1
HỎI - ĐÁP TTHCM VỀ NHÀ NƯỚC
Cõu hỏi 1 : Vị trí vấn đề nhà nước trong tư tưởng HCM ?
Trả lời:
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đó khẳng định: “Tư tưởng
Hồ Chớ Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sõu sắc về những vấn đề
cơ bản của cỏch mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phỏt triển
sỏng tạo chủ nghĩa Mỏc- Lờnin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và
phỏt triển cỏc giỏ trị truyền thống tốt đẹp của dõn tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hoỏ nhõn loại” (Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn dân lần thứ
IX, Nxb CTQG, H.2001, tr38). Trong hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh, tư tưởng
về Nhà nước kiểu mới chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng với nội dung
rộng lớn. Hiện nay, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
kiểu mới ở Việt Nam có ý nghĩa cấp thiết về lý luận và thực tiễn đối với việc
xây dựng Nhà nước pháp quyền xó hội chủ nghĩa Việt Nam của dõn, do dõn
và vỡ dõn.
Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về:
"Vấn đề chính quyền nhất định là vấn đề chủ yếu nhất của mọi cuộc cách mạng".
Song, Người thấy rõ rằng vấn đề chính quyền ở nước ta không thể dập khuôn theo
các nước khác, mà cần "phân tích cụ thể một tình hình cụ thể" để có lời giải đáp đúng,
phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn đất nước và quy luật phát triển của cách mạng Việt
Nam. Trên nền tảng chủ nghĩa Mỏc-Lờnin, vận dụng sang tạo chủ nghĩa
Mỏc-Lờnin vào thực tiễn nước ta, Người đó xỏc định cỏch mạng Việt Nam
phải đi theo con đường của cỏch mạng vụ sản và nhỡn nhận vấn đề chớnh
quyền nhà nước như một nội dung cơ bản của cỏch mạng Việt Nam. Tư
tưởng Hồ Chớ Minh về nhà nước là một hệ thống quan hệ rừ ràng, nhất
3
dựng trờn cơ sở tư tưởng Hồ Chớ Minh đó phỏt huy thành quả tớch cực
trong sự nghiệp cỏch mạng của dõn tộc.
Hồ Chớ Minh đó để lại một di sản tư tưởng đồ sộ về vấn đề nhà
nước. Người đó ký 613 sắc lệnh, chỉ đạo việc soạn thảo bản Hiến phỏp năm
1946 và Hiến phỏp năm 1959, đó ký cụng bố 16 đạo luật và nhiều văn bản
dưới luật khỏc ( Theo tài liệu của Viên nghiên cưú khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp,
xuất bản tháng 3 - 1993 ). Đồng thời qua một số tỏc phẩm, nhiều bài viết, bài
núi của Hồ Chớ Minh đó thể hiện sự quan tõm sõu săc của Người về vấn đề
xõy dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam.
Cõu hỏi 2 : Khái lược quá trỡnh hỡnh thành và phỏt triển tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới ở Việt Nam.
Trả lời:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới của dõn, do dõn và vỡ
dõn cú quỏ trỡnh phỏt triển lõu dài và cú thể phõn thành cỏc giai đoạn:
Trước năm 1945: Việt Nam là một xó hội phong kiến lạc hõu, đất
nước bị thực dõn Phỏp nụ dịch. Với lũng yờu đất nước, quờ hương, nhõn ỏi,
thương người, nhất là người nghốo khổ, Hồ Chớ Minh đó quyết đi tỡm con
đường cứu nước. Tư tưởng Hồ Chớ Minh về nhà nước kiểu mới từng bước
được hỡnh thành.
Năm 1919, trong “yờu sỏch tỏm điểm”, Hồ Chớ Minh đó đề xuất tư
tưởng xõy dựng một nhà nước dõn chủ, gắn với việc thủ tiờu nhà nước thuộc
địa, phong kiến, thực hiện cỏc quyền tự do, dõn chủ, cỏc quyền con người.
Năm 1925-1927, Hồ Chớ Minh viết “bản ỏn chế độ thực dõn Phỏp”
và “Đường cỏch mệnh”, trờn phương diện nhà nước, Người đó đề xuất quan
niệm về một nhà nước của số đông, thực hiện một nền dõn chủ triệt để- dõn
chủ cho đa số theo mụ hỡnh kiểu nhà nước Xụ viết.
