại sao các giả định lợi ích cá nhân là
rất quan trọng trong lý thuyết của CER. Đầu tiên, giả thiết này từ lâu đã là trung tâm
để kinh tế tân cổ điển và sự lựa chọn hợp lý khi tiếp cận với kinh tế học. Thứ hai, vì
các học giả gọi giả định lợi ích cá nhân để giải thích nhiều khía cạnh khác của hành
vi con người. Vì vậy, giải thích dựa trên lợi ích cá nhân là phổ biến trong khoa học
xã hội phương Tây và có khả năng áp dụng cho một số thời kỳ (Chen, 2009). Davis
(1973) chỉ ra rất nhiều lý do cho việc áp dụng CSR vào thực tiễn hàng ngày của một


̣I H

O

̣C

K

IN

H



Công cụ, chính trị, thống nhất và động cơ đạo đức (Instrumental, Political,
Integrative, and Ethical Motives)
Trong bài viết của Garriga và Mele' (2004) xác định bốn nhóm của các lý thuyết
có thể phân loại tất cả các phương pháp tiếp cận CSR. Những lý thuyết này tập trung
vào các mối quan hệ giữa CSR hoặc các vấn đề xã hội và kinh doanh. Bốn phương
pháp tiếp cận lý thuyết đến CSR theo như mô tả của Garriga và Mele' (2004) khác
nhau về niềm tin vào sự giải thích lý do tại sao các doanh nghiệp nên áp dụng CSR,
họ nên làm điều đó bằng cách nào và đến mức độ nào. Bởi vì CER là khía cạnh môi
trường của CSR, bốn lý thuyết trên cũng có thể sử dụng để giải thích động cơ của
CER.
Nhóm đầu tiên của lý thuyết được phân loại như các lý thuyết công cụ và trùng
lặp với các lý thuyết về giác ngộ tự lãi. Sự hài lòng của các bên liên quan, hoặc đóng
góp từ thiện đều có thể, miễn là dẫn đến lợi nhuận, trong dài hay ngắn hạn. Trong
phương pháp tiếp cận đầu tiên đến CSR, Garriga và Mele' (2004) xác định ba loại
của lý thuyết công cụ, đó là tối đa hóa sự giàu có cổ đông, cải thiện hoặc duy trì một

nào để thống nhất các nhu cầu xã hội, từ đó tranh luận rằng kinh doanh phụ thuộc
vào xã hội để tồn tại (Garriga & Mele' 2004). Cách tiếp cận thứ tư, theo phân loại
của Garriga và Mele (2004) là tập hợp các lý thuyết đạo đức. Những lý thuyết này có
liên quan với những điều phải làm hoặc các yêu cầu cần thiết để đạt được một xã hội
tốt (Garriga & Mele' 2004). Tất cả các phương pháp tiếp cận đạo đức chia sẻ các ý
tưởng rằng doanh nghiệp phải đóng góp cho một xã hội tốt đẹp và tôn trọng những
việc làm đúng đắn.

Đ
A

̣I H

O

̣C

K

IN

1.1.2 Khái quát về công khai thông tin trách nhiệm bảo vệ môi trường (CED)
Việc công khai trách nhiệm bảo vệ môi trường của công ty (CED) đã tồn tại
trong hơn một thập kỷ nay, nổi bật là kết quả của sự bùng nổ trong kế toán môi
trường trong năm 1990 (Ahmad, 2010). Thuật ngữ “công khai thông tin về bảo vệ
môi trường”(CED) được trình bày bởi các Ủy ban công tác liên Chính phủ Tổng
công ty xuyên quốc gia, trong Tiêu chuẩn quốc tế về kế toán và báo cáo của Liên
Hợp Quốc (UN ISAR, 1992, 1994); được lựa chọn để giải thích trong nghiên cứu
này. Deegan (2007) định nghĩa rằng báo cáo phát triển bền vững gắn với báo cáo xã
hội và môi trường. Gray cùng các cộng sự (1996) cũng chỉ ra rằng việc chấp nhận

doanh nghiệp
Các nghiên cứu của Gunawan (2007) tập trung vào hai giả thuyết đáng chú ý để
phân tích mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSRD):
tính hợp pháp và lý thuyết các bên liên quan.

