ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN TÂM LÝ HỌC VĂN HÓA – SAU ĐẠI HỌC
Câu 1: Khái niệm văn hóa
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo
không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá
trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn
hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh
doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của
từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá
được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông
Sơn…)…
Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người
sáng tạo ra. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự
sinh tồn.
Khi tiếp cận khái niệm văn hóa, tùy từng mục tiêu, mục đích khác nhau của người
nghiên cứu mà dựa trên các cách tiếp cận khác nhau và từ đó hình thành các định nghĩa
khác nhau về khái niệm văn hóa. Hiện nay có hàng trăm định về văn hóa. Ở đây, có thể đặc
biệt lưu ý tới những quan niệm chủ yếu sau:
“Văn hóa là những gì do con người sáng tạo ra, đối lập với trạng thái tự nhiên” (M.T
Cicero, A. Adler, G.D. Tomakhin…). Tất cả những gì do bàn tay, khối óc con người làm ra
đều là văn hóa, Văn hóa đối lập với tự nhiên, văn hóa là cái nhân tạo, tự nhiên là cái thiên
tạo. Quan niệm này phân biệt văn hóa với những giá trị tự nhiên chưa mang dấu ấn sáng tạo
của con người.
“Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên” (Quan
niệm của Unesco, giới triết học Nga, Trần Ngọc Thêm).
Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần được loài
người sáng tạo ra, sử dụng trong đời sống hàng ngày.
Văn hóa bao gồm toàn bộ vốn văn hóa vật chất cũng như tinh thần của nhân loại từ
những công cụ sản xuất, vũ khí, phương tiện … cho đến những tri thức, phong tục tập quán
liên quan đến sản xuất, luật pháp, khoa học, tôn giáo, ngôn ngữ, văn tự
- “Văn hóa là cái được con người thừa kế, tiếp nhận” (Quan niệm của E. Herriot, R.
con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá
trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con
người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành
động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
* Vai trò của văn hóa:
- Theo Hồ Chí Minh thì văn hóa có vai trò to lớn trong đời sống của mỗi quốc gia dân
tộc.
+ Trước hết, văn hóa là mục tiêu, động lực của cách mạng. Văn hóa là kiến trúc
thượng tầng của xã hội, vì vậy việc lật đổ chế độ xã hội cũ, xã hội thực dân phong kiến và
xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) tốt đẹp là mục tiêu của văn hóa.
+ Thứ hai, Văn hóa là một mặt hợp thành toàn bộ đời sống xã hội. Người nhấn mạnh:
“trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề chú ý đến; cùng phải coi trọng ngang
nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội” Vì thế, văn hóa không thể đứng ngoài “mà phải ở
trong kinh tế và chính trị” và ngược lại kinh tế, chính trị cũng nằm “trong văn hóa”. Tăng
trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa và giải quyết những vấn đề xã hội; nếu chỉ
coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu duy nhất thì chẳng những môi trường văn hóa – xã hội bị
hủy hoại mà mục tiêu kinh tế cũng không đạt được.
+ Thứ ba, Văn hóa là linh hồn, bản sắc dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa
không thể tách rời với quốc gia dân tộc, văn hóa trước hết là văn hóa của một dân tộc, nó
mang tâm hồn, diện mạo dân tộc, đó chính là bản sắc dân tộc của văn hóa.
+ VH là cơ sở XH hóa các cá nhân: Vh thể hiện là những nhận thức của mỗi người để
đảm bảo sự hòa đồng của các cá nhân vào XH chung và năng lực lao động của các cá nhân
để đảm bảo đời sống của chính họ. Con người không thể tồn tại nếu tách rời tự nhiên cũng
như con người không thực sự là người nếu tách rời môi trường văn hóa.
+ Văn hóa là cơ sở phát triển kinh tế: Toàn bộ các yếu tố văn hóa( tài sản hữu hình
hay vô hình) đc biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế là các cơ sở vật chất dùng cho SX kinh
doanh và năng lực lao động của con người, là cơ sở cho quá trình phát triển KTXH. Nền
văn hóa phát triển cao đồng nghĩa với người lao động có năng lực ccao. Do vậy, xây dựng,
phát triển nền văn hóa là nhiệm vụ của mỗi quốc gia.
+ Văn hóa bao giờ cũng được hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua
nhiều thế hệ.
+ Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dầy, một chiều sâu.
+ Tính lịch sử buộc văn hóa tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá
trị.
- Tính bền vững: Tính ổn định tương đối
+ Khi một tập quán hay một thói quen nào đó lan ra khá rộng, dù tác động của những
ảnh hưởng khác nhau đối với chúng có thể yếu đi, nhưng chúng vẫn tiếp tục được truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác.
+ Văn hóa giống như một dòng thác, khi đã tạo ra được luồng lạch thì tiếp tục chảy
trong nhiều thế hệ liền.
- Tính đồng nhất văn hóa: sự giống nhau về văn hóa trong nhóm, dân tộc...
3
+ Tính đồng nhất văn hóa chỉ đặc điểm tâm lý của các cá nhân trong một nền văn hóa
nhất định.
+ Văn hóa là cấu trúc tâm lý, là hệ thống các quy tắc chung nên rõ ràng mọi người có
thể không chỉ có một sự đồng nhất văn hóa, mà trong một số trường hợp còn nhiều hơn
+ Những đồng nhất văn hóa ngày nay càng trở nên phổ biến khi ranh giới giữa các
nền văn hóa càng mờ đi.