5
Sang năm 1945, phong trào phát triển mạnh mẽ, căn cứ địa cỏch mạng
được mở rộng, hỡnh thành một vựng rộng lớn gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc
Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyờn Quang, Thỏi Nguyờn và một số cựng
ngoại vi thuộc cỏc tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yờn, Phỳ Thọ, Yờn Bỏi...
Trước tỡnh hỡnh đó, Hồ Chớ Minh chỉ thị thành lập Khu giải phúng
cử ra uỷ ban chỉ huy lõm thời, thực hiện chức năng của chớnh quyền cỏch
mạng. Tại cỏc địa phương trong Khu giải phúng, cỏc uỷ ban nhõn dõn cỏch
mạng cũng được thành lập, do nhõn dõn cử ra, để thi hành 10 chớnh sỏch
của Việt Minh. Khu giải phúng là hỡnh ảnh “nước Việt Nam mới phụi thai”,
“cỏc uỷ ban nhõn dõn cỏch mạng vừa lónh đạo nhõn dõn chuẩn bị tổng khởi
nghĩa, vừa tập cho nhõn dõn cấm chớnh quyền” (Trường Chinh, tuyển tập,
Sự Thật, H.1987, tr 134- 135).
Tiếp theo, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tõn Trào đó đi đến
quyết định lịch sử: phỏt động tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban dõn tộc giải
phúng Việt Nam, ra mắt Quốc dõn Đại hội, làm chức năng của Chớnh phủ
lõm thời ngay sau Cỏch mạng thỏng Tỏm thắng lợi.
Sau khi Nhà nước Việt Nam Dõn chủ cộng hũa được thành lập trong
gần ẳ thế kỷ, trờn cương vị là chủ tịch đầu tiờn của nước Việt Nam mới, nhà
nước dõn chủ nhõn dõn đầu tiờn ở Chõu Á, Chủ tịch Hồ Chớ Minh đó cú
cụng đầu trong việc đặt nền múng xõy dựng một nhà nước kiểu mới trong
lịch sử dõn tộc: Nhà nước của dõn, do dõn, vỡ dõn.
Câu hỏi 3 : Nêu khái lược sự khủng hoảng tư tưởng về ván đề nhà
nước ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.
Trả lời :
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, chúng ta cũng có Nhà nước, đó là một
Nhà nước mang bản chất của giai cấp phong kiến. Từ khi thực dân Pháp vào
7
dựng Nhà nước theo kiểu quânchủ lập hiến ở Nhật Bản hoặc một chính quyền
cộng hoà dân chủ theo kiểu Âu - Tây. Huỳnh Thúc Kháng, đã đề xuất với toàn
quyền Đông Dương lập bản Hiến pháp cho Nam Triều và đề xướng quan điểm
Xứ An Nam phải có Hiến pháp; lập Hội dự thảo hiến pháp và nhân dân được tự
do đầu phiếu. Tuy nhiên, đề nghị nói trên của Huỳnh Thúc Kháng đã không
được Khâm sứ Trung Kỳ và Chính phủ Pháp chấp nhận. Như vậy, việc lựa chọn
xây dựng Nhà nước theo khuynh hướng tư sản mặc dù có những mặt tiến bộ
nhưng không phù hợp với điều kiện cách mạng Việt Nam nên đã không thành
hiện thực.
Tình hình thực tế trên cho thấy, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam chẳng
những có cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước mà gắn liền với cuộc khủng
hoảng đó còn có cuộc khủng hoảng, bất cập trong quan điểm lựa chọn, tạo lập
chế độ nhà nước theo lập trường phong kiến, tư sản. Lịch sử vận động, phát triển
một cách tất yếu, hợp quy luật, đã đòi hỏi một cách khách quan phải tìm chọn
con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc và thiết lập một Nhà nước
kiểu mới ở nước ta. Người đáp ứng được đòi hỏi khách quan ấy chính là con
người với những cái tên gắn liền với lịch sử dân tộc: Nguyễn Tất Thành Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Cõu hỏi 4: Trỡnh bày sự nghiờn cứu, tiếp thu những kinh nghiệm
quý bỏu về xõy dựng Nhà nước trong lịch sử dõn tộc ta của HCM.
