Tiểu luận Kinh tế vi mô 2 - Pdf 41

LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là một nước đông dân trên thế nghiệp lâu đời, hiện Sóc Trăng có giới.
Dân cư, lao động tập trung chủ yếu ở nông thôn trong khi đó nền kinh tế đất nước cũng
chậm phát triển nhất là khu vực nông thôn nên vấn đề lao động, việc làm đang là vấn
đề gay gắt, bức xúc trong nền kinh tế đất nước.
Sóc Trăng là tỉnh có truyền thống nông 322.330 ha đất tự nhiên. Trong đó, diện
tích đất nông nghiệp là 263.831 ha, chiếm 81,85%. Hiện nay toàn tỉnh Sóc Trăng lực
lượng trong độ tuổi lao động là trên 730.000 người (chiếm tỷ lệ 59% tổng số), đây là
một nguồn lực lao động dồi dào, đầy tiềm năng cho sự phát triển kinh tế xã hội, góp
phần thực hiện thành công quá trình CNH - HĐH (công nghiệp hoá hiện đại hoá) đất
nước. Nhưng đây cũng là thách thức lớn cho vấn đề sử dụng lao động ở nông thôn, khi
mà tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm đang còn rất lớn và có nguy cơ ngày càng gia
tăng làm kìm hảm sự phát triển của đất nước. Chính vì vậy mà em chọn tiểu luận
"Nguồn lao động và vấn đề sử dụng lao động ở nông thôn tỉnh Sóc Trăng" nhằm
tìm hiểu ảnh hưởng của các nhân tố tới nguồn lao động và sử dụng lao động; thực trạng
nguồn lao động và sử dụng lao động ở nông thôn tỉnh Sóc Trăng. Từ đó đề xuất một số
giải pháp cho đào tạo và sử dụng hợp lý nguồn lao động của tỉnh.
Để đạt mục tiêu nêu trên, phương pháp nghiên cứu được áp dụng là: phương pháp
thu thập số liệu, thông tin từ tạp chí, internet và phân tích.
Tuy nhiên, với sự hạn chế về hiểu biết và kiến thức nên tiểu luận của em không
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự giúp đỡ và góp ý của Thầy để
em có thể hoàn thành tốt tiểu luận của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!

CHƯƠNG 1

- Trang 1 -


CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG YẾU TỐ ĐẦU VÀO
CỦA SẢN XUẤT


1.4. Năng suất biên và năng suất trung bình
1.4.1. Năng suất biên (MP)
Năng suất biên của một yếu tố sản xuất nào đó (vốn hay lao động) là lượng sản phẩm
tăng thêm một đơn vị yếu tố sản xuất đó, nếu các yếu tố khác là không đổi. Như vậy, năng
suất biên của vốn và lao động lần lượt là đạo hàm riêng của sản lượng (q) theo số lượng vốn
(K) và số lượng lao động (L):
MPK =

∆q ∂q
∆q
∂q
=
= f K và MPL =
=
= fL
∆K ∂K
∆L ∂L

Trong đó: MPK và MPL lần lượt là năng suất biên của vốn và lao động.
Như vậy, năng suất biên của một yếu tố sản xuất nào đó chính là đạo hàm riêng của hàm
số tổng sản lượng (hay hàm sản xuất) theo số lượng yếu tố sản xuất đó. Về mặt hình học, năng
suất biên là độ dốc của đồ thị hàm sản xuất (hay đường tổng sản lượng) tại từng điểm của đồ
thị.
1.4.2. Quy luật năng suất biên giảm dần
Quy luật năng suất biên giảm dần: Nếu số lượng của một yếu tố sản xuất tăng dần trong
khi số lượng các yếu tố sản xuất khác giữ nguyên thì sản lượng sẽ tăng nhanh dần (nghĩa là
năng suất biên của yếu tố sản xuất đó ngày càng lớn). Tuy nhiên, vượt qua một mốc nào đó thì
sản lượng sẽ gia tăng chậm hơn (nghĩa là năng suất biên của yếu tố sản xuất đó ngày càng nhỏ
nhưng vẫn còn dương). Nếu tiếp tục gia tăng số lượng yếu tố sản xuất đó thì tổng sản lượng