-> Giao tiếp giữa các đại diện của những nền văn hóa khác nhau được mở rộng.
-> Số lượng các cuộc kết hôn giữa các nền văn hóa không ngừng tăng lên.
+ Văn hóa là cấu trúc xã hội ở cấp độ vĩ mô, đồng nhất những đặc điểm, thuộc tính
của chúng ta với những người khác.
+ Văn hóa ảnh hưởng tới lối sống của chúng ta.
+ Văn hóa hình thành, củng cố kinh nghiệm, hành vi, những nguyên tắc và tình cảm
của chúng ta.
+ Trong công việc, học tập, thời gian rỗi hay giao tiếp với người khác, chúng ta đều
dựa vào nền văn hóa của bản thân .
- Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa: Xây dựng chiến lược phát triển đội
ngũ cán bộ văn hóa. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản
lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở.
- Tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa
- Quá trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cần có quan điểm kế thừa có
chọn lọc, nhất là trong giai đoạn hiện nay…Sáng tạo, bảo tồn,tiếp nhận, phát triển và truyền
thụ văn hóa cần chú ý đến các đặc điểm cơ bản của văn hóa.
- Đấu tranh với các biểu hiện phi văn hóa, phản văn hóa trong…Mỗi cá nhân cần
thường xuyên nâng cao nhận thức về VH, học tập, rèn luyện để trở thành người có văn hóa.
Tích cực tham gia vào việc giữ gìn, phát huy và truyền thụ nền văn hóa VN- đậm đà bản sắc
dân tộc…
Câu 3: Làm rõ quan điểm phát triển toàn diện con người theo tinh thần văn hóa
biện chứng? Ý nghĩa thực tiễn?
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ
qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con
người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình
hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người
và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của
con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người Văn hóa là phức
hợp tâm lý mang tính chỉnh thể được hình thành và phát triển cao độ trong hoạt động và
giao tiếp của cá nhân, phản ánh dấu ấn của một cộng đồng và là một nhân tố quan trọng bậc
nhất góp phần hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người.
Văn hóa có vai trò to lớn trong đời sống của mỗi quốc gia dân tộc. văn hóa là mục tiêu,
động lực của cách mạng, một mặt hợp thành toàn bộ đời sống xã hội, là linh hồn, bản sắc
dân tộc. VH là cơ sở XH hóa các cá nhân, phát triển kinh tế.
* Văn hóa biện chứng
Nhiều nhà khoa học đã chú ý tới “văn hoá biện chứng”,một khái niệm nhấn mạnh
tính quá trình của mọi hoạt động tạo ra các giá trị mới, phù hợp với sự tiến hoá và phát
đại. Điều đó đòi hỏi một cách nhìn đầy đủ, sâu sắc, cụ thể hơn về tính toàn diện vừa nói ở
trẻn. Ví dụ, trong một xã hội mở, hội nhập với khu vực và quốc tế, thì tiếp biến văn hoá là
một quá trình tất yếu, và do đó, năng lực liên văn hoá phải trở thành một thành tố quan
trọng trong hệ thống các năng lực cần có của con người có văn hoá. Hiện nay, đây là một
yếu kém cần được nhanh chóng khắc phục. Một biểu hiện điển hình của điẻu này là tình
trạng không thành thạo một ngoại ngữ dẫn đến chỗ khó hội nhập quốc tế, không tiếp nhận
và truyền được văn hoá nước ngoài, gặp khổ khăn trong giới thiêu bản sắc vãn hoá Việt
Nam với thế giới, làm ăn thua lỗ…. Ngoại ngữ chưa trở thành vốn văn hoá của cá nhân và
cộng đổng.
Cách nhìn biện chứng vẻ vãn hoá còn cho thấy vãn hoá không phải là nhân tố duy nhất
tạo ra sự phát triển nhân cách của con người và hơn nữa, văn hoá cũng cổ sự hạn chế của nó
(Cultural lag).
Bên cạnh tự nhiên, văn hoá là một môi trường thứ hai do bản thân con ngưòỉ tạo ra hoặc
cải biến cho mình. Con ngưòi tác động, cải biến tự nhiên, chẳng hạn thông qua việc chăn
nuôi và trổng trọt có mục đích, chăm sóc cơ thể và thoả mãn theo kế hoạch các nhu cầu thể
chất, tâm lý và xã hội của mình. Con người đã sáng tạo cho bản thân các quan hẹ ăn ở, ngôn
ngữ, các hình thức giao tiếp xã hội nhất định, luật pháp, nghệ thuật, khoa học và tôn giáo.
Như vậy, có thể nói “văn hoá” là lá chắn bao quanh con người, đem lại cho con
người khả năng tự phát triển và tạo lập thế giới. Nhung, nó cũng đổng thời gò bó, cản trở
con người165. Vì thế, A. Gehlen đã từng nói rằng con người là một thực thể khiếm khuyết.
Và mối quan hệ giữa xây và chống luôn giữ một vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng
con người có văn hoá.
* Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu:
Vấn đề phát triển toàn diện con người theo tinh thần VHBC đã được Đảng, Nhà nước
ta quan tâm đặc biệt. Điều đó thể hiện rõ trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển đất
nước, cụ thể qua Nghị quyết TƯ 5(Khóa VIII) và NQ TƯ 9(khóa XI): Nghị quyết Trung
ương 9 khẳng định(khóa XI: “Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và
xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo
xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp…”.