Trả lời:
Với tư tưởng "dân ta phải biết sử ta", Hồ Chí Minh đó nghiờn cứu rất
kỹ lịch sử cỏc triều đại, đặc biệt là triều đại nhà Lý, Trần, Lê và tiếp thu ở đó
nhiều kinh nghiệm quý bỏu thể hiện rừ qua cỏc bộ sử và cỏc bộ luật lớn của
dõn tộc. Đó là tư tưởng trị nước bằng nhân trị, đức trị của nhiều bậc hiền tài,
tư tưởng pháp quyền và tư tưởng “thõn dõn” của nhà nước thời kỳ phong
kiến hưng thịnh. Lịch sử đó ghi nhận, dưới trièu lý, vua Lý Thỏi Tụng
và Lóo gia mà Hồ Chớ Minh đó nghiờn cứu, phỏt triển trong xõy dựng
nhà nước ta ?
Trả lời :
Trong hành trang ban đầu mà Hồ Chí Minh mang theo trên con đường
cứu nước và tỡm kiếm một mụ hỡnh Nhà nước tiến bộ cho nước nhà sau khi
giành được độc lập không chỉ có truyền thống tốt đep của dân tộc mà cũn cú
những tư tưởng tiến bộ trong học thuyết chớnh trị của Nho giỏo, tư tưởng
chớnh trị của Mặc gia và Lóo gia.
Hồ Chớ Minh đó kế thừa cú chọn lọc cỏc quan điểm lý luận của Nho
giỏo về trị nước. Tư tưởng thõn dõn trong học thuyết chớnh trị của nho giỏo
cũng được Hồ Chớ Minh vận dụng nhuần nhuyễn. Khổng Tử đó nhỡn nhận
thấy: “Dõn là gốc của nước”. Mạnh Tử cho rằng trong nước, dõn là quý
nhất, tiếp theo là xó tắc, vua là nhẹ: nờn ai được lũng dõn chỳng thỡ được
làm thiện tử. Chủ tịch Hồ Chớ Minh, Người đó thấm nhuần cỏc giỏ trị tiến
bộ của tư tưởng chớnh trị đó của nho giỏo, đó sớm chỉ ra cho chỳng ta thấy
sức mạnh của nhõn dõn- một nhà nước do dõn: “Gốc cú vững cõy mới bền,
xõy lầu thắng lợi trờn nền nhõn dõn”. Người cũng đó từng dạy phải lấy dõn
làm gốc.
Tư tưởng của nho giáo về đạo của người quõn tử với tư cỏch là người
cầm quyền, cũng được Hồ Chớ Minh nhận thức và phỏt triển với những nội
dung mới. Cỏc giỏ trị của người quõn tử mà nho giỏo đề ra như nhõn, nghĩa,
lễ, trớ, tớn, dũng, liờm, chung…được Hồ Chớ Minh vận dụng trong quỏ
trỡnh bàn về đạo đức cỏch mạng của người cầm quyền.
Tư tưởng chớnh trị của Mặc gia và Lóo gia cũng được Hồ Chớ Minh kế
thừa và phỏt triển. Mặc gia chủ trương chớnh sỏch kiờm ỏi trong cụng cuộc
cai trị: nhà cầm quyền phải yờu thương nhõn dõn, tận tuỵ vỡ những lợi ớch
10
của nhõn dõn. Thuyết kiờm ỏi hạn chế ở tớnh duy tõm và tớnh phi giai cấp.
cấp nhất định- giai cấp đã tổ chức và sử dụng bộ máy nhà nước ấy. Không
có nhà nước phi giai cấp, nhà nước của mọi giai cấp “nhà nước nhân dân tự
do”, “nhà nước phúc lợi chung”... như bọn cơ hội, xét lại của giai cấp tư sản
đang rêu rao.
Bản chất của nhà nước được thể hiện rất rõ ở chỗ nhà nước tìm mọi cách để
bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, trấn áp thống trị các giai cấp khác, thực
hiện dân chủ cho ít người- cho giai cấp thống trị bóc lột và thực hiện chuyên
chính với đa số nhân dân lao động trong xã hội.
Đặc trưng của nhà nước là: quản lý dân cư trong lãnh thổ nhất định,
thiết lập quyền lực công cộng (pháp luật), thu thuế để nuôi bộ máy nhà nước.
