QUẢN LÝ BẢO TỒN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU
Ở TIÊN YÊN VÀ ĐẦM HÀ – QUẢNG NINH
Hoàng Văn Thắng
Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Abstract
Scientific surveys have demonstrated the richness in biodiversity of Tien Yen and Dam Ha
districts, with a variety of ecosystems and species. The mangrove ecosystem of northeastern
Quang Ninh province in general, and of Tien Yen and Dam Ha districts specifically, plays a
very important role and generates great services to the socio-economy and the environment of
the area. It performs a great role in coastal protection, protection from typhoons and storms
and erosion prevention, especially in the context of climate change. It is home to many
valuable aquatic species which local people heavily depend on. Nevertheless, the mangrove
ecosystems there have been under great pressure from population growth and development
activities as well as ineffective management measures. Community-based conservation
management (CBCM) is a natural resource management process which involves those people
who are dependent on the natural resources, with scientific and technical assistance from
scientists, and mechanisms and financial support from the local authorities. The CBCM
model has demonstrated its positive results in natural resource management and conservation
in the coastal and estuarine area in the context of sustainable development and climate
change.
MỞ ĐẦU
Theo các nghiên cứu mới đây của Liên Hợp Quốc, Việt Nam là một trong những quốc gia
đang phát triển bị ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu với những điều
kiện khí hậu khắc nghiệt hơn như hạn hán, lụt lội, cháy rừng..., sẽ làm tăng khả năng suy giảm
hoặc biến mất của các hệ sinh thái và các loài (Trương Quang Học và Nguyễn Đức Ngữ,
2009).
Con người, kể cả các cộng đồng sinh sống tại các khu vực cửa sông, ven biển và đặc biệt là ở
các nước đang phát triển, sống phụ thuộc rất lớn vào nguồn tài nguyên thiên nhiên (đa dạng
người phụ thuộc vào nguồn tài nguyên đề xướng. Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng
đồng là chiến lược toàn diện, nhằm xác định những vấn đề mang tính chất nhiều mặt, ảnh
hưởng đến môi trường ven biển, thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của cộng đồng
ven biển. Quản lý bảo tồn tài nguyên dựa vào cộng đồng cũng là một quá trình, mà qua đó
những cộng đồng ven biển được tăng quyền lực về chính trị và kinh tế để họ có thể đòi hỏi và
giành được quyền kiểm, soát quản lý và tiếp cận một cách hợp pháp đối với nguồn tài nguyên
ven biển của họ. Sự vận động nhằm khởi xướng một vấn đề như thế tốt hơn hết phải được bắt
đầu từ bản thân cộng đồng. Tuy nhiên, do yếu về quyền lực nên hầu hết các cộng đồng đều
thiếu khả năng tự khởi xướng quá trình thay đổi.
Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng cần phải đảm bảo các thành tố: (i) cải thiện quyền hưởng
dụng các nguồn tài nguyên; (ii) xây dựng nguồn nhân lực; (iii) bảo vệ môi trường; và (iv) phát
triển sinh kế bền vững.
1.2. Cơ sở khoa học và thực tiễn đối với xây dựng và áp dụng thử nghiệm mô
hình
Rừng ngập mặn nói riêng và thiên nhiên của nước ta nói chung đã bị suy giảm đến mức độ
báo động do nhiều lý do khác nhau, trong đó khâu quản lý bảo tồn có tầm quan trọng đặc biệt.