Đ
A

̣I H

O

̣C

K

IN

H

Các bên liên quan đến CSR (CER)
Các bên liên quan là trọng tâm của lý thuyết này. Các bên liên quan bao gồm
một phạm vi rộng của những người và các nhóm lợi ích tác động đến tổ chức (Price,
2004). Các bên liên quan là'' bất kỳ cá nhân hay nhóm người có thể ảnh hưởng hoặc
bị ảnh hưởng bởi khả năng đạt mục tiêu của tổ chức '' (Freeman, 1984). Ngoài các cổ
đông, các bên liên quan bao gồm chủ nợ, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, và
các cộng đồng nói chung. Lý thuyết các bên liên quan giải thích rằng có nhiều hơn
một mối quan hệ giữa các đại lý, người có trách nhiệm ủy thác cho một giám đốc
(Lantos, 2001). Những nhiệm vụ tồn tại bởi vì, như các cổ đông, các bên liên quan
khác cũng đầu tư vào các doanh nghiệp: nhân viên đầu tư thời gian và vốn tri thức,


Type of responsibility
Economic
Economic, legal, and ethical
Economic and legal
Economic, legal, and ethical
Economic and ethical
Economic, legal, and ethical
Legal and ethical
Economic, legal, and ethical

Financiers
Consumers
Suppliers
Employees
Community
Government
Environment
Non-Governmental
Organizations
Critics
Media



Stakeholder
Internal

Economic, legal, and ethical
Economic, legal, and ethical

khai thác khoáng sản, thép và các ngành công nghiệp dầu mỏ đã trở thành mục tiêu
cho các nhà bảo tồn. Những kết quả này cho thấy lý thuyết tính hợp pháp như là một
cơ sở cho việc thực hành CSD, đáp ứng những áp lực về môi trường.
1.2 Các chủ đề về công khai thông tin TNBVMT

2

(Brown & Deegan, 1998; Deegan & Gordon, 1996; Guthrie & Parker, 1990; O'Donovan, 2002; Wilmshurst & Frost, 2000).

- 10 -


Nghiên cứu này áp dụng bốn chủ đề về đo lường mức độ công khai thông tin. Đa
số các chủ đề này đã được trích dẫn và phù hợp với các nghiên cứu trước đây về
CED, cụ thể là môi trường, năng lượng, sản phẩm, phát triển bền vững. 3 Mỗi chủ đề
lại có một hoặc một vài mục chi tiết. Tổng cộng, có 21 mục chi tiết được sử dụng để
đo lường mức độ công khai thông tin về trách nhiệm bảo vệ môi trường (CED) thông
qua phương pháp phân tích nội dung (Content analysis).

Ế

1.2.1 Môi trường
Nghiên cứu này áp dụng chủ đề về môi trường bởi Gunawan (2007) gồm ba
hạng mục chính như ô nhiễm môi trường, thẩm mỹ, và các vấn đề khác.

IN

H



mối quan tâm hàng đầu của công chúng là liệu việc tiêu thụ sản phẩm là an toàn và
không gây hại cho môi trường hay không. Qua thông tin về sản phẩm, một công ty
có thể cung cấp hình ảnh của mình tới công chúng để họ có thể đánh giá những tác
động của các sản phẩm công ty tới môi trường. Chất lượng sản phẩm, an toàn và quá
trình phát triển sản phẩm cung cấp một cơ sở về lợi thế kinh doanh của công ty và
bất kỳ cải thiện về chất lượng và an toàn sản phẩm có thể dẫn đến những tác động
tích cực đến môi trường (Dunk, 2002).
1.2.4 Tính bền vững
Vấn đề 'bền vững' đã tăng lên rất nhiều trong những năm gần đây. Tính bền vững
được định nghĩa là "đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của
3