Nhà nước có chức năng giai cấp (còn gọi là chức năng thống trị chính
trị) và chức năng xã hội. Hai chức năng trên có quan hệ biện chứng với nhau
và đều thể hiện bản chất của nhà nước. Theo Ăngghen thì chức năng xã hội
là cơ sở của chức năng thống trị giai cấp và nhà nước chỉ thực hiện được duy
trì chức năng thống trị khi nó làm tròn chức năng xã hội mà xã hội đã giao
phó cho nó. Song, chức năng giai cấp thể hiện rõ rệt bản chất giai cấp của
nhà nước, còn chức năng xã hội của nhà nước cũng biểu hiện bản chất ấy
chứ không mang tính thuần túy như các cơ quan tổ chức của xã hội không
giai cấp. Xét đến cùng việc nhà nước thực hiện chức năng xã hội cũng vì
quyền lợi của giai cấp thống trị. Tính hiệu quả của chức năng xã hội phụ
thuộc vào tính chất tiến bộ hay lỗi thời lạc hậu của giai cấp thống trị vào
việc thiết kế, xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước và cơ chế hoạt động
của nó.
Nhà nước thực hiện chức năng đối nội nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã
hội, chính trị và những trật tự khác hiện có trong xã hội theo lợi ích của giai
cấp cầm quyền. Nhà nước thực hiện chức năng đối ngoại nhằm bảo vệ lãnh
12
thổ quốc gia, trong một số trường hợp, nhằm mở mang lãnh thổ và quan hệ
chức xây dựng xã hội mới- xã hội chủ nghĩa. Tổ chức xây dựng là thuộc tính
cơ bản nhất của chuyên chính vô sản. Khi đề cập tới vấn đề này, V.I Lênin
cho rằng chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột,
và cũng không phải chủ yếu là bạo lực mà mặt cơ bản của nó là tổ chức, xây
dựng toàn diện xã hội mới xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa. Nhà nước
xã hội chủ nghĩa có sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính quốc tế. Không
chỉ hoạt động vì lợi ích dân tộc mà còn phải làm nghĩa vụ quốc tế của mình,
bằng việc giúp đỡ từ mọi phương diện có thể được cho cuộc đấu tranh của
các dân tộc vì hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhà nước xã hội
chủ nghĩa là nhà nước tự tiêu vong. Sau khi những cơ sở kinh tế, xã hội của
sự xuất hiện và tồn tại nhà nước mất đi thì nhà nước sẽ không còn. Sự mất đi
của nhà nước vô sản không phải bằng con đường “thủ tiêu”, “xoá bỏ” mà
bằng con đường “tự tiêu vong”. Sự tiêu vong của nhà nước vô sản là một
quá trình rất lâu dài.
Chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ ra rằng nhà nước Xã hội chủ nghĩa, với
những đặc điểm vốn có của nó, là một nhà nước đặc biệt, nhà nước không
còn nguyên nghĩa, là nhà nước “nửa nhà nước”.
Nhờ cú quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đó
tỡm thấy con đường cách mạng Việt Nam, phương thức đúng đắn để giải
quyết vấn đề chính quyền nhà nước, hiểu biết thấu đáo bản chất nhà nước và
cách thức tổ chức nhà nước. Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin về vấn đề Nhà nước nói chung, Nhà nước xã hội chủ nghĩa nói
riêng là cơ sở lý luận khoa học để Người đánh giá phê phán các học
thuyết khác về tổ chức Nhà nước cũng như khảo sát các kiểu thực tiễn
Nhà nước một cách chính xác. Từ đó hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, làm cho tư tưởng này của Hồ Chí
14
Minh thật sự cách mạng, khoa học, trở thành nền tảng tư tưởng của
chế chính trị và thể chế dân chủ. Người đã có những đánh giá rất sâu sắc về
cách mạng tư sản Mỹ (1776), cách mạng tư sản Pháp (1789); cách mạng
XHCN Tháng Mười Nga (1917). Những cuộc cách mạng xã hội lớn này đã
tạo lập nên các nhà nước tiêu biểu cho bản chất của các kiểu nhà nước trong
lịch sử: Nhà nước Tư sản và Nhà nước Xô Viết (Nhà nước XHCN).