Tuy nhiên, việc quản lý đến nay hầu như vẫn chưa có được những tiến bộ mang tính đột phá
là do chưa có sự tham gia “tích cực” của nhân dân nói chung và các cộng đồng địa phương
nói riêng. Hay nói một cách khác, cần có một sự thay đổi trong toàn bộ xã hội về quản lý bảo
vệ đa dạng sinh học và thiên nhiên. Heathcote (1998) cho rằng, quản lý thiên nhiên nói chung
là một tiến trình nhằm thiết lập một chương trình về thay đổi xã hội. Tác giả cho rằng: “Thay
đổi xã hội không thể có nếu những cộng đồng bị tác động không cho thay đổi là cần thiết”. Do
106
đó, công việc quy hoạch bảo tồn không chỉ phải quan tâm đến sản phẩm cuối cùng, mà còn
phải quan tâm cả quá trình quy hoạch, để có được một quy hoạch đáp ứng nguyện vọng và
nhu cầu của nhân dân, đặc biệt là những cộng đồng bị tác động. Bởi vậy, việc tham gia vào
quá trình quy hoạch bảo tồn rừng ngập mặn của các cộng đồng có liên quan (stakeholders) là
Trên Trái đất, đại dương chiếm đến 70% bề mặt Trái đất. Trong khi đó, các vùng ven biển và
cửa sông có các hệ sinh thái đa dạng và có năng suất cao nhất, bao gồm các rạn san hô, rừng
ngập mặn, các thảm cỏ biển... Các hệ sinh thái biển và ven biển rất dễ bị tổn thương do tác
động của biến đổi khí hậu, kể cả những tác động của con người, bao gồm khai thác quá mức,
hủy hoại môi trường, ô nhiễm... Tác động của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng lên các
hệ sinh thái này thể hiện chủ yếu ở các mặt: gia tăng xói mòn ven biển, mở rộng vùng lũ lụt
ven biển, xâm nhập của nước biển vào đất liền tại các cửa sông, vùng đầm phá và các hệ sinh
107
thái đất ngập nước khác, làm tan băng ở các vùng cực, ảnh hưởng đến thành phần và sự phân
bố của các loài (Lưu Đức Hải, 2009).
Tác động lên sản xuất lương thực, thực phẩm: Biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng tới tốc độ
tăng trưởng của cây trồng cũng như vật nuôi và góp phần làm lây lan dịch bệnh. Các tác động
này cũng sẽ dẫn đến thay đổi về chế độ chiếu sáng (nắng nóng) và lượng mưa (nước), gây suy
thoái đất, xói mòn đất màu, cháy... Bên cạnh đó, bản thân nền nông nghiệp cũng góp phần
làm thay đổi khí hậu, chẳng hạn như thay đổi mục đích sử dụng đất, cách thức canh tác (ngâm
nước trong các vùng trồng lúa, mía, đốt đồng sau thu hoạch, sử dụng phân bón và thuốc trừ
sâu... chính là nguồn khí thải nhà kính – ước tính nông nghiệp thải khoảng 20% lượng khí nhà
kính trên toàn cầu. Diện tích đất trồng lúa bị suy giảm (nhất là các vùng ven biển do bị ngập
mặn hoặc bị nhiễm mặn). Sản lượng lương thực cũng như thủy sản có nguy cơ bị suy giảm do
các hoạt động khai thác, sử dụng cũng như các tác động vật lý khác của tự nhiên.
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng sẽ gây nên những tác động không nhỏ lên vùng đới bờ –
nhất là các đảo và quốc đảo, tác động lên sức khỏe và cư dân vùng cửa sông, ven biển, nguồn
nước..., an ninh môi trường, an ninh quốc gia... (Trương Quang Học và Nguyễn Đức Ngữ,
2009). Bên cạnh đó, các hiện tượng thời tiết bất thường hoặc cực đoan sẽ xảy ra thường xuyên
hơn như bão, lũ, hạn hán, sóng thần...
2. ÁP DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ BẢO TỒN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Theo Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1993), rừng ngập mặn xã Đông Hải, huyện Tiên Yên và
biển là vùng bồi tụ có độ cao từ 1,5-3 m. Vùng ven biển này được cải tạo thành đất canh
tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Đồi núi chiếm 70% diện tích tự nhiên của xã, sắp
xếp theo cánh cung Đông Triều – Móng Cái với độ dốc từ 15-25º. Địa hình đồi có mật độ
chia cắt trung bình từ 1-2,3 km.