(Deegan, et al., 2002; Kuasirikun & Sherer, 2004; Purushothaman, et al., 2000; Raar, 2002; Ratanajongkol, et al., 2006; Thompson &
Zakaria, 2004; Wilmshurst & Frost, 2000 cited in Gunawan, et al. 2009)

- 11 -


các thế hệ tương lai trong khi đáp ứng nhu cầu riêng của công ty" (Ủy ban Liên Hợp
Quốc về Môi trường và Phát triển, 1987, trg. 8). Để cho một công ty có thể duy trì
danh tiếng và nhu cầu của các bên liên quan, công ty phải bao gồm các thông tin bền
vững về các hoạt động kinh doanh của mình khi công bố thông tin.

Đ
A

̣I H

O


viên, kiểm soát ô nhiễm, phát triển sản phẩm, chiến dịch môi trường và tái chế, được
coi là thuyết trung lập (Ahmad & Sulaiman, 2004).
Các nghiên cứu trước lưu ý rằng hầu hết các công ty có xu hướng chủ yếu sử
dụng mô tả, tường thuật, hoặc các thông tin định tính để báo cáo TNMT (Gunawan,
2007). Những loại thông tin này chiếm đa số trong báo cáo TNMT của công ty hơn
là thông tin định lượng, hình ảnh, đồ thị và biểu đồ.5 Trong thực tế, các thông tin
định tính và tiền tệ, ở một mức độ nhất định, có thể được sử dụng để đánh giá tính
khả thi. Đồ thị và biểu đồ có thể được sử dụng để biến số thành hình ảnh đại diện và
việc so sánh giúp người đọc hiểu được thông tin một cách dễ dàng hơn (Burch,
1986). Như vậy, việc tiết lộ thông tin trong các hoạt động xã hội và môi trường của
công ty cả hai cách mô tả và định lượng, sử dụng đồ thị hoặc biểu đồ, có thể cung
cấp một báo cáo toàn diện hơn cho các độc giả.
1.4 Cơ sở thực tiễn
1.4.1 Thực trạng về việc công bố thông tin bảo vệ môi trường của các công ty
niêm yết trên thế giới và các nước trong khu vực
4
5

(Kuasirikun & Sherer, 2004; Purushothaman, et al, 2000; Ramasamy & Hung, 2004; Ratanajongkol, et al., 2006)
(Guthrie & Parker, 1990; Tilt, 2001; Belal, 2001; Raar, 2002; Ahmad & Sulaiman, 2004; Kuasirikun & Sherer, 2004)

- 12 -


Đ
A

̣I H

O

môi trường. Các công ty được chọn mẫu đã cung cấp nhiều thông tin về môi trường
trong báo cáo thường niên hơn trước khi xảy ra sự cố. Nghiên cứu của Deegan &
Blomquist (2001) chỉ ra rằng để giảm áp lực của việc gia tăng thêm quy định đối với
doanh nghiệp, các công ty tự ký và thỏa thuận với nhau về hành vi đạo đức riêng khi
tự nguyện công bố thông tin về môi trường. Deegan (2008) tuyên bố rằng việc báo
cáo TNBVMT là một công cụ để công ty thu hút các nhóm cổ đông. Theo nghiên
cứu của Reverte (2008), lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy theory) là giải thích
phù hợp nhất cho việc lập báo cáo trách nhiệm xã hội và môi trường tại các công ty
niêm yết Tây Ban Nha. Trong khi đó, việc công bố thông tin trách nhiệm môi trường
của các công ty niêm yết ở Đức chịu chi phối bởi tầm nhìn của doanh nghiệp, cơ cấu
cổ đông, quan hệ với các cổ đông ở Mỹ, quy mô doanh nghiệp và ngành
(Gamerschlag và cộng sự, 2010). Nghiên cứu của Gamerschlag (2011) ở Đức dùng
thuyết chi phí chính trị (Political cost theory) và Campbell (2007) dùng thuyết định
chế (Institutional theory) ở Anh để giải thích cho việc công khai thông tin TNMT.
Nghiên cứu gần đây của Dobbs & Van Staden (2011) khẳng định rằng chính sự quan
tâm đến cộng đồng là nguyên nhân chính để 122 công ty niêm yết được chọn tại
NewZealand quyết định công khai báo cáo TNBVMT. Những nghiên cứu của
Mohammad và cộng sự (2009) & Gao (2011) chỉ ra rằng do đặc tính riêng của mỗi
nước dẫn đến việc công khai hoạt động vì môi trường của doanh nghiệp là khác
nhau.
Trái lại, việc lập báo cáo TNBVMT tại các nước đang phát triển vẫn còn thấp so
với các nước phát triển. Điển hình là Trung Quốc, nước đang phát triển với tốc độ
cao nhất, do đặc điểm văn hóa, chính trị và hệ thống kinh tế nhà nước, ý thức bảo vệ
- 13 -