Ở nước Mỹ, Hồ Chí Minh đã đến thăm tượng Nữ thần tự do và để lại
một dấu tích "độc nhất vô nhị" trong hàng ngàn vạn bút tích của các chính
khách, danh nhân khi cảm tưởng khi đến thăm nơi này: "ánh sáng trên đầu
Thần tự do toả rộng khắp trời xanh còn dưới chân Thần tự do thì người da
đen bị trà đạp, số phận người phụ nữ bị trà đạp. Bao giờ người da đen được
bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? và
bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?" (1)3. Năm 1927, trong
tác phẩm "Đường cách mệnh", Hồ Chí Minh đã viết về "lịch sử cách mệnh
Mỹ", trong đó chỉ rõ sự không thống nhất giữa nói và làm, chỉ nói mà không
làm của nhà nước Mỹ. Người viết: "Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu
rằng: "Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình,
quyền làm ă cho sung sướng... Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng
thì dân chúng phải đạp đổ chính phủ ấy đi và gây nên chính phủ khác...".
Nhưng bây giờ chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách
mệnh, ai đụng đến chính phủ!
Mỹ tuy rằng cách mệnh đã thành công hơn 150 năm nay, nhưng công nông
vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai. ấy là vì cách mạng Mỹ
là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản chưa phải là cách mệnh đến
nơi"(2).
3(1)
(2)
Hỏi đáp về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, H.2004, tr11.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tập 2, tr270.
SĐD, Tập 11, tr335.
SĐD, Tập 2, tr274.
17
Minh cho rằng những tư tưởng về "quyền lực tối cao thuộc về nhân dân" và
"tự do, bình đẳng, bác ái", lúc đầu là những tư tưởng tiến bộ, song sau đó
quyền lực thực tế rơi vào tay một số ít người tức giai cấp tư sản còn đại đa
số nhân dân vẫn bị áp bức bóc lột, không thật sự trở thành người chủ của
quyềnlực Nhà nước. Vì thế, với tính cách là sản phẩm của cách mạng tư sản
- cách mạng chưa đến nơi, Nhà nước tư sản không thể áp dụng để xây dựng
ở nước ta.
Nghiên cứu cách mạng Tháng Mười Nga và Nhà nước Xô Viết, Hồ Chí
Minh nhận thấy cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới do Lênin lãnh đạo
là cuộc cách mạng triệt để, vĩ đại, cách mạng "đã đến nơi" và sản phẩm của
cuộc cách mạng này là Nhà nước Xô Viết với bản chất khác về căn bản so với
các Nhà nước trước đó. Hồ Chí Minh nói: "Trong thế giới bây giờ chỉ có cách
mạng Nga là thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh
phúc tự do, bình đẳng thật, không phải là tự do và bình đẳng giả dối "(1). Người
đã nhìn thấy bản chất tốt đẹp của Nhà nước Xô Viết qua những việc làm trên
thực tế như: "phát ruộng đất cho dân cầy, giao công xưởng cho thợ thuyền... ra
sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng"(1).
Từ khảo sát nghiên cứu, so sánh bản chất các kiểu Nhà nước trên
thế giới, Hồ Chí Minh đã kết luận: "Nhà nước phong kiến là công cụ của
địa chủ để thống trị nông dân. Nhà nước tư bản là công cụ của giai cấp
tư sản để thống trị giai cấp công nhân. Song từ cách mạng Nga thành
công, một xã hội mới ra đời, nhà nước đã trở nên công cụ thống trị của
nhân dân lao động" (2).5
5(1)
Điều 8: Đũi cú đũan đại biểu thường trực của người bản xứ cử ra tại
Nghị viện Pháp. Và Người đó chuyển bản yờu sỏch trờn thành “Việt Nam
yờu cầu ca” để phổ biến rộng rói cho mọi người, trong đó có hai câu: “Bảy
xin hiến pháp ban hành. Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”
19
(Hồ Chí Minh- Sđd, tập 1, tr 435- 436).
Cõu hỏi 9: Sự phát triển tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong
bài diễn ca nói về 8 yêu sách gửi các nước đồng minh họp Hội nghị
Vecxây đầu năm 1919 như thế nào?
Trả lời:
Như đó biết, năm 1919, trong bản “yêu sách của nhân dân An Nam”
gửi hội nghị Vecxay, Hồ Chí Minh đó đề ngh “Thay chế độ ra các sắc lệnh
bằng chế độ ra các đạo luật”. Điều này cho thấy Người đó mặc nhiờn thừa
nhận cần phải cú phỏp luật để quản lý xó hội nhưng không phải là một thứ
pháp luật bất kỳ mà là thứ pháp luật của chế độ dân chủ mới. Đây là một vấn
đề rất quan trọng, nhưng dù sao các đạo luật cũng không thể bao quát và có
giá trị như Hiến pháp.