+ Đại Bình cũng có địa hình đặc trưng của vùng núi và ven biển, với độ cao từ 1,5-78,5 m
và bị hệ thống sông, suối chia cắt mạnh. Vùng đất canh tác nông nghiệp (lúa) của Đại
Bình thuộc tiểu vùng phù sa cổ với độ cao từ 3,5-14 m so với mực nước biển. Địa hình
dốc thoải, lượn sóng, quá trình feralit mạnh, tạo thành kết von đá ong, đất lẫn nhiều sắt,
các vết vàng, đỏ loang lổ. Vùng đất bồi tụ ven biển có địa hình thoải dần ra biển với độ
cao từ 1,5-3 m. Khu vực này đã được người dân khai thác một phần cho nuôi trồng thủy
hải sản, phần lớn còn lại là các bãi sú vẹt, cồn cát ven biển bị ngập nước thủy triều.
2.1.3. Khí hậu
a) Nhiệt độ không khí:
Nhiệt độ trung bình năm của khu vực là 22,4oC, dao động từ 18-28oC. Nhiệt độ trung bình cao
nhất là 28oC vào tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 14,3oC vào tháng 1 và 2
hàng năm. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 36,9oC và thấp nhất tuyệt đối là 1,5oC, tổng tích ôn khí
khoảng 6.800-7.000oC.
b) Lượng mưa:
Hai xã nghiên cứu chịu ảnh hưởng của khí hậu Đông Bắc, nên lượng mưa trung bình là tương
đối lớn, vào khoảng 1.868 mm. Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2.200 mm và thấp nhất là
1.400 mm. Lượng mưa phân theo hai mùa rõ rệt, mùa mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9 hàng
năm, chiếm từ 75-80% tổng lượng mưa trong năm, mưa thấp nhất từ tháng 10 đến tháng 4
năm sau với tổng lượng mưa chiếm khoảng 20-25% lượng mưa hàng năm.
c) Lượng bốc hơi và độ ẩm không khí:
Đông Hải và Đại Bình là vùng có lượng bốc hơi lớn, lượng bốc hơi trung bình nhiều năm là
700-800 mm. Trong đó, lượng bốc hơi tháng cao nhất là 82 mm (tháng 4) và tháng thấp nhất
là 61 mm (tháng 1). Độ ẩm không khí trung bình 79-87%, tháng thấp nhất là 70-75% (tháng
10 và tháng 11) và tháng cao nhất là 92% (tháng 3 và tháng 4). Nhìn về tổng thể, đây là khu
vực có độ ẩm không khí trong năm tương đối cao, tuy nhiên ở các tháng 1 và tháng 12 hàng
năm, thường xảy ra hạn hán và sương muối, làm ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi.
Bắc – Đông Nam. Các sông đều bắt nguồn từ các dãy núi cao ở phía Bắc và Tây Bắc, chảy ra
biển. Các sông đều ngắn và dốc, lưu lượng sông khá lớn (trên 900 m/s), đặc biệt là về mùa
mưa. Vào mùa mưa, thường xảy ra lũ lụt đột ngột, trong khi đó, mùa khô lại thường khô cạn.
Bên cạnh sông Đồng Lốc, Đại Bình còn có hệ thống sông chung với Đông Hải của Tiên Yên,
đó là sông Cái Ruộng (hay còn gọi là sông Chùa Sâu) ở phía Nam và sông Tài Giàu ở phía
Đông.
2.1.5. Hải văn
Khu vực phía Nam và Đông Nam của xã Đông Hải cũng như của xã Đại Bình chịu ảnh hưởng
của chế độ nhật triều thuần nhất (một lần nước lên và một lần nước xuống trong ngày). Về
mùa hè, nước thường lên vào buổi chiều, còn mùa đông, nước thường lên vào buổi sáng. Biên
độ triều dao động từ 3-4 m (Móng Cái là 4,25 m). Thủy triều mạnh trong năm vào các tháng
1, 2, 6, 7, 8 và 10. Trong một tháng mặt trăng, có hai kỳ nước cường xen lẫn hai kỳ nước kém
(biên độ dao động triều 0,5-1 m). Trong tháng 6-8, dòng triều chủ yếu song song với đường
bờ, tốc độ cực đại có thể lên đến 100 cm/s.
110
2.2. Tài nguyên thiên nhiên
2.2.1. Tài nguyên đất
a) Xã Đông Hải:
Trên cơ sở kiến tạo địa chất, địa hình, có thể chia xã Đông Hải thành hai vùng chính là vùng
đồi núi và vùng đất bằng ven biển.