môi trường còn thấp vì thế việc lập báo cáo TNBVMT còn chịu nhiều ảnh hưởng của
chính phủ (Song & Li, 1992; Zhang, 1993; Xiao & Mi, 2004; Guo, 2005; Situ & Tilt,
2012). Nghiên cứu ở Indonexia bởi Djajadikerta (2012) cũng cho thấy do doanh
nghiệp thiếu hiểu biết về trách nhiệm môi trường, việc báo cáo thông tin TNBVMT

Cho đến nay có một luận án tiến sỹ có đề cập đến vấn đề này. Luận án tiến sỹ của
Vũ (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện,
tuy nhiên nghiên cứu này chỉ tập trung chủ yếu vào việc công bố các thông tin về chế
độ quản trị doanh nghiệp (Corporate Governance disclosure) của các công ty niêm
yết Việt Nam năm 2009. Mặc khác, thị trường chứng khoán Việt Nam luôn biến
động, số công ty niêm yết mới tăng lên hàng năm đóng vai trò quan trọng trong toàn
thị trường. Vì vậy, đề tài này tập trung nghiên cứu về công khai thông tin TNBVMT
trong giai đoạn 2012-2014, từ sau khủng hoảng kinh tế Việt Nam 2011.

Chương 2: Đánh giá mức độ công khai thông tin trách nhiệm bảo vệ

môi trường của các Công ty niêm yết tại Việt Nam
2.1 Kỹ thuật phân tích nội dung
Kỹ thuật phân tích nội dung được sử dụng trong nghiên cứu này và được xác
định bởi Krippendorff (1980, p. 21) là "một kỹ thuật nghiên cứu để làm tái tạo và
suy luận có giá trị từ dữ liệu đến bối cảnh của công ty”. Kỹ thuật “phân tích nội
dung” đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu trước đó để đo lường CED
(Unerman, 2000) và bởi vì nó cho phép CED được phân loại một cách có hệ thống
- 14 -




́H

U

Ế

và có thể so sánh giữa các năm, đây cũng là kỹ thuật hữu ích cho việc xác định xu

phối các thủ tục phân tích nội dung đã được thành lập để đạt được độ tin cậy và có
hệ thống (Gunawan, 2007). Áp dụng một tập hợp các mục phân tích CSD bởi
Gunawan (2007), sau khi thực hiện một cuộc phỏng vấn sâu 2 chuyên gia trong lĩnh
vực kế toán kiểm toán đến từ Công ty kiểm toán Deloitte- Việt Nam và KPMG Việt
Nam- hai trong 4 công ty kiểm toán hàng đầu thế giới; 2 chuyên gia đến từ Trung
tâm nghiên cứu và phát triển xã hội Việt Nam (CSRD), 21 mục CED được coi là
toàn diện và thích hợp để đánh giá mức độ công khai thông tin TNBVMT tại các
công ty niêm yết trong bối cảnh Việt Nam.