Cùng với việc tập trung xây dựng phát triển con người theo tinh thần văn hóa biện
* Văn minh: Trước hết, văn minh là một khái niệm được hiểu theo những quan niệm
khác nhau. Về ngôn ngữ, người ta thường lấy tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Đức để làm ví
dụ so sánh. Trong tiếng Pháp và tiếng Anh văn minh chỉ có nghĩa là: 1/. Toàn bộ phức hợp
những tri thức, tín ngưỡng, nghộ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và tất cà những năng
lực và thói quen khác mà con người đã tiếp thu với tư cách là thành viên của xã hội. 2/. Quá
trình điều chỉnh thối thúc bản năng và cảm xúc, làm giảm hoạt động bạo lực và hoàn thiện
các tập tục và những hình thức giao tiếp. Nhưng trong tiếng Đức, văn minh còn được hiểu
là những gì do khoa học và kỹ thuật mang lại, phục vụ cho cuộc sống nói chung và cho sự
thoả mẫn nhu cầu nói riêng.
Bên canh đó còn các cách hiểu có những nét chung và riêng như sau:
“Văn minh (Latinh, Pháp và Anh): 1/. Toàn bộ những điều kiện vật chất và xã
hội của cuộc sống được tạo ra (được cải thiện) nhờ sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật. 2/. Học
vấn và văn hoá”
‘Tất cả những biến đổi do con người tạo ra ở ngoài cơ thể gọi ỉà các thành tựu
văn hoá; tập hợp toàn bộ những thành tựu ấy gọi là văn hoá; các thời kỳ đặc trưng đỉnh cao
của văn hoá gọi là vẫn minh. Hay nói văn hoá đi liển với văn minh, có thể coi văn hoá và
văn minh là hai từ đồng nghĩa với
“Văn minh đồng nghĩa với văn hoá khi người ta đối lập văn minh vái bạo tàn.
7
Nhung thổng thường, văn minh được dùng dể chỉ ttình độ phát triển của nhãn loại đạt được
ở một thời kỳ lịch sử nào đó. Văn minh là thể hiện vẫn hoá trong lối sống”20.
“Văn minh: Trình độ phát triển đạt đến một mức nhất định của xã hội loài
người, có nền văn hoá vật chất và tinh thẩn với những đặc trung riêng. Văn minh có những
đặc trưng riêng của văn minh, của nền văn hoá phát biển cao; Văn minh thuộc về giai đoạn
phát triển thứ ba sau thời đại dã man, trong lịch sử xã hội loài người kể từ khi có thuật luyện
kim và chữ viết (theo phân kỳ lịch sử xã hội của L.H. Morgan)”.
“Từ văn minh thường được dùng như là đồng nghĩa vói từ văn hoá. Tuy nhiên, nó
bao gồm một cái gì hơn thế, hay đúng hơn, nó chỉ định một tình trạng nào đấy của văn hoá, được coi
Câu 5: Làm rõ vấn đề nếp sống trong tâm lý học văn hóa. Ý nghĩa trong xây
dựng nếp sống hiện nay?
Nếp sống là khái niệm được dùng để chỉ thói quen (habỉt) sinh sống, hoạt động theo
một hướng quy định, một trật tự nào đó. Nếp sống là mặt ổn định của lối sống và cũng bị chi
phối bởi lẽ sống. “Epicurus và các đồ đệ của ông sông một nếp sống đơn sơ giản đị. Ví dụ, vế ăn
uống, họ chỉ cần bánh mì và nước là đủ, như lời của Epicurus: ‘Tôi hài lòng với thân xác tôi khi tôi có
bánh mì và nước lã, và tôi phỉ nhổ vào khoái lạc xa hoa không phải vì bản thân chúng, mà vì những hậu
quả xấu theo sau chúng...”. Theo Epicurus, đời sống tốt lành là đời sống tự do giản dị, hợp lý và điều
độ”
Nếp sống khống phải là mặt bản năng như một số nguòi quan niệm. Nó được hình
thành và phát triển thông qua nhũng hoạt động thực hiện các nhiộm vụ đặc thù cùa từng lứa
tuổi trong mối quan hộ với môi trường đa dạng xung quanh. Và vì thế, các giá trị văn hoá
luôn đổng vai trò quan trọng. Việc nghiên cứu kỹ năng và thói quen đã cho thấy mối quan
hệ qua lại giữa chúng thể hiện đặc biệt rõ rệt, cụ thể trong nếp sống nói chung. Là những
phương thức hành vi được củng cố, các thói quen vừa góp phần làm cho việc điều khiển
hành động được dễ dàng, vừa làm cho con người hướng mạnh hơn vào những giá trị thiết
yếu đối với mình.
9
Ngay từ nhỏ, trẻ em phải được học và rèn luyện để có một nếp sống đúng đắn, có lợi
cho sự phát triển về mọi mặt. Trong quá trình này, sự vận dụng kết hợp giữa các kiểu định
hướng của P.J. Galpeiin với những hình thức định hướng hành động sư phạm cụ thể, theo
lứa tuổi trẻ em của A. Kossakowski là cầal thiết và sẽ đạt hiệu quả cao.
* Ý nghĩa trong xây dựng nếp sống văn minh
Khi đất nước tiến hành CNH, HĐH, việc xây dựng nếp sống văn minh lại càng cần
thiết vì nó chính là cơ sở để góp phần tạo ra tác phong công nghiệp. Trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội, ở đâu cũng rất cần nếp sống văn minh.