+ Vùng đồi núi: có thể chia thành 4 loại:
Đất lúa nước vùng đồi núi;
Đất feralit điển hình nhiệt đới ẩm (từ 25-175 m) được chia thành 2 loại;
Đất feralit trên núi (từ 175-400 m) gồm hai loại;
Đất feralit màu vàng nhạt trên núi cao (từ 400 m trở lên).
đất vài mét, trung bình 3-4 m. Tuy nhiên, một số khu vực ven biển có hiện tượng nhiễm
mặn về mùa khô.
+ Tài nguyên nước mặn: Khu vực có diện tích mặt biển khá rộng với chất lượng nước biển
được đánh giá là tương đối tốt, ít chịu ảnh hưởng của các nguồn ô nhiễm có nguồn gốc tự
nhiên và nhân tạo. Mặt khác, do được các đảo ở phía Nam bao bọc như đảo Vạn Vược, núi
Cuống, Vân Đồn nên đã tạo ra một vùng vịnh ven bờ ít sóng, biên độ triều lớn, rất phù
hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài sinh vật biển, kể cả hải sản.
2.2.3. Tài nguyên sinh học
a) Xã Đông Hải có 2.856,4 ha rừng (chiếm 59,20% diện tích đất tự nhiên), trong đó có 500 ha
rừng phòng hộ (chủ yếu là rừng ngập mặn). Ngoài ra, xã còn có khoảng 4.122 ha rừng sản
xuất như thông (mã vĩ), keo tai tượng (hoặc lai), bạch đàn..., hàng năm cung cấp sản lượng gỗ
khai thác các loại đạt 115 m3. Bên cạnh đó, Đông Hải còn nhiều các loại lâm sản ngoài gỗ
như tre, nứa, song, mây... và các loại cây dược liệu.
b) Xã Đại Bình có 1.105,68 ha đất rừng (tính năm 2005), chiếm 36,59% tổng diện tích tự
nhiên, trong đó có 77,8 ha rừng sản xuất và rừng trồng, 1.027,88 ha rừng phòng hộ – chủ yếu
là rừng phòng hộ ven biển (rừng ngập mặn).
Biển của Tiên Yên và Đầm Hà nói chung, Đông Hải và Đại Bình nói riêng là nơi sinh sống
của nhiều loài thủy, hải sản có giá trị bảo tồn và giá trị kinh tế cao. Hệ sinh vật biển ở khu vực
này đa dạng, là một tiềm năng lớn để phát triển kinh tế biển. Bên cạnh các loài thủy sản có giá
trị kinh tế, khu vực này còn có nhiều loài chim di cư cũng như chim định cư sinh sống, là đối
tượng nghiên cứu khoa học cũng như du lịch sinh thái lý tưởng.
Hoàng Văn Thắng và cs. (2008) đã điều tra, xác định được tại khu vực có: 69 loài thực vật
nổi, 58 loài động vật nổi, 33 loài rong biển, 4 loài cỏ biển, 159 loài thực vật bậc cao (trong đó
có 25 loài ngập mặn chính thức), 240 loài động vật đáy, 112 loài côn trùng, 96 loài cá, 43 loài
lưỡng cư và bò sát, 77 loài chim và 13 loài thú. Trong đó, có 5 loài đặc hữu, 30 loài hiếm và 5
loài bị nguy cấp. Đây là những số liệu tương đối đầy đủ đầu tiên về các loài sinh vật đã được
xác định tại vùng cửa sông ven biển Đông Hải – Tiên Yên và Đại Bình – Đầm Hà, Quảng
Ninh.
2.2.4. Cảnh quan và môi trường ven biển
Xã Đông Hải có 385,44 ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó, 312,00 ha là đất trồng lúa,
38,54 ha là đất trồng cây hàng năm như ngô, khoai lang, đậu tương, lạc, khoai tây và rau củ
các loại, còn 34,90 ha là đất trồng cây lâu năm.
