Dựa vào cộng đồng để sử dụng khôn khéo đất ngập nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu – trường hợp đất lúa nước của huyện gò công đông, tỉnh tiền giang (tt) - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
--------------------------------

HÀ VĂN ĐỊNH

DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG ĐỂ SỬ DỤNG KHÔN KHÉO ĐẤT
NGẬP NƯỚC TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRƯỜNG HỢP ĐẤT LÚA NƯỚC CỦA
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

CHUYÊN NGÀNH: MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
MÃ SỐ: CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Hà Nội,
1 2017


Công trình được hoàn thành tại Viện Tài nguyên và Môi trường –
Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Lê Diên Dực
2. TS. Nguyễn Võ Linh

Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam.
- Thư viện Trung tâm Thông tin – Thư viện, ĐHQGHN.
- Viện Tài nguyên và Môi trường.
2

2. Mục tiêu của luận án
2.1. Mục tiêu chung
Đề xuất được các giải pháp sử dụng khôn khéo đất lúa nước
dựa vào cộng đồng để khắc phục những bất cập trong quản lý sử
dụng đất lúa và tác động tiêu cực của BĐKH.
2.2. Mục tiêu cụ thể
(i) Đánh giá thực trạng tài nguyên đất lúa nước huyện Gò
Công Đông và những bất cập trong quản lý sử dụng.
(ii) Đánh giá tác động của BĐKH đến đất lúa nước huyện
Gò Công Đông và những vấn đề đặt ra.
(iii) Đánh giá được cộng đồng người sản xuất áp dụng tri
thức bản địa để sử dụng khôn khéo đất lúa nước và sự tham gia của
các cộng đồng liên quan.
(iv) Đề xuất các giải pháp phát huy tri thức bản địa sử dụng
khôn khéo đất nước thích ứng với BĐKH có sự tham gia của cộng
đồng.
3. Luận điểm bảo vệ của luận án
(i) BĐKH tác động đến lúa nước gây thu hẹp diện tích canh
tác, diện tích gieo trồng lúa.
(ii) Cộng đồng có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng
các giải pháp sử dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với BĐKH.
(iii) Sử dụng khôn khéo đất lúa nước là giải pháp sử dụng tri
thức bản địa của cộng đồng người sản xuất và sự tham gia của các
2


bên liên quan nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa, khắc phục
được những bất cập trong quản lý sử dụng và có thể biến tác động
tiêu cực của BĐKH thành những cơ hội mà không làm thay đổi
những tính chất cơ bản của hệ sinh thái.

mà không phụ thuộc nhiều vào việc đầu tư các công trình hạ tầng lớn
của nhà nước và việc quá trình điều tiết nguồn nước ở thượng nguồn
sông Mê Kông.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
(i) Kết quả nghiên cứu của luận án hy vọng sẽ là cơ sở để
các nhà quản lý tỉnh Tiền Giang và huyện Gò Công Đông xem xét,
tham khảo trong quá trình xây dựng chiến lược, kế hoạch sử dụng đất
lúa nước thích ứng với BĐKH.
(ii) Kết quả nghiên cứu đưa ra khuyến nghị đối với các cơ
quan quản lý cấp vĩ mô nhằm điều chỉnh lại những điểm bất cập “hay
những rào cản” của cơ chế chính sách để tạo điều kiện cho việc nhân
rộng các mô hình sử dụng đất lúa có khả năng biến những bất cập
của BĐKH thành những cơ hội để nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa.

