Hệ thống câu hỏi trong giờ dạy văn bản - Pdf 41

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THUẬN LI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG GIỜ DẠY VĂN BẢN
Người thực hiện: TRẦN THỊ THANH THU
Giáo viên Ngữ văn trường Trung học cơ sở Thuận Lợi
Đồng Phú- Bình Phước
Bình Phước, tháng 3 năm 2008
1
SÁNG KIẾNKINH NGHIỆM
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG GIỜ DẠY VĂN BẢN
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lí do chọn đề tài: Phân môn Văn là một trong ba phân môn thuộc môn Ngữ văn.
Dạy phân môn này là dạy văn bản.Văn bản không chỉ phục vụ cho việc giảng văn
mà cho cả môn Ngữ văn nói chung. Chương trình Ngữ văn THCS chọn được những
văn banû cùng lúc đáp ứng hoàn toàn yêu cầu của ba phân môn: văn, tiếng Việt, tập
làm văn. Vi thế, dạy văn bản rất quan trọng. Giáo viên(GV)là người bắc cầu nối giữa
văn bản với học sinh (HS), người tạo ra sự hoà đồng giữa hai quá trình tác động của
văn bản và sự tiếp nhận các tác động thẩm mó của văn bản ở HS. Khi GV và HS phân
tích một tác phẩm văn chương, GV bao giờ cũng là người hướng dẫn cho HS phân tích
văn bản đó theo một quan điểm đã được đònh hướng để giúp từng bước hiểu được hệ
thống giá trò có trong văn bản. Đây là quá trình truyền nội dung văn hóa vào thế giới
tinh thần của HS. Người GV có vai trò quyết đònh trong việc mở rộng và nâng cao
tầm đonù nhận của HS và giúp cacù em khắc phục khoảng cách giữa văn bản và bạn
đọc. Điều đó đòi hỏi GV phải có một phương pháp giảng dạy hiệu quả. Một trong
những phương pháp giảng dạy văn bản là việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong giờ
dạy. Hệ thống câu hỏi có vai trò quyết đònh trong việc tạo ra tình huống học tập để
HS phát triển tư duy năng lực tự học . Nó vừa là đònh hướng vừa là công cụ giúp HS
tìm hiểu khám phá cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Không những thế, hệ thống câu hỏi
còn giúp cho người GV đạt hiệu quả tối ưu trong giờ dạy, nâng cao chất lượng giảng
dạy bộ môn. Khó nhất là việc xây dựng hệ thống các câu hỏi giúp mọi đối tượng HS

kinh nghiệm và triển khai các sáng kiến đó cho các GV trong tổ chuyên môn Ngữ
văn trường THCS Thuận Lợi. Kiểm tra đánh giá kết quả sau khi đã triển khai.
7. Phương pháp nghiên cứu: Điều tra kết quả dạy phân môn văn của các GV, kết quả
học môn Ngữ văn của HS trong từng năm học, lấy số liệu từ sổ điểâm của các lớp, lấy
số liệu về kết quả chất lượng bộ môn qua Ban Giám Hiệu nhà trường. Đánh giá kết
quả giảng dạy của GV qua từng thời điểm, thống kê cụ thể chất lượng giờ dạy thao
giảng trong từng tháng của GV dạy văn. Phân tích, đối chiếu kết quả trước và sau khi
triển khai sanùg kiến kinh nghiệm.
Phần II.NỘI DUNG ĐỀ TÀI
A.Cơ sở lí luận của đề tài
Trong giờ dạy văn bản, GV điều khiển hoạt động học, hoạt động tiếp nhận văn
chương bằng một loạt các thao tác: dẫn dắt, gợi mở, phân tích, bình giảng cắt nghóa,
khái quát hoá, hệ thống hoá vấn đề. Nghệ thuật và tài năng của GV là phải biết
phân bố thời gian phù hợp cho từng phần của bài giảng, lúc nào cần đặt cho HS suy
nghó, thảo luận, lúc nào cần gợi mở, dẫn dắt HS phân tích các hình thức nghệ thuật
độc đáo của tác phẩm. Tuỳ theo thể loại tác phẩm mà GV có cách đặt hệ thống câu
hỏi khác nhau. Trong bất kì tác phẩm văn chương nào hình tượng luôn là nơi hội tụ
các chi tiết nghệ thuật, là nơi bộc lộ quan điểm cách nhìn, cách đánh giá hoặc phát
hiện về con người, cách sống của mỗi tác giả.Chiều sâu của tác phẩm văn chương
chứa đựng cái chân, thiện, mó cũng như cái tâm, cái tài của nhà văn. GV dạy văn
muốn xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp phải nắm được các yếu tố này. Ngoài
ra, muốn xây dựng được hệ thống câu hỏi đáp ứng yêu cầu của đổi mới phương pháp
dạy học văn bản người GV phải nắm vững phương pháp dạy văn. Phương pháp phát
hiện là tất yếu vì nếu nhà văn phản ánh hiện thực trong tác phẩm thì người đọc đi
3
ngược lại từ những chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm, tái hiện cuộc sống khách quan.
Vì thế, câu hỏi phát hiện là loại câu hỏi hết sức cần thiết cho HS, giúp HS hình dung,
tưởng tượng cuộc sống, con người qua tác phẩm văn chương. Một phương pháp dạy
văn tiếp theo là phương pháp gợi tìm. Điều mà mỗi người đọc quan tâm là tác giả
muốn gửi gắm điều gì qua tác phẩm? Các phương tiện nào được sử dụng để làm việc