Tại khu vực nghiên cứu, người dân canh tác 2 vụ lúa: vụ chiêm và vụ mùa. Vụ chiêm bắt đầu
từ tháng 2 đến tháng 5, trong khi vụ mùa bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 10 (âm lịch). Tuy
nhiên, nhiều diện tích đất chỉ trồng được 1 vụ lúa do không đủ nước tưới, vụ còn lại người
dân phải trồng màu. Cây lương thực chính trong vùng là lúa. Cây màu ở đây chủ yếu là ngô,
khoai lang, khoai sọ, lạc, đỗ tương, đậu các loại, rau các loại và một số cây công nghiệp như
thanh hao hoa vàng.
Năng suất lúa trong vùng không cao, ở những chân ruộng tốt, năng suất là 100 kg/sào/vụ,
những ruộng khác có năng suất thấp hơn, trung bình khoảng 70-80 kg/sào/vụ. Năng suất ngô
đạt 39,5 tạ/ha, khoai lang có năng suất 57 tạ/ha, đậu tương 9 tạ/ha, lạc 9 tạ/ha.
2.4.2. Tình hình nuôi và khai thác thủy sản
a) Tình hình nuôi thủy hải sản:
Bờ biển dài, diện tích bãi triều lớn của hai xã Đại Bình và Đông Hải có nguồn lợi thủy sản tự
nhiên đa dạng và phong phú, nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Chất đáy tại các vùng bãi triều
ven biển trong khu vực rất phù hợp cho việc phát triển nuôi các loài nhuyễn thể có giá trị như
ngao, sò, khu vực nghiên cứu có tiềm năng rất lớn về nuôi trồng thủy sản nước lợ.
Trước năm 1993, từ bờ ngăn đất làm nông nghiệp của các xã ra phía biển đều là các bãi triều.
Hưởng ứng chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện để nhân dân đầu tư đánh bắt và
nuôi trồng thủy hải sản của Đại hội Đảng bộ huyện Tiên Yên và Đầm Hà, phong trào nuôi
trồng thủy sản đã được bắt đầu tại khu vực từ năm 1994. Trước năm 2003, chủ yếu dân trong
vùng tự ngăn đầm, đắp đập nuôi trồng thủy sản mà không có sự chỉ đạo của chính quyền các
cấp. Từ năm 2003, chính quyền các địa phương đã xây dựng quy hoạch nuôi trồng thủy sản
mặn lợ với mục đích khai thác lợi thế của địa phương mình. Chính quyền địa phương đã
113
khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển nuôi thủy sản. Hình
thức nuôi chủ yếu là nuôi quảng canh cải tiến và bán thâm canh. Đối tượng nuôi bán thâm
18,4 ha
21,2 ha
-
-
20 ô lồng
28 ô lồng
-
-
-
227 ha
-
-
6 ha
4,43 ha
-
-
20 tấn
-
- Sản lượng cá nước ngọt
12 tấn
-
37 tấn
-
140,6 tấn
115 tấn
331 tấn
218,2 tấn
A. Diện tích nuôi trồng thủy hải sản
- Diện tích nuôi tôm
- Nuôi lồng bè
- Nuôi nhuyễn thể
- Diện tích nuôi cá nước ngọt
nhiên, sản lượng khai thác hải sản tự nhiên trong khu vực cao hơn nhiều so với sản lượng
nuôi. Năm 2008, xã Đại Bình có 27 hộ đánh bắt với 29 chiếc tàu công suất 6-20 CV và xã
Đông Hải có 19 hộ. Trong thời gian gần đây, một số hộ dân có trang bị thêm các ngư cụ khai
thác cá ngừ, cá song, sam biển, sứa…, nên sản lượng khai thác cũng như giá trị tổng sản
lượng cao hơn, góp phần tăng thu nhập cho các hộ dân.
Ngoài khai thác hải sản gần bờ, việc khai thác hải sản tại các bãi triều được phát triển mạnh
mẽ. Đây là nơi tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho các hộ trung bình và nghèo không chỉ của
hai xã Đại Bình và Đông Hải, mà còn của các xã lân cận. Có thể thấy điều này qua kết quả
điều tra tại 44 hộ thôn Làng Ruộng (Đại Bình) và 60 hộ thôn Cái Khánh (Đông Hải). Trong số
104 hộ điều tra, chỉ có 28 hộ không đi khai thác hải sản ngoài bãi triều (20 hộ của Ràng
Ruộng và 8 hộ của Cái Khánh).