4


6. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các
công trình khoa học của tác giả có liên quan đến luận án, tài liệu
tham khảo, phụ lục thì luận án được chia làm 3 chương: Chương 1.
Tổng quan nghiên cứu; Chương 2. Địa điểm, thời gian, nội dung,
phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu; Chương 3. Kết quả
nghiên cứu và thảo luận.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm và cơ sở lý luận
1.1.1. Đất lúa nước
Theo Công ước Ramsar [1971] thì đất lúa nước là một loại
hình đất canh tác ngập nước (loại hình thứ 18). Đây là loại hình đất
ngập nước (ĐNN) theo mùa hay ngập không thường xuyên.

dọa lớn đối với sản xuất lúa [IRRI, 2010]. Trên thế giới, việc xây
dựng mô hình cộng đồng thích ứng với BĐKH được đánh giá có hiệu
quả cao. Chương trình thích ứng dựa vào cộng đồng của Chương
trình Phát triển của Liên hợp Quốc (UNDP) giai đoạn 2008-2012.
Cải thiện sức chống chịu với tác động của BĐKH – vùng ven biển
Đông Nam Á [IUCN, 2014]. Các nghiên cứu của Ngân hàng phát

6


triển Châu á (ADB) [2009] và Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
(USAID) [2009] chỉ ra các hoạt động: Điều chỉnh lịch thời vụ, thay
đổi công nghệ canh tác, sử dụng giống thích hợp [Palanisami và
Krishna, 2014]. Bố trí cây trồng theo chế độ ngập nước để tận dụng
nước trời Dixon [2002]. Đa dạng hóa sinh kế [Gyampoh et al., 2010;
Ajani1 et al., 2013].
1.3. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Xét về góc độ chính sách của Đảng và Chính phủ: Đảng,
Chính phủ đã ban hành và đang triển khai nhiều văn bản như: Nghị
quyết Trung ương 24/NQ-TW ngày 3/6/2013 về chủ động ứng phó
với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
[BCHTW, 2013], Chiến lược quốc gia về BĐKH [Thủ tướng chỉnh
phủ, 2011]… Các nghiên cứu đều khẳng định đất lúa nước ở khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long là đối tượng dễ bị tổn thương do tác động
của BĐKH [Nguyễn Duy Khang, 2009; Nguyễn Võ Linh, 2012].
Một số nghiên cứu về thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đã nhấn
mạnh đến nâng cao năng lực cho hộ gia đình, chú trọng kiến thức
bản địa… [CARE, 2010] hay thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào
hệ sinh thái [Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013]. Phân vùng sinh
thái để có các giải pháp thích ứng cho phù hợp [Nguyễn Võ Linh,

142.820 người, mật độ dân số 533 người/km2. Cơ cấu kinh tế huyện
năm 2015, công nghiệp-xây dựng chiếm 16,9%, dịch vụ chiếm
8


15,8%, nông nghiệp giảm còn 57,3%; khu vực phi sản xuất nông
nghiệp chiếm 32,7% [UBND huyện Gò Công Đông, 2015].
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu
(i) Đối tượng đất lúa nước: Đất lúa 3 vụ, 2 vụ, 1 vụ và các đối
tượng cây trồng vật nuôi chuyển đổi trên nền đất lúa nước.
(ii) Các yếu tố BĐKH: NBD, xâm nhập mặn, khô hạn.
(iii) Các cộng đồng liên quan đến sử dụng đất lúa nước và thích
ứng với BĐKH: Cộng đồng các nhà ra quyết định, cộng đồng các
nhà khoa học, cộng đồng các nhà doanh nghiệp, cộng đồng những
người sản xuất lúa, cộng đồng các nhà công nghiệp.
2.1.3. Phạm vi nghiên cứu
(i) Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên toàn địa bàn huyện Gò
Công Đông gồm 13 xã. Các xã được lựa chọn điều tra, khảo sát đại
diện cho 3 tiểu vùng sinh thái là: xã Tân Thành (Tiểu vùng sinh tháiTVST ven biển), Phước Trung (TVST ven sông), Bình Nghị (TVST
nội đồng).
(ii) Phạm vi thời gian: Đánh giá hiện trạng với mốc thời gian
2000 – 2015 và mốc thời gian dự báo tác động của BĐKH đến năm
2020, 2030, 2100.
(iii) Phạm vi đánh giá tác động của BĐKH đến đất lúa nước:
Chỉ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến sử dụng đất lúa cũng
là tên đề tài, không nghiên cứu đến tính chất thổ nhưỡng của đất lúa.
2.1.4. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu chính thức từ tháng 12 năm 2013 đến
tháng 12 năm 2016 và gia hạn đến 31 tháng 12 năm 2017.
9