lượng chia cho số lượng yếu tố sản xuất đó.
Công thức tính năng suất trung bình: APL =

q
q
và APK =
, trong đó: APL và APK lần
L
K

lượt là năng suất trung bình của lao động và của vốn.
Năng suất trung bình của một yếu tố sản xuất giảm xuống khi năng suất biên thấp hơn
năng suất trung bình và ngược lại năng suất trung tăng lên khi năng suất biên lớn hơn năng
suất trung bình.
1.4.4. Tác động của tiến bộ công nghệ đến sản lượng
Mối quan hệ giữa số lượng yếu tố đầu vào và sản lượng được quyết định bởi công nghệ
sản xuất. Hay nói cách khác, công nghệ sản xuất là cách thức sản xuất ra hàng hoá - dịch vụ.
Công nghệ được cải tiến khi có những phát minh khoa học mới được áp dụng vào sản xuất.
Công nghệ tiến bộ sẽ giúp sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn. Điều này có nghĩa là công nghệ
mới có thể giúp sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn với cùng số lượng các yếu tố đầu vào như
trước hay thậm chí ít hơn. Với công nghệ mới, máy móc thiết bị có năng suất cao hơn và công
nhân có thể đạt năng suất cao hơn. Những điều này làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh
tế. Vì vậy, công nghệ sản xuất thường được xem như là một yếu tố phản ánh trình độ phát
triển của nền kinh tế về phương diện sản xuất.
1.5. Đường đẳng lượng
1.5.1. Đường đẳng lượng
Các kết hợp của các yếu tố đầu vào tạo ra cùng một sản lượng sẽ được biểu diễn trên một
đường đẳng lượng.
Đường đẳng lượng cho biết các kết hợp khác nhau về mặt số lượng của vốn (K) và lao
động (L) để sản xuất ra một số lượng sản phẩm nhất định q0 nào đó.

dK
dL

q=q0

Trong đó: MRTSL cho K là tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên của lao động cho vốn. Ký hiệu q =
q0 cho ta thấy là việc tính toán tỷ lệ thay thế biên được thực hiện trên đường đẳng lượng q 0.
Dấu (-) trong đẳng thức giữ cho tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên luôn có giá trị dương. Vì vậy, tỷ lệ
thay thế kỹ thuật biên cho biết độ lớn của sự thay thế giữa vốn và lao động. Căn cứ vào công
thức này ta có thể thấy nghịch dấu với độ dốc của đường đẳng lượng tại một điểm nào đó
chính là tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên của lao động cho vốn tại điểm đó. Đó là vì q 0 = f(K, L)
nên có thể suy ra phương trình đường đẳng lượng là K = g(q 0, L). Do đó: MRTS = −
chính là nghịch dấu với độ dốc của đường đẳng lượng.

1.5.3. Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên (MRTS) và năng suất biên (MP)

- Trang 5 -

dK
hay
dL


Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên có quan hệ với năng suất biên của lao động và vốn. Ta có thể
xây dựng biểu thức thể hiện mối quan hệ này bằng công cụ toán học phổ biến. Nếu hàm sản
xuất là q = f(K, L).
- dK x MPK = dL x MPL =>

MPL
dK

.
α

Trong trường hợp hàm sản xuất này, vốn và lao động có thể hoàn toàn thay thế cho nhau.
Nhà sản xuất có thể chỉ sử dụng vốn hay lao động cho sản xuất tuỳ thuộc vào giá của chúng.
1.6.2. Hàm sản xuất với tỷ lệ kết hợp cố định
Hàm sản xuất q = min ( aK , β L ) cho biết sản lượng bằng với giá trị nhỏ nhất của hai giá
trị trong ngoặc.
- Chẳng hạn nếu αK < βL thì q = αK. Khi đó K là yếu tố ràng buộc đối với sản lượng.
Việc tăng thêm lao động không làm không làm gia tăng sản lượng nên MP L = 0. Thuê thêm