so sánh đối chiếu; câu hỏi rèn luyện kiến thức, kó năng lí luận văn học; câu hỏi tìm
hiểu mối quan hệ giữa văn bản với các yếu tố ngoài văn bản; câu hỏi nêu vấn đề;
câu hỏi tổng kết chung những vấn đề đặt ra trong tác phẩm.

4
I.
1
Vai trò và cách đặt câu hỏi cho mỗi loại
1.Câu hỏi nhận biết, phát hiện bản chất các hiện tượng văn học:
Đây là loại câu hỏi phổ biến nhất trong quá trình giảng dạy văn bản. Vì muốn
tìm ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương về nội dung cũng như nghệ thuật
của nó, trước hết cần phát hiện ra bản chất cuả các hiện tượng văn học để làm cơ sở
cho phân tích và cảm thụ tác phẩm văn học. Loại câu hỏi này giúp HS chỉ ra được
các chi tiết nghệ thuật có ý nghóa, cách thể hiện nhân vật, cốt truyện, kết cấu, thời
gian, không gian nghệ thuật của tác phẩm. Các câu hỏi này nhìn chung dễã, phù hợp
với đối tượng HS trung bình, yếu. Tuy nhiên, trong giờ dạy không nên sử dụng nhiều
vì quá nhiều sẽ dẫn đến việc liệt kê các hiện tượng văn học trong một bài dạy chứ
không phải làm công việc đi tìm hiểu, phân tích một tác phẩm. Khi đặt câu hỏi GV
cũng không nên đặt theo một kiểu mà phải linh hoạt, thay đổi từ ngữ dùng để hỏi,
tránh trùng lặp.
Ví dụ :
Lớp 6, dạy bài “ Lượm” tuần 25 tiết 99
*Hình ảnh Lượm được miêu tả như thế nào qua cái nhìn của người kể chuyện?
(Trang phục, hình dáng, cử chỉ, lời nói).
(Qua cái nhìn của người kể chuyêïn, hình ảnh Lượm được miêu tả cụ thể như sau:
Trang phục: Cái xắc xinh xinh, ca lô đội lệch; hình dáng: loắt choắt, chân thoăn
thoắt; cử chỉ: Mồm huýt sáo vang.Như con chim chích. Nhảy trên đường vàng, cười
híp mí; lời nói: Cháu đi liên lạc. Vui lắm chú à… thích hơn ở nhà.)
Lớp 7, dạy bài “Mùa xuân của tôi” tuần 16 tiết 64
* Hãy tìm những câu văn gợi tả cảnh sắc và không khí mùa xuân Hà Nội, đất Bắc?