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tài nguyên đất lúa nước huyện Gò Công Đông và những bất
cập trong quản lý, sử dụng
3.1.1. Đặc điểm tài nguyên đất lúa nước huyện Gò Công Đông
Đất lúa nước là một loại ĐNN theo mùa. Năm 2015, diện tích
đất canh tác lúa toàn huyện là 10.797,3 ha chiếm 56,65% diện tích
đất nông nghiệp, chiếm 39,52% diện tích tự nhiên. Phân theo loại sử
dụng đất thì đất lúa 3 vụ có diện tích lớn nhất (chiếm 94,77%), sau
đó là đất lúa 2 vụ (4,34%), đất 2 lúa + 1 màu (0,81%), đất 2 màu + 1
lúa có diện tích thấp nhất (chiếm 0,09%). Trên địa bàn huyện có 16
kiểu sử dụng đất lúa, trong 2 kiểu sử dụng đất chuyên trồng lúa (2
vụ, 3 vụ) có hiệu quả tổng hợp thấp hơn so với 14 kiểu sử dụng đất
lúa còn lại (luân canh lúa với rau màu).
3.1.2. Tầm quan trọng của tài nguyên đất lúa nước đối với phát
triển kinh tế - xã hội huyện Gò Công Đông
Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế: Giá trị sản xuất (GTSX) từ
trồng lúa là 954,0 tỷ đồng, chiếm 18,57% GTSX của ngành nông
nghiệp [UBND huyện Gò Công Đông, 2015]; Đảm bảo an ninh
lương thực cho huyện và đóng góp một phần cho an ninh lương thực
quốc gia và xuất khẩu; Đảm bảo sinh kế cho người dân khu vực nông
thôn.
3.1.3. Những bất cập trong quản lý, sử dụng đất lúa nước tại
huyện Gò Công Đông
11


(1) Giá cả bấp bênh nên người nông dân trồng lúa vẫn còn
nghèo; (2) Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa đã đem lại
hiệu quả kinh tế cao hơn so với sản xuất lúa độc canh, tuy vậy diện
tích chuyển đổi vẫn còn thấp (chiếm 0,89%); (3) BĐKH dang diễn ra

3.2.2.1. Tác động của khô hạn và xâm nhập mặn
Theo Boyer [1982] và Bartel and SunKar [2005] thì nhiễm mặn
và khô hạn là yếu tố giới hạn lớn nhất cho sản xuất nông nghiệp trên
thế giới. Huyện Gò Công Đông là khu vực chịu ảnh hưởng rất lớn
của xâm nhập mặn, đặc biệt vào mùa khô, khi nước ngọt từ sông
Mêkông đổ về không đủ để thau chua, rửa mặn.
Giai đoạn 2002 – 2015, diện tích gieo trồng bị ảnh hưởng bởi
hạn mặn khoảng 2.381 ha với tổng thiệt hại khoảng 56 tỷ đồng.
Tác động của hạn mặn có sự khác biệt giữa 3 tiểu vùng sinh
thái, đối với tiểu vùng sinh thái ven sông và tiểu vùng sinh thái ven
biển là điểm cuối của nguồn nước ngọt, cùng với hạn hán kéo dài
dẫn đến xâm nhập mặn sớm hơn, nguồn nước ngọt hạn chế nên sản
xuất gặp khó khăn hơn rất nhiều so với các xã ở khu vực tiểu vùng
sinh thái nội đồng.
3.2.2.2. Tác động của triều cường và xu thế nước biển dâng