- Trang 6 -


vốn lao động là không cần thiết. Nếu αK > βL thì q = βL. Trong trường hợp này, lao động là
yếu ràng buộc đối với sản lượng. Việc tăng thêm vốn không làm không làm gia tăng sản lượng
nên MPK = 0.
- Khi αK = βL thì cả hai yếu tố K và L được sử dụng một cách hợp lý nhất vì không có
hiện tượng dư thừa vốn hay lao động. Khi đó K/L = β/α . Đẳng thức này xảy ra tại các điểm ở
góc của đường đẳng lượng.
Với hàm sản xuất này, vốn và lao động phải được sử dụng với một tỷ lệ nhất định vì
chúng không thể thay thế cho nhau. Mỗi một mức sản lượng đòi hỏi một phương án kết hợp
đặc biệt giữa vốn và lao động. Trong trường hợp này, ta không thể tạo thêm sản lượng nếu như
không đưa thêm vào cả vốn và lao động theo một tỷ lệ cụ thể.
1.6.3. Hàm sản xuất COBB-DOUGLAS
q = cK a Lb ; a,b,c >0.
Đây là trường hợp trung gian giữa hai trường hợp trên và cũng là hàm sản xuất phổ biến
nhất được sử dụng để nghiên cứu mối quan hệ giữa số lượng yếu tố đầu vào và sản lượng của
một quá trình sản xuất.
1.7. Hiệu suất theo quy mô

L

/
động lên m lần, thì năng suất lao động trung bình trở thành: APL =

q f ( mK , mL )
=
. Khi đó ta
L
mL

có các trường hợp sau:
- Nếu hàm sản xuất có hiệu suất theo quy mô tăng thì: f(mK, mL) > mf(K, L). Do đó
AP/L > APL, nghĩa là khi tăng số lượng các yếu tố đầu vào lên thì năng suất lao động trung bình
cũng tăng lên, làm giảm chi phí để sản xuất ra một đvsp.
- Nếu hàm sản xuất có hiệu suất theo quy mô cố định thì: f(mK, mL) = mf(K, L). Do đó
AP/L = APL, nghĩa là khi tăng số lượng các yếu tố đầu vào lên thì năng suất lao động trung bình
không đổi và như vậy chi phí để sản xuất ra một đvsp sẽ không đổi.
- Nếu hàm sản xuất có hiệu suất theo quy mô giảm thì: f(mK, mL) < mf(K, L). Do đó
AP/L < APL, nghĩa là khi tăng số lượng các yếu tố đầu vào lên thì năng suất lao động trung bình
sẽ giảm xuống. Điều này có thể làm tăng chi phí để sản xuất ra một đvsp.
1.8. Đường đẳng phí
Giả sử một doanh nghiệp dùng một số tiền nào đó, được gọi là tổng chi phí và được ký
hiệu là TC - để mua hay thuê vốn và lao động cho sản xuất.Nếu đơn giá vốn là v và đơn giá
của lao động là w thì doanh nghiệp sẽ sử dụng bao nhiêu vốn và lao động? Đường đẳng phí sẽ
giúp trả lời câu hỏi này.
Đường đẳng phí cho biết các kết hợp khác nhau của số lượng lao động (L) và vốn (K) có
thể mua được bằng một số tiền (tổng chi phí) nhất định ứng với những mức giá nhất định.
Phương trình đường đẳng phí có dạng: TC = vK + wL, trong đó TC là tổng chi phí, v là
đơn giá vốn, w là đơn giá lao động, vK là chi phí cho vốn, wL là chi phí cho lao động. Phương

phẩm phục vụ cho lợi ích của con người. Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của
xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa và xã hội. Nó là nhân tố
quyết định bất cứ quá trình sản xuất nào. Như vậy động lực của quá trình phát triển
kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người. Con người với lao động sáng tạo của họ đang
là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, phải thực sự giải
phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải
phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người.
Vai trò của người lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế
nông thôn nói riêng là rất quan trọng.
Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong
độ tuổi lao động, đang có việc làm trong nền kinh tế quốc dân và những người thất
nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
2.1.2. Nguồn lao động ở nông thôn
Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông
thôn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (nam tuổi từ 16-60, nữ tuổi từ
16-55 tuổi) có khả năng lao động.
Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao
gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và
những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.