Nếp sống chính là biểu hiện cụ thể lối sống của con người. Lối sống tùy tiện nảy sinh
liền với quan điểm chính trị - xã hội và thế giới quan cá nhân là chủ yếu. Từ đó, có thể thấy
10
cần phải có giải pháp phòng ngừ và khắc phục. Nói như S.Freud, văn minh cũng đòi hỏi
phải đặt ra những điều cấm kỵ
Tác giả Phạm Hồng Hải nhận định: Trong số những nguyên nhân dẫn đến vi phạm
PL và tội phạm, có nguyên nhân do lối sống thiếu văn hóa của cá nhân hay một nhóm người
nào đó. Đó là lối sống vừa phủ định những giá trị văn hóa trong lịch sử, vừa không phù hợp
với xu thế thời đại”.
Hành vi sai lệch chuẩn mực ở mỗi cá thể thường phụ thuộc vào trình độ nhân cách và
hoàn cảnh, điều kiện, quan hệ xã hội thực tế chứ không phải diễn ra theo độ tuổi, thời gian
* Nguyên nhân của sự lệch chuẩn:
- Sinh học hiện đại có nhiều bằng chứng cho thấy, con người cũng là một kết quả của
sự tiến hóa sinh học. Không chỉ những cấu trúc nhận thức mà cả những cấu trúc hành vi
cũng đã được mã hóa trong gen.
- Hiện tượng nhân cách sai lệch chuẩn mực phải được xem xét từ cả hai góc độ: phát
sinh chủng loại và phát sinh cá thể.
- TLHPT đã nêu lên nhiều giai đoạn khủng hoảng trong một đời người (không chỉ có
ở tuổi dậy thì). Về thực chất, nó là hậu quả của những mâu thuẫn giữa khả năng hạn hẹp với
yêu cầu mới mẻ, ngày càng cao hơn, song không được giải quyết đúng đắn, kịp thời. Ai
cũng có thể rơi vào tình trạng như vậy, nhưng không phải ai cũng trở thành nạn nhân của nó
nếu được chuẩn bị tốt để vững vàng bước sang một giai đoạn mới.
Tuy nhiên, hành vi lệch chuẩn mực ở mỗi cá thể thường phụ thuộc vào trình độ phát
triển của nhân cách, hoàn cảnh, điều kiện, quan hệ xã hội thực tế chứ không diễn ra theo độ
tuổi, thời gian.
- Nói chung ở tất cả các loại hình nhân cách suy thoái, thái độ và hành vi tiêu cực có
thể xuất hiện bất cứ lúc nào nếu có sự tác động của một hay những nhân tố sau:
+ NC hình thành trong những đk tác động mạnh mẽ trái PL và trái đạo đức diễn ra
thường ngày ở gia đình, nhóm bạn bè..
+ Theo Herbert Simon, quá trình đồng nhất hóa các giá trị, khi cần thiết phải được
áp đặt lên các cá nhân bằng sự thực hiện quyền lực đối với họ. Phải tạo đk để dần dần các
giá trị này trở nên chủ quan hóa và các cá nhân trưởng thành có sự định hướng khác. Đó
cũng là quá trình gd lại.
- Phòng ngừa là chiến lược mang tính ưu tiên và nhân đạo.
+ Phải có kiến thức và kinh nghiệm để hiểu rõ toàn bộ quá trình và nguyên nhân dẫn
đến sai lầm và tội ác.
+ Phải chú ý đến quy luật phóng chiếu xã hội và mối quan hệ giữa các quá trình xã
hội hóa và cá thể hóa.
- Phòng ngừa và làm giảm dần các TNXH đòi hỏi phải thực hiện phương pháp tiếp
cận phức hợp và cá biệt thông qua những biện pháp khác nhau.
* Ý nghĩa thực tiễn:
- Quán triệt mục tiêu chung: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển
toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và
khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh
nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Có quan điểm đúng về VH
- Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh
thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách.
- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh
- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa
- Quá trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cần có quan điểm kế thừa có
chọn lọc, nhất là trong giai đoạn hiện nay…
- Nhận diện và đấu tranh với các biểu hiện phi văn hóa, phản văn hóa:
Câu 7: Làm rõ vấn đề lối sống trong tâm lý học văn hóa. Ý nghĩa trong xây dựng
lối sống hiện nay?
Khi nghiên cứu về con người nói chung và nghiên cứu về văn hóa nói riêng người ta
không thể không nghiên cứu về lối sống, bởi lẽ nghiên cứu về con người trước hết và về
con người. Lối sống bao gồm tất cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các
hoạt động được một bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người chấp nhận và
thực hành trong một khoảng thời gian tưong đối ổn định, đặt trong mối tương quan biện
chứng của các điều kiện sống hiện hữu và trong các mối liên hệ lịch sử của chúng”.
+ Theo Lê Đức Phúc: “Lối sống là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những hình thức
hoạt động mang tính ổn định, đặc trưng cho cá nhân hay nhóm. Những hình thức này được
quy định bởi trình độ nhận thức về lẽ sống cũng như điều kiện thỏa mãn những nhu cầu liên
quan đến giá trị văn hóa .
Từ góc độ tâm lý học, đây là một định nghĩa về lối sống tương đối hoàn hảo, nó vừa
đề cập đến hình thức, tính chất của các hoạt động sống, vừa đề cập đến các yếu tố chủ quan
và khách quan chi phối các hoạt động đó của cá nhân hoặc nhóm.
Từ đó, có thể rút ra ba kết luận cơ bản về những quan niệm nói trên như sau:
1.