Đối tượng khai thác rất đa dạng: các loại cá, tôm, vạng, ngán, sâu đất (còn gọi là bông thùa),
sá sùng, bạch tuộc, hà, ốc các loại, v.v... Trong số các sản phẩm trên, tôm, cá là những loài có
giá trị kinh tế cao. Ngoài ra, một số động vật thân mềm khác cũng có giá trị cao như ngán
(50.000 đ/kg), sá sùng (40.000 đ/kg), ốc đĩa (90.000 đ/kg). Thông thường thì người dân chỉ
khai thác một số loài nhất định. Trung bình mỗi ngày một người bắt được 1,5-2 kg sâu, 10-15
kg vạng hay 1 kg ngán. Thu nhập trung bình cũng được 50.000 đ/ngày, có khi được hơn
100.000 đ/ngày hoặc nhiều hơn và hầu như họ không mất tiền đầu tư.
Các hoạt động khai thác mang tính chất hủy diệt nguồn lợi như dùng mìn đánh bắt cá gần đây
đã giảm, nhưng vẫn còn xuất hiện ở một số nơi trong địa bàn xã và huyện, phần lớn là do
những người từ nơi khác đến thực hiện. Những hoạt động này trong tương lai cần được ngăn
cấm hoàn toàn để bảo toàn nguồn lợi và đảm bảo an toàn tính mạng cho chính người dân.
Tóm lại, Nguồn thu nhập chính của người dân trong khu vực cửa sông ven biển xã Đại Bình,
huyện Đầm Hà và xã Đông Hải, huyện Tiên Yên là từ các nguồn lợi khai thác và nuôi trồng
thủy sản như tôm, cua và cá. Nguồn thu đứng thứ 2 là dựa vào canh tác đất nông nghiệp, lúa
115
nước 1 vụ và 2 vụ. Tuy nhiên, diện tích trồng lúa nước 1 vụ và 2 vụ ở các thôn trong xã rất
nhỏ, sản lượng lương thực thu được trực tiếp từ trồng lúa còn thấp, chưa đảm bảo được an
tính thiệt hại trên 6 tỷ đồng. Đây là chưa kể huyện bên cạnh là Bình Liêu ước tính thiệt hại
trên 50 tỷ đồng cùng với nhiều người bị thiệt mạng.
2.6. Kết quả xây dựng và áp dụng thử nghiệm mô hình
1. Cộng đồng tham gia và đồng thuận trong việc thực hiện.
2. Kiến thức và nhận thức của cộng đồng về vai trò và giá trị của rừng ngập mặn, nhất là
trong bối cảnh biến đổi khí hậu được nâng cao.
116
3. Quy chế phối hợp giữa hai xã cũng như quy chế quản lý và sử dụng tài nguyên thiên
nhiên của hai thôn được cộng đồng nhất trí thông qua và được chính quyền và đại diện các
đoàn thể, nhân dân cam kết, ban hành và triển khai.
4. Ban quản lý được thành lập để giám sát các hoạt động khai thác và bảo tồn hệ sinh thái
rừng ngập mặn.
5. Các công việc được triển khai: Cộng đồng được sự hỗ trợ về thể chế, chính sách, tài
chính và kỹ thuật, kể cả sự hỗ trợ về tài chính cho các mô hình sinh kế bền vững.
6. Rừng ngập mặn và các tài nguyên của rừng ngập mặn sẽ được quản lý và sử dụng hợp
lý hơn, đặc biệt là trong vấn đề chắn sóng, gió bão và xói mòn bờ biển.
7. Đây là mô hình quản lý, bảo tồn dựa vào cộng đồng được triển khai tại hai xã có hệ sinh
thái rừng ngập mặn tự nhiên điển hình tại miền Đông Quảng Ninh. Đây cũng có thể được coi
là một mô hình có sự kết hợp của các nhà: Nhà Quản lý, Nhà Khoa học và Nhà Nông, một mô
hình thích ứng với biến đổi khí hậu tại các vùng cửa sông, ven biển.