2.1.2 Hướng dẫn thực hiện phân tích nội dung
Thủ tục phân tích nội dung đã được thực hiện thông qua các bước sau
(Krippendorff, 1980):
• Đọc các văn bản trong các báo cáo thường niên và các trang web của công ty
niêm yết
• Xác định các câu có mối quan hệ với các từ khóa trong của các mục CED
• Giải thích và chọn các mục thích hợp để đánh giá CED
• Cho điểm cả về số lượng và chất lượng
• Bỏ qua tất cả các thông tin không liên quan đến CED
- 15 -


• Đưa ra các suy luận
Sau khi quá trình chấm điểm được hoàn thành, điểm số trong mỗi chủ đề đã
được tính toán, tất cả những điểm số này sau đó đã được cộng vào để có được tổng
số điểm công khai thông tin TNBVMT tại công ty niêm yết. Tổng số điểm thông báo
cho độc giả về thực tiễn công khai thông tin TNBVMT thực hiện bởi các công ty
niêm yết Việt Nam.

Đ
A

• Điểm ‘ba’ cho thông tin định tính. Mô tả, tường thuật, hoặc các thông tin định
tính về CED được cho điểm ‘ba’, thông tin này là tương đối dễ dàng để xác định.
• Điểm 'bốn' cho thông tin có sự kết hợp giữa thông tin về tiền tệ và định tính.
• Điểm 'năm' cho thông tin có sự kết hợp giữa thông tin phi tiền tệ và định tính
• Điểm 'sáu' cho thông tin bao gồm cả về tiền tệ và phi tiền tệ.
• Điểm 'bảy' cho thông tin bao gồm cả về tiền tệ và phi tiền tệ, thông tin định
tính
Điểm số cao nhất có thể để đo lường mức độ công bố thông tin là "bảy", đây là
mức điểm thể hiện tính chất toàn diện nhất về công khai thông tin kết hợp khía cạnh
chất lượng, tiền tệ, và phi tiền tệ. Điểm số tối đa có thể đạt được ở mỗi công ty là
147, bằng cách nhân số điểm tối đa cho mỗi lần đo (7) với tổng số các mục CED
(21).
2.2 Kết quả nghiên cứu và những đánh giá
2.2.1 Điểm số công bố thông tin TNBVMT và thống kê mô tả
Một phân tích mô tả được thực hiện để quan sát điểm số trung bình của CED cho
các năm 2012 đến năm 2014. Xem xét rằng điểm số tối đa có thể cho 21 mục công
bố thông tin là 147, tổng số điểm trung bình của VLF dao động giữa 15 và 16 trong
thời gian ba năm. So sánh với kết quả nghiên cứu tại Malaysia, Indonesia, Singapore,
Ấn Độ, mức độ công khai thông tin TNBVMT của VLF từ năm 2012 đến năm 2014
- 16 -


là tương đối thấp. Rõ ràng là việc thực hiện công bố thông tin TNBVMT tại các
công ty niêm yết Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn sơ khai.

Ế

Bảng 2: Thống kê mô tả về CED của công ty niêm yết Việt Nam
2012
2013

K

Bảng 3: Kiểm định Kruskal-Wallis
.631

Asymp.Sig
.730

O

̣C

Chi-Square

̣I H

Test variable list: CED score

Đ
A

Grouping Variable: Year
Trong các nghiên cứu trước đây, ngành công nghiệp cùng với quy mô là biến
phổ biến nhất để giải thích nội dung và mức độ của công khai thông tin TNBVMT.6
Reverte (2009) chỉ ra rằng theo thống kê các công ty có quy mô càng lớn, và trong
nhóm ngành công nghiệp nhạy cảm, điểm công khai thông tin TNBVMT càng cao,
khi so sánh với các doanh nghiệp có xếp hạng điểm công khai thông tin TNBVMT
thấp. Ngành công nghiệp và quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực và đáng kể
đến CSRD (Gamerschlag, 2011; Zali, 2013). Những giả thuyết này sẽ được thử
nghiệm với các dữ liệu của VLF qua kiểm định Kruskal-Wallis, Mann-Whitney.