Lối sống là toàn bộ những hình thức hoạt động tiêu biểu, tương đối ổn định của
cá nhân và nhóm
2.
Lối sống được hình thành và thay đổi thông qua các quan hẹ sản xuất vật chất
và tinh thần, chính tri và xã hội trong những điểu kiện của các môi trường cụ thể khác nhau.
3.
Lối sống và những biểu hiện của nó, tuy phản ánh cái phổ quát, dấu ẩh chung
của các thiết chí xã hội, dân tộc, vùng mién, song luôn có sự khác biệt cá nhân, và “sự khác
13
biệt văn minh” cần được chú ý nghiên cứu và tổn trọng.
Xuất phát từ đó, lối sống là khái niệm dược dùng để chỉ toàn bộ những hình thức hoạt
động mang tính ổn định, đặc trưng cho cá nhân hay nhóm. Những hình thức này được quy định
bởi trình độ nhận thức về lẽ sống, cũng như điều kiện, khả năng thoả mãn nhu cầu liên quan đến
những giá trị văn hoá.
=> Có thể khẳng định chắc chắn, rằng “lối sống” có liên quan mật thiết với “văn
XI). Đây là đòi hỏi cấp thiết của toàn xã hội đối với công tác văn hóa trong những năm tới.
Đặc biệt, bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, nhất là lý tưởng sống, năng lực trí
tuệ, đạo đức.... làm cho thanh niên trở thành đội hậu bị, cánh tay đắc lực của Đảng.
Xây dựng con người Việt Nam hoàn thiện về nhân cách, lối sống là một công việc
vừa rất cơ bản, chiến lược, vừa rất cấp bách, trong đó, bốn giá trị lớn là: Lý tưởng sống;
Năng lực trí tuệ; Vẻ đẹp đạo đức; Bản lĩnh văn hóa, trở thành nền tảng nhân cách vững chắc
của con người Việt Nam …
14
câu 8: Khái quát những xu hướng tâm lý học trong nghiên cứu văn hóa. Ý nghĩa
vấn đề?
Từ lâu văn hóa đã là một vấn đề trung tâm của khoa học xã hội và nhân văn và đã
thực sự trở thành đối tượng của tâm lý học, đó là Tâm lý học văn hóa. Cùng với những
bước tiến trong nhận thức, các triết gia cũng như các nhà tâm lý học đã ngày càng hiểu rõ
vai trò của văn hóa đối với sự tồn tại và phát triển của con người....Từ góc độ tâm lý học, có
thể hiểu: Văn hóa là phức hợp tâm lý mang tính chỉnh thể được hình thành và phát triển cao
độ trong hoạt động và giao tiếp của cá nhân, phản ánh dấu ấn của một cộng đồng và là một
nhân tố quan trọng bậc nhất góp phần hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người.
Một số xu hướng TLH trong nghiên cứu văn hóa
Tâm lý học các dân tộc: Đây là xu hướng tâm lý học ra đời năm 1860, xuất phát từ
những quan niệm của M. Lazarus và H. Steinthal khi xuất bản “Tạp chí nghiên cứu tâm lý
các dân tộc và khoa học ngôn ngữ” khắc phục được tình trạng chỉ chú ý tới cá nhân và bỏ
qua mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, xem nhẹ sự tham gia vào tinh thần chung, tinh thần
của nhân dân (Volksgeist).
Từ 1990, W.Wundt tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và cho công bố một tác phẩm lớn
gồm 10 tập phản ánh quan điểm cơ bản cho rằng tâm lý học các dân tộc có nhiệm vụ nghiên
cứu các quá trình tâm lý trong mọi mối quan hệ vượt ra khỏi sự sinh tồn riêng lẻ và dẫn đến
sự tác động qua lại về tinh thần như điều kiện của chúng.Theo G.G.Shpet, tâm lý học dân
tộc có ba nhiệm vụ cơ bản:
- Tâm lý học nhân văn: Sự ra đời của tâm lý học nhân văn trong những năm 60 của
thế kỷ vừa qua là một minh chứng rõ rệt cho sự phát triển tâm lý học, thể hiện ở việc phản
đối tâm lý học hàn lâm, hướng vào khoa học tự nhiên, xa rời thực tiễn và cuộc sống. Theo
A.Maslow, sự sai lầm, phiến diện đó đã dẫn đến hậu quả tất yếu là tâm lý học không thể nào
nhận biết, hiều được con người và các nền vh
Tuy nhiên, hoạt động thực tiễn và những nguyên tắc hoạt động quan trọng nhất của
các nhà tâm lý học nhân văn lại chưa chú ý đầy đủ đến những biến đổi của xã hội, của văn
hóa. Vì thế, khi phân tích các khái niệm cơ bản nhất của tâm lý học nhân văn như “sự thực
hiện bản ngã” hay “sự hiện thức hóa bản ngã”, “trải nghiệm bản ngã” trong “quá trình
nhóm”, R.O. Zucha đã coi đó là duy tâm vì, tồn tại quyết định ý thức chứ không phải ý
thức quyết định tồn tại.
Tâm lý học nhân văn của A.Maslow (1908-1970) cũng thường được nhắc đến không
chỉ vì sự phân biệt hai nền văn hóa trong xã hội hiện đại, được tạo ra trên cơ sở định hướng
theo những giá trị cao đẹp hay khuynh hướng quan liêu – kỹ trị trong cuộc sống xã hội.