Lớp 6, dạy bài “Em bé thông minh” tuần 7 tiết 26
* Qua câu trả lời của em bé: “Ngựa của ông một ngày đi được mấy bước?”, Em có
nhận xét gì về câu trả lời ấy? Tại sao câu bé không trả lời câu hỏi của quan mà lại
hỏi vặn lại quan? (Hỏi vặn quan tức là cậu bé đẩy thế bí của mình về phía người đố.
Trong thực tế số lượng “đường cày” cũng như số lượng “bước chân ngựa” có thể
đếm được nhưng đó là những chuyện không ai làm, không ai để ý nên nó thành ra cái
không thể biết được. Câu bé không trả lời được nhưng lại trả lời bằng một câu hỏi mà
khiến quan cũng không thể trả lời, vạch ra cái phi lí của việc đếm một sự vật không
cần đếm. Đây là cách giải đúng nhất đối với loại câu đố này.)
Lớp 7, dạy bài “ Xa ngắm thác Núi Lư” tuần 9 tiết 34
* Em hãy phân tích câu thơ đầu để thấy cách nhìn cảnh của tác giả có điều độc đáo?
(Câu thơ đầu “Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên” (Mặt trời chiếu Hương Lô sinh làn
khói tía) miêu tả vẻ đẹp của núi Lư. Núi như có mây bao phủ nên được gọi là núi Lò
Hương. Lí Bạch đã nhìn, đã tả cảnh ngọn núi sinh dòng thác. Đây là cảnh rực rỡ dưới
ánh mặt trời, cảnh đang biến hoá do tác động của ánh sáng chiếu vào sương khói mà
“sinh” ra. Khói của núi Hương Lô là muôn thû, nhưng khói tía (tử yên) khói lung
linh sắc cầu vồng là khói nhìn qua con mắt nhà thơ Lí Bạch. Đó là một cảnh tượng
hùng vó, lộng lẫy, lung linh, huyền ảo. Từ cái nhìn bao quát không gian tầng trên tác
giả cho ta thấy vẻ đẹp của dòng thác tiếp theo đó. )
Lớp 8, dạy bài “Quê hương” Tuần 20 tiết 77
* Hãy phân tích nghệ thật của tác giả khi miêu tả cảnh con thuyền đánh cá ra khơi?
(Con thuyền được so sánh với “con tuấn mã”, một so sánh hợp lí. “Con tuấn mã” ấy
đang “hăng”, một trạng thái đầy phấn chấn và mạnh mẽ. Vì thế mà con thuyền
“phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang”. Từ “phăng” đặt ở đầu câu thơ như
6
thúc đẩy mái chèo và con thuyền băng băng trên sông dài. Thuyền nhẹ, trai tráng
khoẻ mạnh ra khơi đầy khí thế, sôi nổi và hào hùng. Khi miêu tả cánh buồm, tác giả
đã dùng biện pháp nhân hoá “Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”. Cánh buồm như
một sinh thể biết cử động và hơn thế nữa nó mang mảnh hồn của quê hương ra biển.
Nhứng người dân chài là máu thòt của làng biển, là linh hồn của làng giờ theo con

trong giờ văn là những câu hỏi dựa trên đặc trưng của tư duy văn học, hướng vào mục
đích khai thác tính nghệ thuật và nội dung của tác phẩm. Các câu hỏi này xuất hiện
sẽ làm thay đổi tình thái của giờ học, xác nhận tình trạng thực tại và đặt HS vào các
yêu cầu của việc nhận thức. Câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng có thể xuyên thấm tất
7
cả các hình thức hỏi, không phải tồn tại biệt lập, tách rời mà nó được đặt trong cấu
trúc hệ thống câu hỏi sáng tạo của tiến trình dạy văn bản. Để việc tiếp nhận của HS
diễn ra theo một quá trình liên tục, các câu hỏi liên tưởng , tưởng tượng còn phải có
mối liên hệ với các câu hỏi trong SGK đã được HS chuẩn bò ở nhà. Thực hiện điều
đó, việc tạo ra động lực tiếp nối dòng suy nghó liên tưởng của HS vừa kiểm tra kết
quả tự học, vừa góp phần tạo ra không khí văn chương trong giờ học.
Ví dụ:
Lớp 6, dạy bài “ Lượm” tuần 25 tiết 99
* Qua những hình ảnh nhà thơ miêu tả về chú bé liên lạc,em hình dung Lượm thế
nào? (Đó là một chú bé nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, đi làm liên lạc với cái xắc bé nhỏ bên
hông, mũ ca lô thì đôïi lệch về một bên trông rất ngộ nghónh. Cậu bé với đôi má đỏ
bồ quân, nụ cười híp mí, lời nói vui vẻ,hồn nhiên ấy nhanh nhẹn như một chú chim
chích nhảy tung tăng trên đường vàng trông thật đáng yêu.)
Lớp 7, dạy bài “ Xa ngắm thác núi Lư” tuần 9 tiết 34
* Hình ảnh “Nước bay thẳng xuống ba ngàn thước. Tửơng dải Ngân Hà tuột khỏi
mây” (Phi lưu trực há tam thiên xích. Nghi thò Ngân Hà lạc cửu thiên) gợi trong tâm
trí em điềâu gì? (Đó là hình ảnh dòng thác chảy từ độ cao ba nghìn thước đổ xuống
như bay. Con thác treo đứng trước mặt khác nào như dòng sông Ngân từ trên trời rơi
xuống, bắc cầu nối giữa bầu trời và mặt đất. Đây là một cảnh tượng rất kì vó, hào
hùng, mãnh liệt, gợi tả sức sống mãnh liệt của thác nước Núi Lư.)
Lớp 8, dạy bài “Ông đồ” tuần 17 tiết 66
* Hình dung của em thế nào về ông đồ từ lời thơ “Ông đồ vẫn ngồi đấy. Qua đường
không ai hay”? (Lời thơ gợi tả hình ảnh đáng thương của ông đồ. Ông vẫn ngồi ở chỗ
ấy, cái chỗ cũ trên hè phố đông người qua. Nhưng lúc này, ông ngồi âm thầm, lặng
lẽ. Mọi người qua đường không ai để ý đến ông, không ai hay sự tồn tại của ông bên