Đặt yêu sách thứ 7 trong “bản yêu sách của nhân dân An Nam: “Thay
chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật” bên cạnh cũng yêu sách
thứ 7 nhưng được diễn ca thành câu thơ trong bài “Việt Nam yêu sách ca”:
“Bảy xin Hiến phỏp ban hành
Trăm đều phải có thần linh pháp quyền” (Sdd, T1, tr 438)
Chỳng ta sẽ thấy quan niệm của Hồ Chớ Minh về quản lý xó hội bằng
phỏp luật của nhà nước dân chủ có sự phát triển phong phú, sâu sắc và bao
quát. Vỡ ai cũng cú thể thấy Hiến phỏp là hỡnh thức văn bản pháp luật
không chỉ cao hơn luật về mặt hiệu lực pháp lý mà cũn cả về mặt dõn chủ,
về mặt phỏp quyền, đồng thời lại đề cập đến một phương diện cơ bản mới:
động cỏch mạng động của Người.
21
Cõu hỏi 11: Trước khi có Hiến pháp của nước VNDCCH, với tư
cỏch là người đứng đầu nhà nước, Hồ Chí Minh đó làm gỡ để thực hiện
việc quản lý xó hội bằng phỏp luật?
Trả lời:
Trong tư tưởng Hồ Chớ Minh, Nhà nước kiểu mới là một nhà nước
hợp hiến- nhà nước cú Hiến phỏp do Quốc hội thụng qua. Hiến phỏp là “luật
mẹ”, luật gốc làm cơ sở để xõy dựng hệ thống luật phỏp để quản lý mọi mặt
đời sống xó hội và cụng dõn. Tuy nhiờn, trước khi cú Hiến phỏp, Hồ Chớ
Minh nhận thấy để xó hội mới tồn tại và phỏt triển khụng thể thiếu những
văn bản cú giỏ trị phỏp lý. Cho nờn, Người đó ký sắc lệnh giữ lại mọi luật lệ
của chế độ cũ, chỉ trừ những điều luật trỏi với nền độc lập, tự do của đất
nước. Đồng thời, Người ký một loạt sắc lệnh quan trọng và cấp bỏch như:
Sắc lệnh bảo đảm tự do cỏ nhõn, sắc lệnh bói bỏ thuế quan, sắc lệnh tổ chức
tũa ỏn độc lập với hành chớnh...Hồ Chớ Minh đũi hỏi trong mọi hoạt động
của Chớnh phủ, của cỏc cấp chớnh quyền, tổ chức và cỏ nhõn phải chấp
hành phỏp luật, khụng ai được đứng trờn và đứng ngoài phỏp luật. Ngày
21/1/1946, Người đó ban hành quốc lệnh, quy định rừ những điều khen
thưởng và xử phạt, kể cả hỡnh phạt tử hỡnh. Trong thực tế, Người đó cho thi
hành những bản ỏn nghiờm khắc nhất đối với ngay cả những cỏn bộ, đảng
viờn vi phạm phỏp luật nhà nước.
Cõu hỏi 12 : Trong quốc lệnh được Hồ Chí Minh ký ngày 26-11946 đó thể hiện tinh thần nghiờm minh của nhà nước qua những điểm
cụ thể về thưởng, phạt. Hóy nờu toàn văn những điểm đó trong Quốc
lệnh?