Cũng như E.Fromm, A.Maslow cho rằng xã hội phải coi trọng các mục tiêu phát triển
con người, những nhu cầu ở những cấp độ khác nhau, mà cao nhất là sự tự hiện thực hóa tới
mức tốt đẹp nhất có thể được. Tư tưởng này có ý nghĩa quan trọng đối với sự hoàn thiện
nhân cách, thực hiện một đường lối giáo dục chân chính, thậm chí, như có người đã nói, trở
thành nền tảng cho các quan niệm phát triển kinh tế như ở Nhật vào những năm 70-80.
- Tâm lý học so sánh văn hóa: Tâm lý học xuyên văn hóa hoặc so sánh văn hóa được
các nhà tâm lý học như W.D.Froehlich, A.J Marsella, H.C. Triandis quan niệm như một
phân ngành tâm lý học ra đời trên cơ sở của tâm lý học văn hóa và tâm lý học các dân tộc
trước đây. Các nghiên cứu xuyên VH đã được phổ biến trong TLH
Tính đa dạng văn hóa. Mối quan hệ giữa các nhóm văn hóa. Sự khác biệt về dân tộc,
chủng tộc của các tầng lớp dân cư. Cái mà chúng ta biết có đúng với tất cả mọi người, có
độc lập với nguồn gốc văn hóa của họ hay không?Nếu như không thì có những khác biệt gì?
16
Trong hoàn cảnh nào xuất hiện những khác biệt và tại sao?Những yếu tố nào bên ngoài văn
tích cực hoặc tiêu cực.
Từ một giác độ khác, những ý kiến phô phán của chủ nghĩa Machiavel có liên quan đến
kiểu hiện đương sống, đang làm và kiểu đáng lẽ phải sống, phải làm 32 cũng chúng minh
thêm điếu đố. Mâu thuẫn trong quan niệm, khi một mặt cho rằng “Lẽ sống được coi là mặt ý
thức của lối sống, là sự lựa chọn chủ quan của con người vé một lối sống”, nhưng mặt khác, lại
khẳng định “lối sống là cơ sở đẩu tiên để hình thành nếp sống và lẽ sống”
Thực ra, lẽ sống là triết lý về cuộc đời, là mặt ý thức về cuộc sống của con người. Đây
không chỉ là quan niệm mang tính hệ thống về ý nghĩa, mục đích của cuộc sống mà còn là
cơ sở lý giải cách sống và sự thay đổi lối sống. Và vì thế, lẽ sống liên quan đến thế giới
quan, định hướng giá trị , giáo dục giá trị
- Thế giới quan
17
Theo nhận thức chung nhất, thế giói quan là “Quan niệm thành hệ thống về thế giới,
vể các hiện tượng tự nhiên và xã hội” 34. Đố cũng là: ‘Toàn bộ những biểu tượng và quan
niệm về tự nhiên và xã hội, về mối quan hệ của con người đối với thế giới và ý nghĩa của
cuộc đời, bao gổm cả các chuẩn mực và quy tắc nhất định về hành vi của con người trong
xã. hội”
- Sự đúng đắn và hiệu quả tác động của thế giới quan đối với tự nhiên, xã hội và con
người là những tiêu chuẩn cơ bản của việc xem xét, phân định giá tri văn hoá của nó. Trong
phạm vi tâm lý học văn hoá, biểu biện rõ rột, đầy đù và tập tnmg nhất của mối quan hệ giữa
lẽ sống và thế giới quan chúih là sự định hướng giá trị.
- Định hướng giá trị
“Định hướng giá trị là thái độ lựa chọn của con người đối vổỉ các giá trị vật chất và
tinh thần; một hộ thống tâm thế, niềm tin, sở thích được biểu hiện trong hành vi của con
người”43. Rõ ràng, định hướng giá trị không chỉ là quá trình nhận thức đơn giản mà là một
hoạt động với đầy đủ tính chất và đặc điểm của nó. Trong cuộc sống, người ta hướng vào
nhiều loại giá tri khác nhau: Vật chất và tinh thần, cá nhân và xã hội, tích cực và tiêu cực,
dân tộc và toàn cầu, cơ bản và thứ yếu, lâu dài và trước mắt. Đó chính là hệ quả của sự thay
sống có ích vẫn có rất nhiều người hiện đại đang bị mất khả năng vạch ra lẽ sống cho bản
thân mình, hoặc mập mờ trong chính cách sống của bản thân. Có nhiều nguyên nhân gây ra
điều này, mà quan trọng và ảnh hưởng lớn nhất chính là từ cách giáo dục lẽ sống cho mỗi cá
nhân chưa thật sự hợp lý và sâu sắc. Nền văn hóa Việt Nam hiện đại là nền văn hóa kết hợp
giữa truyền thống dân tộc tốt đẹp với tinh hoa văn hóa du nhập từ các dân tộc khác trên thế
giới. Sự du nhập, kết hợp này diễn ra tràn lan, chưa được cá nhân chọn lọc một cách kỹ
càng, dẫn đến sự hỗn tạp trong cách sống, dần dần gây nên sự ảnh hưởng mạnh mẽ, không
dễ thay đổi. Giáo dục lẽ sống cho mỗi cá nhân là giáo dục về ý thức, để cá nhân tự động
thực hiện.
Câu 10: Làm rõ đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học văn hóa?
TLHVH là một phân ngành TLH nghiên cứu các hiện tượng, quá trình, quy luật tâm
lý trong tiếp nhận và sáng tạo các giá trị văn hóa để góp phần phát triển toàn diện nhân cách
con người.