- Trang 10 -


Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực
lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động
mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những
công việc phù hợp với mình. Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao
động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết
việc làm ở nông thôn.
2.1.3. Vai trò của nguồn lao động nông thôn

của quá trình đô thị hóa và sự thu hẹp dần về tốc độ tăng tự nhiên của dân số giữa nông
thôn và thành thị nên tỷ lệ dân số cũng như lực lượng lao động so với cả nước ngày
càng giảm.
- Chất lượng nguồn lao động nông thôn chưa cao. Chất lượng của người lao động
được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe.
- Đến thời điểm đầu năm 2009, toàn tỉnh Sóc Trăng lực lượng trong độ tuổi lao
động là trên 730.000 người (chiếm tỷ lệ 59% tổng dân số), nhưng chỉ có khoảng 14%
lao động đã qua đào tạo. Hằng năm tỉnh Sóc Trăng có khoảng 100.000 lao động khu
vực nông thôn thiếu việc làm. Đối tượng thất nghiệp phần lớn rơi vào hộ nghèo, khó
khăn về đất ở và không có đất sản xuất. Tình trạng “thừa nhân lực yếu, thiếu nhân lực
chất lượng” đang là một thách thức lớn đối với Sóc Trăng trong quá trình đi tìm lời giải
cho bài toán đào tạo nghề, giải quyết việc làm (GQVL) nhằm thực hiện mục tiêu xóa
đói giảm nghèo bền vững.
Trong khi các cụm công nghiệp tại TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai luôn
trong tình trạng khan hiếm lao động thì tại Sóc Trăng có nguồn nhân lực dồi dào song
lại không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của các đối tác. Nguyên nhân chính là do
lực lượng lao động nông thôn yếu về trình độ học vấn lẫn tay nghề nên không đáp ứng
được yêu cầu của các nhà tuyển dụng hoặc lao động cho các cụm công nghiệp không
bám trụ lâu dài được ở các công ty, nhà máy…đều bỏ việc trở về địa phương vì không
thích ứng được môi trường, tác phong lao động công nghiệp cũng như những áp lực giá
cả sinh hoạt đắt đỏ nơi đô thị...Cũng vì lý do này mà trong thời gian qua, có hàng ngàn
lao động phổ thông Sóc Trăng “rồng rắn” đi làm thuê ở khắp các địa phương khác.
Nhiều hộ gia đình không có đất sản xuất, quanh năm làm thuê nay đây mai đó nên

- Trang 12 -


không có điều kiện chăm sóc con cái, hệ quả là tỷ lệ trẻ em thất học, bỏ học ngày càng
trở nên phổ biến trong vùng đồng bào Khmer.
- Những năm qua, Sóc Trăng không chỉ tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu

động, đang không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm. Số người không có
việc làm sẽ ảnh hưởng đến số người làm việc và ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của
nền kinh tế. Thất nghiệp là vấn đề trung tâm của mọi quốc gia vì nó không chỉ tác động
về mặt kinh tế mà nó còn ảnh hưởng đến vấn đề xã hội. Điều đó dẫn đến dòng di
chuyển lao động từ nông thôn lên thành thị để làm thuê trong dài hạn hoặc chỉ tìm việc
làm trong những tháng nhàn rỗi… để có thu nhập cao hơn. Từ nhu cầu thực tế đó đã
dẫn tới số lao động ở nông thôn bị giảm sút đồng thời lao động ở thành thị tăng nhanh.
Mặt khác, do không có trình độ chuyên môn kỹ thuật nên số lao động này cũng chỉ làm
những công việc nặng nhọc, làm công nhân cho các xí nghiệp, công ty hoặc bán hàng
rong ở thành phố nên thu nhập không cao nhưng cũng giải quyết được vấn đề việc làm
trong lúc nông nhàn. Do đó vấn đề đặt ra là phải tạo việc làm cho người lao động nông
thôn ngay chính quê hương của họ, giải quyết việc làm theo xu hướng “ly nông bất ly
hương” tạo việc làm để tăng thu nhập ngay trên chính quê hương của họ bằng nhiều
biện pháp như: đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, cho người nghèo vay vốn với lãi suất
ưu đãi vv.
2.2.4. Dòng di chuyển lao động ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
Đây là hiện tượng những người lao động ở nông thôn đi xuất khẩu lao động, đó là
một trong những hướng đi của một số ít người chứ không phải là đa số, bởi vì những
người có khả năng xuất khẩu lao động ở nông thôn là rất ít theo số liệu thống kê tháng
8 năm 2009 từ năm 2003 – 2009 xuất khẩu được 2.090 người và những yêu cầu của
nước nhập khẩu lao động là khá cao nên dòng di chuyển này rất ít ảnh hưởng đến sản
xuất nông nghiệp.
2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động ở nông thôn
Số lượng lao động mới phản ánh được một mặt sự đóng góp của lao động vào
phát triển kinh tế. Mặt khác, cần được xem xét đến chất lượng nguồn lao động, đó là
yếu tố làm cho lao động có năng suất cao hơn. Chất lượng lao động có thể được nâng