2.6.1. Hiệu quả về kinh tế-xã hội tại khu vực xây dựng mô hình
+ Việc cộng đồng tham gia quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng ngập mặn sẽ hạn
chế được những bất cập mà chính quyền và các cơ quan chức năng đang gặp phải trong
quá trình quản lý và bảo vệ tài nguyên hệ sinh thái rừng ngập mặn.
+ Hạn chế được việc khai thác tài nguyên rừng ngập mặn và đất rừng một cách bừa bãi,
không hợp lý, gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường rất khó khắc phục cũng như sẽ rất
và chỉnh sửa những nội dung và cách thức mới để phù hợp với tình hình thực tiễn của họ.
+ Sau khi tham gia thực hiện mô hình, chính quyền cũng như nhân dân địa phương đã nắm
được các bước, nguyên tắc cũng như trình tự xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình. Trên
cơ sở đó, họ có thể tự củng cố hoặc tổ chức xây dựng và nhân rộng mô hình qua các thôn
khác.
KẾT LUẬN
Khu RNM Đông Hải – Tiên Yên và Đại Bình – Đầm Hà còn giữ được tính chất tự nhiên còn
sót lại của RNM ở miền Bắc Việt Nam. RNM ở đây có giá trị to lớn trong việc chắn sóng,
bão, bảo vệ bờ biển, bảo vệ nguồn hải sản vùng Đông Bắc của đất nước và cuộc sống của
người dân ven biển.
Chính quyền và nhân dân các dân tộc ở Đông Hải và Đại Bình đã có nhiều nỗ lực trong việc
quản lý và sử dụng có hiệu quả rừng ngập mặn tại đây. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân và
những khó khăn khác nhau, kể cả về kiến thức, kỹ thuật và cơ sở vật chất, ở Đông Hải và Đại
Bình trước đây, hoạt động bảo vệ rừng chưa được quan tâm đầy đủ so với hoạt động nuôi
trồng thủy sản, nên RNM bị phá hại nhiều.
Mô hình quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng phục vụ phát triển bền vững đã
được xây dựng có kết quả và áp dụng thử nghiệm thành công đối với hệ sinh thái rừng ngập
mặn tại thôn Cái Khánh – xã Đông Hải – Tiên Yên và Làng Ruộng – xã Đại Bình – Đầm Hà,
Quảng Ninh. Mô hình là kết quả kế thừa kinh nghiệm trong nước và quốc tế, là mô hình có sự
kết hợp thành công giữa các nhà quản lý, nhà khoa học và cộng đồng. Mô hình có tính khả thi
và có thể nhân rộng và áp dụng cho các địa phương có điều kiện tương tự.
Việc xây dựng và triển khai thử nghiệm mô hình khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên
rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng đã nhận được sự tham gia và hưởng ứng tích cực của
chính quyền cũng như nhân dân các dân tộc tại xã Đông Hải – Tiên Yên và Đại Bình – Đầm
Hà. Mô hình đã được địa phương coi như là một giải pháp có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
trong việc quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên rừng ngập mặn tại địa phương,
đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay.
Biến đối khí hậu đã có những tác động tiêu cực đến kinh tế-xã hội cũng như tài nguyên thiên
nhiên của khu vực, thể hiện ở việc giảm diện tích canh tác do bị nhiễm mặn, vỡ đê bao, năng
suất cây trồng giảm, sản lượng thủy sản ngày càng thấp...
Đầm Hà, Quảng Ninh.
10. UBND xã Đông Hải, 2007. Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội
năm 2007 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch năm 2008. Huyện Tiên Yên, Quảng
Ninh.
11. UBND xã Đông Hải, 2008. Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội
6 tháng đầu năm và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 6 tháng cuối năm 2008. Huyện
Tiên Yên, Quảng Ninh.
12. UNDP, 2007. Báo cáo phát triển con người 2007/2008. Hà Nội.
119