nhạy cảm, giống hệt nhau
H1: CED của hai nhóm, bao gồm cả ngành công nghiệp nhạy cảm và không
nhạy cảm, không giống nhau
Như đã giải thích ở trên, biến phụ thuộc - CED- không phải là phân phối chuẩn,
Mann-Whitney U test là kiểm định thích hợp để so sánh điểm trung bình. Mục đích
của kiểm định là để kiểm tra sự khác biệt của CED do ảnh hưởng bởi biến độc lập –
ngành công nghiệp.

Đ
A

̣I H

Bảng 4: Kết quả điểm CED phân chia theo ngành công nghiệp qua 3 năm
(2012-2014)
CED
Industry
N
Mean
Sum
of
Rank
Ranks
CED.Y1 Non-sensitive
15
29.00
435.00
Industry
Sensitive Industry
143

CED.Y1 CED.Y2 CED.Y3
315.000
367.500
533.000
Mann-Whitney U
435.000
487.500
653.000
Wilcoxon W
-4.512
-4.196
-3.214
Z
.000
.000
.001
Asymp. Sig. (2-tailed)
a

Grouping Variable: Industry

̣I H

O

̣C

K

IN


H1: CED của ba nhóm bao gồm cả quy mô nhỏ, trung bình, lớn là không giống
nhau
Bảng 6: Kết quả giá trị trung bình CED phân chia theo quy mô doanh
nghiệp qua 3 năm (2012-2014)
Mean
Size
N
Rank
25
30.02
CED.Y1 Small
Medium
17
84.50
Large
116
89.43
Total
158
25
34.66
CED.Y2 Small
Medium
17
83.68
Large
116
88.55
- 19 -

2
2
2
df
.000
.000
.000
Asymp. Sig.

H



́H

Do kết quả với P-value nhỏ gần bằng không (P
điểm số tối đa có thể cho chủ đề "Môi trường" là 91, thực tế giá trị trung bình cho
chủ đề này dao động giữa 6.6 và 6.9 trong thời gian ba năm. Điều này cho thấy
lượng thông tin về 'môi trường' được công khai tương đối thấp trong báo cáo và các
- 20 -


Đ
A

̣I H

O

̣C

K

IN

H



́H

U

Ế

trang web hàng năm của VLF từ năm 2012 đến năm 2014. Một số công ty có xu

(Deegan & Gordon, 1996 được trích dẫn trong Kathyayini., Et al. 2012), động lực để
tiết lộ thông tin này được cho là ít có khả năng nếu thiếu những quy định của pháp
luật, hoặc nếu bản thân công ty chưa xác định được lợi ích.
2.2.2.2

Sản phẩm
- 21 -


Chủ đề được công khai thứ hai là 'sản phẩm' tiếp đến là 'bền vững'. Thông tin
'Sản phẩm' được dễ dàng xác định trong báo cáo thường niên. Một bản tóm tắt chi
tiết về các mục của sản phẩm được trình bày trong bảng 9.

Ế

Bảng 9: Thông kê mô tả yếu tố sản phẩm của VLF 2012-2014
Items
2012
2013
2014
Sum Mean Std. Sum Mean Std. Sum Mean Std.
2.31 1.306
356
2.25 1.340
341
2.16 1.337
PT sản phẩm 365
326
2.06 1.422
318