Trả lời:
Trong “Quốc lệnh” đó nờu rừ 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt để
quõn dõn biết rừ những tội nờn trỏnh, những việc nờn làm. Cụ thể là:
23
Núi về bản chất của chế độ xó hội, của Nhà nước và phỏp luật thỡ
điều quan trọng là phải xem xột vấn đề quyền con người trờn thực tế. Ngày
2-9-1945, Hồ Chớ Minh đó trịnh trọng đọc bản “Tuyờn ngụn độc lập” trước
quốc dõn và toàn thế giới. Trong bản Tuyờn ngụn bất hủ này, Hồ Chớ Minh
đó khẳng định rừ những quyền cơ bản của con người. Người núi: “Tất cả
mọi người sinh ra đều cú quyền bỡnh đẳng. Tạo hoỏ cho họ những quyền
khụng ai cú thể xõm phạm được, trong những quyền ấy cú quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phỳc”. Lời núi bất hủ ấy ở trong bản
Tuyờn ngụn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, cõu ấy cú ý nghĩa
là: tất cả cỏc dõn tộc trờn thế giới đều sinh ra bỡnh đẳng, dõn tộc nào cũng
cú quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyờn ngụn nhõn
quyền và dõn quyền của Cỏch mạng Phỏp năm 1791 cũng núi: “Người ta
sinh ra tự do và bỡnh đẳng về quyền lợi; và phải luụn được tự do và bỡnh
đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ khụng thể chối cói được. Tuy nhiờn, tư
tường Hồ Chớ Minh khụng dừng lại ở quyền con người theo khuụn mẫu của
nền dõn chủ tư sản, càng khụng thể chấp nhận cỏi điều mà người ta chỉ núi
mà khụng làm. Quyền con người được đề cập trong Tuyờn ngụn độc lập của
Mỹ chỉ được hiểu là quyền cỏ nhõn, Hồ Chớ Minh đó “suy rộng ra” quyền
con người cũn là quyền của cộng đồng, của cả một dõn tộc. Trong đó quyền
tự quyết dõn tộc là một nội dung của quyền con người. Theo Hồ Chớ Minh,
quyền con người gắn liền với quyền dõn tộc và nằm trong quyền dõn tộc, đặt
cỏ nhõn trong mối quan hệ với cộng đồng.
Cõu hỏi 14: Hóy nờu tư tưởng Hồ Chớ Minh về đạo đức cụng dõn
và giỏo dục cụng dõn nhắm gúp phần xõy dựng Nhà nước dõn chủ nhõn
dõn qua một số bài nói tiêu biểu của Người?
Trả lời:
25
Cõu hỏi 15: Hồ Chớ Minh đó ứng cử trong kỳ Tổng tuyển cử bầu
quốc hội của nước VNDCCH ở đâu? kết quả trúng cử của HCM trong
bầu cử này.
Trả lời:
Hồ Chớ Minh đó ứng cử trong kỳ Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoỏ 1
của nước VNDCCH ở thành phố Hà Nội. Nhõn dõn Hà Nội rất phấn khởi
khi được tin Người ứng cử ở Thủ đô. Danh sỏch ứng cử viờn khu vực Hà
Nội được niờm yết rộng rói. Hồ Chớ Minh đứng thứ hai sau cụ Nguyễn Văn
Tố. Tất cả cú 74 vị ứng cử, chọn lấy 6 đại biểu. 118 vị đại biểu cỏc tầng lớp
ở ngoại thành Hà Nội đó gửi thư đề nghị cụ Hồ Chớ Minh khụng phải ứng
cử trong cuộc Tổng tuyển cử này và suy tụn cụ là chủ tịch vĩnh viễn của
nước VNDCCH. Hồ Chớ Minh đó gửi lời cảm tạ và núi “tụi là một cụng dõn
nước VNDCCH nờn khụng thể vượt qua thể lệ Tổng tuyển cử đó định. Tụi
đó ứng cử ở thành phố Hà nội nờn khụng ứng cử ở nơi nào khỏc nữa” (Hồ
Chớ Minh, Toàn Tập, T4, Nxb CTQG, H.2002, tr 116).
Ngay từ 6 giờ sỏng ngày 6-1-1946, Hồ Chớ Minh đó xuất hành làm
nhiệm vụ cụng dõn ở thựng phiếu số 10 phố Hàng Vụi. Bất chấp tỡnh hỡnh
chớnh trị hết sức phức tạp, hơn 90% cử tri toàn quốc đó đi bỏ phiếu. Hồ Chủ
Tịch trỳng cử với tỷ lệ cao nhất 98.4% số phiếu bầu.
Cõu hỏi 16: Tư tưởng về xây dựng Chớnh phủ công- nông- binh
được Hồ Chí Minh lần đầu tiên xác định trong văn kiện nào do Người
soạn thảo? bản chất của Chớnh phủ công- nông- binh theo tư tưởng Hồ
Chí Minh?
Trả lời:
Việc xõy dựng chớnh quyền cụng- nụng- binh với tớnh cỏch là một
hỡnh thức tổ chức chớnh quyền kiểu mới đó được Lờnin đánh giỏ rất cao.
Người đó khẳng định, nếu sự sỏng tạo của quảng đại quần chỳng cụng-