13


Đối với các xã thuộc tiểu vùng sinh thái ven biển Tân Thành,
Tân Điền thì hiện tượng triều cường, NBD cao thường xuất hiện
mang hơi biển từ biển vào, khu vực bị ảnh hưởng có năng suất thấp
khoảng 4 tấn/ha (Vụ Thu Đông).
3.3.3. Dự báo tác động của biến đổi khí hậu đến đất canh tác lúa
3.3.3.1. Tác động của nước biển dâng
Diện tích lúa bị ngập nước biển gia tăng theo các kịch bản
BĐKH. Khi nước NDB 12 cm (năm 2020): đất lúa toàn huyện bị
ngập là 1.963,90 ha; NBD17 cm (năm 2030), đất lúa bị ngập
2.496,06 ha; NBD 75 cm (năm 2100), đất lúa bị ngập 3.534,16 ha.
Toàn bộ diện tích bị ngập nước biển không thể trồng lúa.

an ninh lương thực; (3) Phát huy được những tri thức bản địa của
người nông dân trong việc sử dụng đất lúa nước và thích ứng với
BĐKH; (4) Phải lựa chọn được những mô hình sinh kế nông nghiệp
trên nền đất lúa nước để thích ứng, biến tác động tiêu cực của BĐKH
thành những lợi thế sản xuất nông nghiệp; (5) Những mô hình và giải
pháp đề ra phải được sự đồng thuận của các cộng đồng liên quan.
3.3. Cộng đồng người sản xuất lúa áp dụng tri thức bản địa để sử
dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với biến đổi khí hậu và
sự tham gia của các cộng đồng liên quan
15


3.3.1. Khái quát về các bên liên quan đến sử dụng đất lúa nước
thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Gò Công Đông
Vận dụng 4 chuẩn mực cho mô hình cộng đồng của Gene
Barrettt [2001]: (a) Địa điểm hay lãnh thổ; (b) Quyền lợi hay mối
quan tâm; (c) Luật tục, (d) bản sắc và kết quả điều tra khảo sát tại địa
điểm nghiên cứu thì tác giả đưa ra 5 cộng đồng liên quan đến sử
dụng đất lúa nước thích ứng với BĐKH là: (i) Cộng đồng những
người ra quyết định; (ii) Cộng đồng các nhà doanh doanh nghiệp;
(iii) Cộng đồng các nhà khoa học; (iv) Cộng đồng các nhà công
nghiệp; (v) Cộng đồng những người sản xuất lúa nước. Cụ thể các
bên liên quan như sau:

16


Hình 3.23. Sơ đồ Venn thể hiện vai trò các bên liên quan về thích
ứng với BĐKH trong quản lý, sử dụng đất lúa nước
3.3.2. Cộng đồng người sản xuất áp dụng tri thức bản địa để sử

trọt và chăn nuôi trên nền đất lúa nước; (3) Mô hình liên kết giữa
trồng trọt và nuôi trồng thủy sản trên nền đất lúa nước; (3) Mô hình
liên kết giữa trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; (4) Mô
hình nuôi trồng thủy sản mặn lợ dự kiến khi đất lúa bị ngập nước
biển; (5) Mô hình trồng cây ăn trái Sơri trên nền đất lúa nước.
3.3.2.4. Những bất cập từ sự tham gia của các cộng đồng liên quan
là một trở ngại lớn cho việc nhân rộng các mô hình sử dụng đất lúa
thích ứng với biến đổi khí hậu

18


a) Bất cập từ cộng đồng các nhà ra quyết định
Chưa có văn bản hướng dẫn chuyển đổi đất lúa sang trồng
cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản chuyên canh. Quá trình xây dựng
chính sách mang tính chất tiếp cận dọc, chưa có sự tham vấn, phản
hổi từ dưới lên.
b) Bất cập từ cộng đồng các nhà doanh nghiệp
Số lượng các doanh nghiệp tham gia vào đầu tư sản xuất,
bao tiêu sản phẩm nông nghiệp vẫn còn rất hạn chếTừ đó, dẫn đến
tình trạng nhiều mô hình trồng cây trồng cạn trên nền đấ lúa đã thích
ứng được với hạn mặn, nhưng do không có thị trường tiêu thụ nên
người dân lại quy trở lại trồng lúa, mặc dù hiệu quả không cao.
c) Bất cập từ cộng đồng các nhà khoa học
Tại huyện Gò Công Đông, chưa có sự liên kết giữa các nhà
quản lý với các nhà khoa học như các Viện, Trường. Do đó, những
tri thức bản địa trong dự báo tác động và tri thức ứng phó với BĐKH
trong sử dụng đất lúa nước chưa được tổng kết đẩy đủ và phổ biến
rộng rãi.
d) Bất cập từ cộng đồng các nhà công nghiệp