quả trứng thiên nhiên đầy đặn” đã miêu tả chính xác về hình dáng tròn tròa, đầy đặn
của mặt trời lúc mới mọc. Hình ảnh ẩn dụ, so sánh, các tính từ miêu tả trong đoạn
“quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ đặt lên một cái mâm bạc đường kính
rộng bằng cả một cái chân trời ngọc trai màu nước biển hửng hồng “đã thể hiện được
vẻ đẹp tráng lệ, kì vó, màu sắc rực rỡ, tươi sáng của mặt trời mọc trên biển. Cảnh
được miêu tả trong đoạn văn là cảnh bình minh trên biển, là một bức tranh tuyệt đẹp,
rực rỡ và tráng lệ.)
Lớp 7, dạy bài “ Tiếng gà trưa” tuần 14 tiết 54
* Em hãy nhận xét ý nghóa của từ “Vì” được lặp lại liên tiếp trong khổ thơ cuối?
(Việc lặp lại liên tiếp từ “Vì” (Điệp từ) có tính chất khẳng đònh niềm tin rất chân thật
và chắc chắn của người cháu về mục đích chiến đấu hết sức cao cả: “Vì tình yêu Tổ
quốc” nhưng cũng hết sức bình dò: “Vì tiếng gà cục tác. Ổ trứng hồng tuổi thơ”)
Lớp 8, dạy bài “ Tức nước vỡ bờ” tuần 3 tiết 9
* Hãy trình bày suy nghó cuả em về cách sử dụng từ ngữ, giọng văn của Ngô Tất Tố
qua đoạn văn miêu tả sự ra tay của chò Dậu đối với tên cai lệ và người nhà lí trưởng?
(Nhà văn sử dụng từ ngữ miêu tả, “túm ngay cổ”, “ấn giúi ra cửa” “ngã chỏng quèo”
đã làm nổi bật sức mạnh ghê gớm của chò Dậu và hình ảnh bất lực của tên cai lệ khi
bò chò ra đòn bất ngờ. Tác giả conø dùng giọng văn pha chút hài hước để miêu tả sự ra
tay của chò với tên người nhà lí trưởng: “Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy
không kòp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền… kết cục anh chàng hầu cận ông
lí yếu hơn chò chàng con mọn, bò chò này túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra
thềm”. Những động từ, tính từ lấy nguyên vẹn trong khẩu ngữ bình dân và cách gọi,
giọng văn hài hước chẳng những làm cho sự miêu tả thật sống động mà conø toát lên
9
không khí hào hứng đặc biệt. Đằng sau những dòng chữ ấy thấp thoáng ánh mắt tươi
cười, hài hước của tác giả.)
Lớp 9 dạy bài “Bếp lưả” tuần 12 tiết 57
* Ở cuối khổ thơ thứ năm, tác giả dùng từ “ngọn lửa” mà không dùng từ “bếp lửa”,
điều đó có ý nghóa gì? (Trong bài thơ có 7 lần nhà thơ trực tiếp nói đến “bếp lửa”
riêng ở cuối khổ thơ thứ năm, nhà thơ không nói đến “bếp lửa” mà dùng là “ngọn

pháp phân tích văn học khá phổ biến và rất hiệu quả. Khi sử dụng loại câu hỏi này
cần chú ý đến mục đích hỏi: so sánh làm nổi bật sự tương đồng và khác biệt với
những hình tượng văn chương gần gũi; so sánh làm nổi bật cấu trúc tác phẩm tức là so
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status