- Trang 14 -





trạng “thừa nhân lực yếu, thiếu nhân lực chất lượng” đang là một thách thức lớn đối
với Sóc Trăng trong quá trình đi tìm lời giải cho bài toán đào tạo nghề, giải quyết việc
làm (GQVL) nhằm thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo bền vững và đây cũng là
nguồn lao động dồi dào cho phát triển kinh tế - xã hội. Qua những số liệu trên cho thấy
nông thôn tập trung phần lớn lao động của tỉnh. Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động
nhìn chung có những hạn chế nhất định: mặt bằng dân trí, ngoại ngữ và tay nghề thấp,
lao động qua đào tạo còn chiếm tỷ trọng thấp, từ đó cũng rất khó có cơ hội tìm được
việc làm mới, ngoài trồng trọt, chăn nuôi. Cơ cấu lao động qua đào tạo cũng chưa hợp
lý còn thừa thầy thiếu thợ. Đây là những điều bất cập luôn đặt ra cho chúng ta những
thách thức gay gắt.
Ngoài ra, tỷ trọng dân số nông thôn trong tổng dân số có xu hướng giảm dần,
nguyên nhân chủ yếu của việc giảm tỷ lệ dân nông thôn là do quá trình di cư nông thôn
– thành thị và xuất khẩu lao động theo số liệu thống kê (từ năm 2003-2008 xuất khẩu
được 2.090 người) cũng góp phần làm giảm tỷ lệ dân số nông thôn trong tổng dân số.
Đồng thời, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình và chênh lệch về thu nhập
giữa hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp của lao động, cũng thúc đẩy
quá trình di cư và chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn.
Tóm lại: hiện dân cư ở nông thôn nhiều, tăng tự nhiên nhanh hơn thành thị nhưng
trong tổng số lao động ở nông thôn đang có xu hướng giảm do di cư. Do đặc điểm
nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng chủ yếu trồng lúa, theo nhu cầu của trồng lúa thì thiếu lao
động trong mùa thu hoạch, nhưng lại thừa lao động trong các thời gian còn lại của quá
trình sản xuất lúa. Nếu duy trì lao động đủ trong mùa gặt thì lại quá thừa trong các thời
gian còn lại, thiếu hiệu quả trong sử dụng nguồn lao động. Hiện tỉnh đang cơ giới hóa
nông nghiệp để giải quyết khâu thiếu lao động và công nghiệp hóa để giải quyết khâu
thừa nhưng quá trình công nghiệp hóa vẫn chưa tới nơi. Do đó giới thiệu việc làm
ngoài tỉnh và xuất khẩu lao động là giải pháp của tỉnh để giảm lượng lao động thất
nghiệp, nhưng đây là một giải pháp thiếu bền vững.


nghiệp chiếm 59 % số người trong độ tuổi lao động. Về công nghiệp, thương mại, xây