20


“Mô hình nuôi trồng thủy sản mặn lợ để thích ứng với biển dâng”.
Mô hình 2: “Phát triển trang trại tổng hợp có sự tham gia của các
bên liên quan”, áp dụng cho “Mô hình canh tác liên kết giữa trồng
trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản trên nền đất lúa nước để thích
ứng với hạn mặn”. Mô hình 3: Mô hình hợp tác xã (HTX), Tổ hợp
tác (THT) với sự tham gia của các bên liên quan, áp dụng cho: “Luân
canh cây rau màu trên đất lúa nước và mô hình chuyển đổi đất lúa
sang trồng cây Sơri để thích ứng với điều kiện hạn mặn”.
3.3.4. Tăng cường quyền lực cho cộng đồng
Tăng cường quyền được tham gia ý kiến cho cộng đồng
những người sản xuất, các nhà khoa học, các nhà doanh nghiệp trong
quá trình xây dựng chiến lược, kế hoạch tại địa phương và chính
sách vĩ mô; Quyền giám sát thực hiện các cơ chế, chính sách của nhà
nước.
3.3.5. Tạo ra sự công bằng và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên
quan khi thực hiện các mô hình
Việc chia sẻ lợi ích được tác giả đề xuất thực hiện thông qua
cơ chế chia sẻ lợi ích đối với từng bên liên quan tham gia vào dự án,
sự đồng thuận về cơ chế được thực hiện bằng bản cam kết, bản ghi
nhớ hợp tác hay bản hợp đồng giữa các bên liên quan (5 cộng đồng
liên quan).
3.3.6. Đảm bảo tính hợp lý về sinh thái và phát triển bền vững
trong quá trình phát triển các mô hình

21


(3) Diện tích đất lúa bị ảnh hưởng bời BĐKH gia tăng theo
các kịch bản. So sánh diện tích đất lúa bị ảnh hưởng với hiện trạng
năm 2015 thì: Diện tích đất lúa bị ảnh hưởng đến năm 2020 bằng
50,35% so với diện tích hiện trạng, đến năm 2030 là 52,51%, đến
năm 2100 là 65,09%. Khu vực đất lúa bị ngập nước biển không thể
canh tác, xâm nhập mặn và khô hạn, ngập nước ngọt gây ra mất thời
vụ gieo trồng. Đối tượng đất lúa 3 vụ và 2 vụ bị ảnh hưởng nhiều
nhất.
(4) Thực tiễn đã chứng minh các mô hình sử dụng khôn khéo
đất lúa thích ứng với BĐKH đều có hiệu quả kinh tế cao hơn so với
chuyên trồng lúa: Các mô thích ứng với hạn mặn: Mô hình luân canh
lúa màu hiệu quả gấp 1,9 đến 8,3 lần so với chuyên trồng lúa; Mô
hình liên kết giữa trồng trọt và chăn nuôi gấp 5,8 lần; Mô hình liên
kết giữa trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản gấp 4,14 lần;
Mô hình trồng cây Sơri trên nền đất lúa nước gấp 2,29 lần. Mô hình
nuôi tôm thích ứng với nước biển dâng gấp 12,8 đến 14,2 lần. Tuy
nhiên, các mô hình sử dụng khôn khéo này chưa được nhân rộng là
do chưa có sự tham gia đẩy đủ, chưa có sự đồng thuận, chia sẻ lợi ích
giữa 5 cộng đồng liên quan.
(5) Để đảm bảo việc phát huy các mô hình sử dụng khôn
khéo đất lúa nước thích ứng với BĐKH và khắc phục những bất cập

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status