U

Mặc dù thông tin về sản phẩm được công bố bởi VLF là không đủ cho ba mục,
hầu hết các công ty giới thiệu sản phẩm trên các báo cáo thường niên và các trang
web. Tương tự như các nghiên cứu của Gunawan (2007) tại Indonesia, "Tính an toàn
của sản phẩm" dường như được bỏ qua khi so sánh với thông tin khác của sản phẩm,
chẳng hạn như "phát triển sản phẩm" và "chất lượng sản phẩm, trong khi đây là
thông tin được mong đợi nhất của các bên liên quan. Các thuyết minh về an toàn của
sản phẩm này chỉ được cung cấp bởi các công ty trong ngành công nghiệp thực phẩm
và dược phẩm khi họ có nghĩa vụ phải tuân thủ các quy định an toàn sản phẩm. Đây
có thể là lý do tại sao các công ty không tham gia vào sản xuất thực phẩm hoặc dược
phẩm có xu hướng không tiết lộ thông tin này. Một lý do khác là, có lẽ, đó là bản
chất của ngành công nghiệp đã không liên quan nhiều với các vấn đề về an toàn sản
phẩm, ví dụ, các công ty trong ngành công nghiệp dịch vụ. Các ví dụ khác về công
khai thông tin 'sản phẩm' được gắn liền với việc đóng gói sản phẩm mới, lượng chi
phí hoặc tỷ lệ phần trăm của chi phí nghiên cứu và phát triển để cải thiện sản phẩm
hiện có, và việc giới thiệu các sản phẩm mới. Thông tin về các thành tựu và bảo trì
theo các tiêu chuẩn ISO 9001 (2008), chứng nhận về quản lý chất lượng TQM (Total
Quality Management) cũng đã chiếm ưu thế, cho thấy rằng các công ty đã đáp ứng
các yêu cầu về chất lượng sản phẩm.
2.2.2.3

Tính bền vững

Bảng 10: Thống kê mô tả về tính bền vững công bố bởi VLF 2012-2014
Items
Tính bền vững

2012
Mean



́H

U

Ế

thấp. Hầu hết các công ty chỉ nêu rằng họ sẽ thực hiện các mục tiêu và các giá trị xã
hội liên quan đến việc ra quyết định dài hạn, nhưng không công bố bất kỳ lời giải
thích chi tiết nào. Một trong những lý do là công khai mối liên hệ giữa tính bền vững
và giá trị kinh tế - xã hội là khó xác định trong báo cáo thường niên và các trang web
của công ty (Gunawan, 2007). Một lý do tương tự cho việc tiết lộ thông tin về 'phát
triển bền vững' là các công ty đều không quen với việc tiết lộ tính bền vững về hoạt
động kinh tế và xã hội, mặc dù họ hiểu rằng việc duy trì các giá trị kinh tế và xã hội
có thể tạo ra sự bền vững.

Năng lượng

̣I H

O

2012
% Không Mean
công khai
93.7
0.18

Std.

0.61

1.21

79.7

0.58

1.180

81.0

0.54

1.149

86.7

0.39

1.02

87.3

0.38

1.020

86.1


Lo ngại về
thiếu hụt NL

̣C

Bảng 11: Thống kê mô tả chủ đề về Năng lượng bởi VLF 2012-2014
Items

Một bản tóm tắt các mục về năng lượng được cung cấp trong bảng 11. Ngược lại
với các thông tin được công khai nhiều nhất, thông tin về 'năng lượng' được tìm thấy
là ít quan trọng nhất tại VLF. Nói chung, khoản trên 90% VLF đã không công khai
các mục bảo tồn năng lượng trong các báo cáo hàng năm và các trang web trong thời
gian ba năm 2012-2014. Không ai trong số các công ty niêm yết tiết lộ những lo ngại
về tình trạng thiếu năng lượng. Trong khi giá trị trung bình của mỗi mục là cực kỳ
thấp, độ lệch chuẩn cao cho thấy điểm số năng lượng đã được lan truyền rộng rãi
- 23 -


Ế

giữa nhiều nhất và ít nhất, chỉ ra rằng một số công ty đã cung cấp thông tin về năng
lượng nhiều hơn, trong khi những công ty khác là thấp hơn rất nhiều.
Hai lý do có thể giải thích tình trạng này: đầu tiên, công ty đã không biết về sử
dụng năng lượng hiệu quả, và thứ hai, nhiều công ty đã không nhận ra rằng thông tin
về 'năng lượng' liên quan chặt chẽ đến thông tin TNBVMT. Với lý do đó, các kiến
thức về báo cáo TNBVMT cần phải được đào tạo để các công ty hiểu rõ hơn các
thông tin có liên quan đến việc bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, và làm thế nào
để công khai các hoạt động liên quan đến TNBVMT (Gunawan, 2007).