- Trang 17 -


dựng cơ bản 01/2009 đạt 384,3 tỷ đồng (bằng 5,91% kế hoạch, tăng 12,7% so với cùng
kỳ); trong đó, kinh tế nhà nước tăng 55,26%, kinh tế dân doanh tăng 7,88% so với cùng
kỳ. Về sản xuất nông nghiệp, thủy sản: Sản lượng lúa mùa (kể cả lúa thu đông) 2008 2009 ước đạt 120.346 tấn, vượt 5% kế hoạch, tăng 26,25% so với vụ mùa năm trước.
Tính đến cuối tháng 01/2009, các địa phương đã thu hoạch 66.574 ha lúa đông xuân,
đạt 48% diện tích gieo trồng đã tạo nên sức ép rất lớn về việc làm và các vấn đề xã hội.
Đây là những điều bất cập và thách thức mà trong những năm sắp tới Sóc Trăng phải ra
sức phấn đấu vượt qua. Theo lý thuyết thì tăng trưởng kinh tế sẽ thu hút thêm lao động,
giải quyết việc làm. Nhưng hiện tốc độ tăng trưởng tạo thêm việc làm ở nông thôn ít
hơn số lượng lao động tăng thêm mỗi năm. Như đã đề cập ở trên, hiện theo cơ cấu lao
động thì lao động nông nghiệp chiếm tới 59%, nhưng sự phát triển của nông nghiệp
hiện nay chưa thể giải quyết hết lao động tăng thêm ở nông thôn, người làm nông
nghiệp có thời gian nông nhàn nhiều, đặc biệt là trồng lúa. Cùng với xu thế chung của
cả nước hiện nay thì công nghiệp và dịch vụ được ưu tiên hơn nông nghiệp, và tỉnh ta
đã phấn đấu tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ. Điều này làm nguồn lao động nông thôn
muốn chuyển đổi cơ cấu ngành, nghề buộc họ phải ra đô thị ngoài tỉnh như thành phố
Hồ Chí Minh, Bình Dương… và xuất khẩu lao động dễ tìm việc làm và như vậy làm
cho chính sách phát triển kinh tế, phát triển nông thôn của An Giang đã không gắn với
đào tạo nghề và tạo việc làm tại chỗ.
Tuy nhiên, trong khâu giải quyết lao động ở nông thôn, Sóc Trăng cũng có một
giải pháp rất hiệu quả là phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn.
Việc phát triển các làng nghề ở nông thôn là một giải pháp tốt để giải quyết lượng lao
động nông nhàn, hạn chế được tình trạng di cư ra thành thị, giúp người dân nông thôn
“ly nông bất ly hương”. Đây là một hướng sử dụng hiệu quả nguồn lao động nông
thôn, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
2.4. Phương hướng và giải pháp trong thời gian tới

nông thôn. Tiếp theo là phát triển nông nghiệp nhưng thay đổi cơ cấu giữa nông- lâmthủy sản theo hướng phát triển mạnh lâm nghiệp và thủy sản. Trong nội bộ ngành nông
nghiệp tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, và thay đổi cơ cấu cây trồng, giảm tỷ
trọng cây lương thực, tăng tỷ trọng cây màu, cây công nghiệp. Làm được điều này sẽ

- Trang 19 -


hạn chế được lao động nông thôn đổ xô vào thành thị tìm việc làm, gây nên tình trạng
quá tải về tất cả các mặt ở đô thị hiện nay.
Sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả đất đai: Trong quá trình công nghiệp hóa hay
xây dựng đô thị và kết cấu hạ tầng quan trọng phải dựa trên cơ sở quy hoạch tránh lãng
phí, giúp cho quá trình sử dụng đất nông thôn tốt hơn. Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập
trung đất đai, từ đó góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn. Trong nông nghiệp cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi để tăng năng
suất, hiệu quả canh tác, tăng nhanh giá trị sản lượng trên một đơn vị diện tích, phải đẩy
nhanh thâm canh tăng vụ, nâng cao hệ số sử dụng ruộng đất. Cơ giới hóa nông nghiệp
là một trong những động lực quan trọng hàng đầu thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp
phát triển, cơ giới hóa nông nghiệp góp phần thúc đẩy việc tăng năng suất lao động
trong nông nghiệp, từ đó làm tăng sản lượng và tăng chất lượng các nông sản phẩm,
đồng thời sẽ làm tăng thu nhập cho người nông dân. Nhưng quá trình cơ giới hóa cần
phải thực hiện đồng bộ với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và xây dựng các khu
công nghiệp nhỏ ở nông thôn để giải quyết tốt việc làm cho lao động nông thôn. Cần
hoàn thiện chính sách và pháp luật về quản lý đất đai, để biến đất đai thành nguồn vốn
quan trọng cho phát triển kinh tế và tạo thêm việc làm.

- Trang 20 -


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lê Khương Ninh, Kinh tế vi mô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status