U

(Adams, 2002). Vì vậy, VLF có khuynh hướng công bố "tin tốt" để có được một
hình ảnh tốt về công ty và tăng cường sự tin cậy. Tình trạng này trùng hợp với những
nghiên cứu lớn khác, với kết quả hoàn toàn tương tự (Adams, 2002; Milne, et al,
2000;. Wilmshurst & Frost, 2000). Các sự kiện cụ thể có thể làm tăng mức độ và bản
chất của CED, như đã được chỉ ra trong quá trình phân tích nội dung. Với thực tế là
nhiều VLF cung cấp thông tin đầy đủ về các hoạt động môi trường, bản chất là sự
tập trung vào các chiến dịch hỗ trợ môi trường hay các giải thưởng, thiết kế cơ sở
thân thiện với môi trường.
Tuy nhiên, ngoài những điểm tương đồng trong việc tiết lộ bản chất của hoạt
động môi trường, các nội dung khác của việc công khai thông tin lại khác nhau giữa
các ngành công nghiệp. Các ngành công nghiệp không nhạy cảm, bao gồm tài chính,
đầu tư và phương tiện truyền thông, các công ty phát thanh truyền hình cung cấp
thông tin về chủ đề 'môi trường' là thấp nhất, ngược lại cung cấp rất nhiều thông tin
về chủ đề "nguồn nhân lực" và “các quan hệ đối ngoại”, đặc biệt là liên quan đến
khách hàng. Các công ty khai thác, sản xuất và nông nghiệp có xu hướng công khai
việc tuân thủ quy định của nhà nước, cụ thể trong kiểm soát ô nhiễm và hỗ trợ các
chiến dịch vì môi trường.
- 24 -


2.4 Những đề xuất nhằm khuyến khích công bố thông tin về bảo vệ môi
trường của doanh nghiệp ở Việt Nam
2.4.1 Bối cảnh Việt Nam giai đoạn 2012-2014

Đ
A

̣I H

O

Ngoài ra, các quy định về công khai thông tin tại Việt Nam chưa được chặt chẽ
và vẫn còn mơ hồ, tạo ra các khe hở cho các CEO để tự quyền quyết định có nên
công bố hay không nội dụng TNBVMT trong báo cáo hàng năm của công ty. Theo
Luật Chứng khoán Việt Nam ban hành năm 2006, chương 8 liên quan đến công bố
thông tin bao gồm 7 phần, những chỉ tập trung yêu cầu những thời điểm bất thường
phải công bố thông tin. Phần 128 và 129 nhà nước quy định về hành vi vi phạm các
quy định về công bố thông tin chỉ gồm bốn dòng như sau: “các doanh nghiệp buộc
phải tuân thủ quy định công bố thông tin, nếu không sẽ bị cảnh báo hoặc bị phạt” mà
không quy định tình huống cụ thể rõ ràng. Chỉ có một thông tư quy định về công
khai thông tin TNBVMT là Thông tư số 3105/TNMT-QLMT ban hành năm 2008
bởi Viện tài nguyên và Môi trường, yêu cầu các công ty phải báo cáo trách nhiệm
môi trường, bao gồm cả tác động của công ty đến môi trường và quá trình thực hiện
để giảm thiểu những tác động này. Tuy nhiên, mức phạt chung được quy định nếu vi
phạm không báo cáo là từ 10 triệu đến 50 triệu, mức xử phạt quá thấp này đã không
đủ mạnh để làm cho công ty niêm yết tuân thủ quy định về công bố thông tin. Để
7

Report Macroeconomics and Stock market for the period 2011-2012 by Vietcombank Securities, Available at:
((access on Feb 12th , 2013).

- 25 -



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status