- Có nhiều quan niệm khác nhau về phân ngành TLHVH:
+ TLHVH là một lĩnh vực của TLHXH, nghiên cứu các quá trình phát triển, tiếp
nhận và ảnh hưởng của các tài sản văn hóa theo nghĩa rộng nhất. Mục đích nghiên cứu của
nó là phân tích sự quy định qua lại lẫn nhau của các hiện tượng văn hóa, các chuẩn mực của
nhóm hay XH và các thái độ cá nhân, hứng thú và hành động.
+ TLHVH nghiên cứu cái tâm lý trong văn hóc như là tổng thể nói chung những giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử và sự tương tác
giữa văn hóa và tâm lý con người. => Cách hiểu này là phù hợp với cách phân chia các
ngành TLH hiện nay, phản ánh được đối tượng cơ bản của TLH trong mối quan hệ với VH.
Do vậy, có thể xác định: Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học văn hóa là: các hiện
tượng tâm lý, các quá trình và quy luật tâm lý trong sáng tạo, truyền và tiếp nhận các giá
trị văn hóa để góp phần phát triển toàn diện nhân cách con người phù hợp với trình độ tiến
hóa và văn minh đương đại.
+ Nghiên cứu các hiện tượng tâm lý:
1. Cách phân loại phổ biến trong các tài liệu tâm lý học là việc phân loại các hiện
-> Ql kế thừa, lây lan và bắt chước trong nhóm.
* Nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học văn hóa:
- Nghiên cứu văn minh, trình độ phát triển tâm lý nhân cách với những nội dung như
sau : thế giới quan, nhân sinh quan, đạo đức, lối sống, định hướng giá trị.
+ Văn minh là trình độ phát triển của một cộng đồng người, một quốc gia, dân tộc
trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
+ Văn minh trong mỗi con người được hiểu là trình độ phát triển tâm lý, nhân cách
của con người phù hợp với những điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa của một thời đại.
+ Nghiên cứu văn minh ở lối sống, lẽ sống (thế giới quan, định hướng giá trị) và nếp
sống.
-Nghiên cứu nghệ thuật : đề cập đến những phẩm chất tâm lý, trạng thái, quá trình
tâm lý nảy sinh trong sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật.
+ Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt dùng hình tượng sinh động, cụ thể và
gợi cảm để không chỉ phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm mà còn tạo ra
những giá trị văn hóa mới.
- Tâm lý học văn hóa nghiên cứu mối quan hệ giữa nghệ thuật và tâm lý trong quá
trình tiếp nhận và sáng tạo văn hóa, cụ thể đó là các quá trình tâm lý như quá trình tri giác,
tưởng tượng, cảm xúc... ; các trạng thái tâm lý như những ấn tượng, xúc cảm trong quá trình
tiếp nhân ... ; và những phẩm chất nhân cách cần thiết trong quá trình sáng tạo nghệ thuật...
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa khoa học (thành tựu văn hóa) với lối sống, nghệ
thuật.
+ Khoa học là hình thức cao nhất của nhận thức lý luận và kết quả của nó, hình thức
đặc biệt của ý thức xã hội hướng vào việc phản ánh và làm chủ các quy luật trong tự nhiên,
xã hội và tư duy. Là sản phẩm của hoạt động nhận thức, khoa học là một hệ thống những tri
20
thức được ghi lại trong các khái niệm, ý kiến, giả thuyết và lý luận, được kiểm nghiệm
trong thực tiễn và t.xuyên phát triển...
+ Tâm lý học khoa học nghiên cứu các cơ sở tâm lý trong việc hình thành và phát
ưu .tiên hoặc yếu thế. Song, xét đến cùng, mức sống là trình độ thoả mãn các nhu cầu và
những chi phí cho cuộc sống thường ngày của cá nhân, gia đình và xã hội. Nhu cầu và sự
thoả mãn nhu cầu đã được nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu. Chúng tã có thể nêu lên mô
hình thứ bậc các nhu cầu của A.H. Maslow; cách thể hiện thứ bậc các nhóm động cơ liên
quan đến sự thoả mãn nhu cầu của D. Krech, R.s.
Crutchíield và E.L. Ballachey; hay danh mục các nhu cầu tâm sinh của H.A.
Murray.
Ngoài sự thống nhất về tầm quan trọng của nhu cầu, cách phân loại nhu cầu theo sự
21
phát triển của thời đại, chúng tôi thấyị phải khắc phục một số sai lầm như sau:
a) Maslow và khống ít người cho rằng thoạt tiên, con nguời thoả mãn các nhu cầu
ở bậc thấp, rồi sau đó mói có thể thực hiện được các nhu cầu khác ở bậc cao hơn. Điều đó là
phi lý, ví dụ thực tế cho thấy, không ít người tuy nghèo song đã phấn đấu đạt tới trình độ
hbc vấn khá cao.
b) Mức sống không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu, hoặc nói khác đi, nếu thiếu điéu
kiện và động cơ, người ta không thể hành động theo những mục tiôu có giá trị đối với mình.
Mật khác, cùng với thời gian, những biến động xã hội, chính tri còn làm thay đổi các ưu tiên vè
nhu cầu, giá trị theo chủ nghĩa duy vật hay hậu duy vật 59 cũng như sự xuất hiện những mục
tiêu mới.
- Dựa trên quy mô dân số 90,73 triệu người của năm 2014 (cũng theo số liệu do GSO
công bố), GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 đạt 2.028 USD, tương đương
169 USD/tháng. Trước đó, năm 2013, GDP bình quân đầu người đạt 1.900 USD, tăng so
với mức 1.749 USD của năm 2012.
2. Chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về các mức
độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá về mức
độ sự sảng khoái, hài lòng (well-being) hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội. Chất lượng cuộc
sống là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần. Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng
theo dõi tỉ lệ mù chữ ở người lớn, tuổi thọ trung bình và mức thu thập. Bên cạnh những
nhân tố xếp hạng truyền thống như kinh tế, an ninh, tỉ lệ thất nghiệp, còn có những nhân tố
khác như việc áp dụng các biện pháp tránh thai, sức khoẻ của trẻ em, tỉ lệ tội phạm..
* Ý nghĩa của vấn đề:
Tóm lại, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là con
đường tất yếu để đưa đất nước phát triển nhanh. Hiện nay, Việt Nam đang có những chuyển
biến sâu sắc và tích cực về cấu trúc kinh tế và môi trường tự nhiên, cấu trúc dân cư và phân
tầng xã hội, cũng như văn hóa và đời sống tinh thần. Bên cạnh đó, nhiều nguy cơ và vấn
nạn mới lại nảy sinh như sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo, sự bất bình đẳng xã hội và
thất nghiệp, các tệ nạn tham nhũng, sự xói mòn những giá trị đạo đức truyền thống… Vì
vậy, cần phải xác định rõ chiến lược phát triển bền vững với những giải pháp tích cực để
vượt qua những vấn nạn nói trên, tiếp tục đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi dân
sinh và lành mạnh hóa môi trường sống, đặt cơ sở cho sự phát triển bền vững, đảm bảo sự
hài hòa, hợp tác trong các quan hệ giữa các nhóm xã hội, phát huy những mặt tích cực,
giảm thiểu các tác động tiêu cực và giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp.
Để nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của người dân hiện nay cần thực hiện
đồng bộ một số vấn đề cơ bản sau:
- Nhóm biện pháp về kinh tế:
+ Giải quyết việc làm và bảo hiểm thất nghiệp
+ Tiếp cận và mở rộng các thị trường tiêu thụ sản phẩm
+ Huy động sử dụng vốn đầu tư
+ chuyển dịch cơ cầu kinh tế hợp lý thúc đẩy sản xuất phát triển
- Nhóm biện pháp về y tế và sức khỏe
- Nhóm bp về giáo dục-đào tạo
câu 12: Vấn đề lối sống trong thời đại văn minh hiện nay. Ý nghĩa thực tiễn?
Khi nghiên cứu về con người nói chung và nghiên cứu về văn hóa nói riêng người ta
không thể không nghiên cứu về lối sống, bởi lẽ nghiên cứu về con người trước hết và về
bản chất, không gì khác hơn, chính là nghiên cứu về cuộc sống và văn hóa của con người.
Trong thời đại văn minh lối sống có ý nghĩa rất to lớn trong xây dựng con nguồi mới khi mà
sự liẽn tục và biến đổi.
Thực tế đã cho thấy quan niệm thứ ba là sự định hướng phù hợp hơn cả vói những
biến đổi vè lối sống trong nhiều thập niên vừa qua mà Hàn Quốc là một ví dụ.
Việc xử lý hài hoà mối quan hộ giữa truyén thống và hiện đại, thể hiện trong lối sống
cá nhân và đời sống cộng đổng, xã hội là một yêu cầu cấp thiết,
quá trình hình thành hoặc thay đổi lối sống – xét trong tính tổng thể của nó - thường
diễn ra trong một thời gian dài. Có thể chúng minh điẻu đó bằng những trích đoạn nối vẻ sự
chấp nhận cuộc sống điện khí hoá và cuộc sống vổi web của Bỉlỉ Gates: “Phải mất hon 100
năm” cuộc sống điện khí hoá “mới làm thay đổi nèn văn minh con người”, “Một sự thay đổi
lớn lao như viêc chuyển sang lối sống với web trong chùng mực nào dó có thể phải mất cả
một thế hộ”57. Thời gian nói trên khổng chỉ phụ thuộc vào cơ sờ hạ-tầng, trình độ khoa học công nghê mà còn bị chi phối bởi môi trường văn hoá, trình độ đào tạo, lứa tuổi v.v.
* Ý nghĩa thực tiễn:
Bước vào thời kỳ CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, lối sống của con người Việt Nam tất yếu phải có sự thay đổi. Bước chuyển về mặt
sản xuất vật chất xã hội đã phức tạp, bước chuyển về mặt lối sống càng phức tạp hơn. Đặc
biệt, lối sống truyền thống, vốn dựa trên nền sản xuất tiểu nông, có nhiều nhân tố không
tương hợp với tính chất của kinh tế thị trường. Có thể nói, ngoài mặt tích cực thì mặt trái
của kinh tế thị trường có tác động tiêu cực làm phai nhạt lối sống tình nghĩa, làm rạn vỡ tinh
thần tập thể, sự ổn định gia đình, đồng thời làm nảy sinh lối sống cá nhân chủ nghĩa, lối
sống gấp, trụy lạc, vv…
Vì vậy, để xây dựng lối sống của con người Việt Nam trong thời đại văn minh hiện
nay chúng ta cần tập trung vào các nội dung sau:
Một là, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trên cơ
24
sở đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng
và hoàn thiện chính sách xã hội; đẩy mạnh phát triển văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học
công nghệ; xây dựng đội ngũ trí thức; đảm bảo và phát huy quyền con người, quyền công
dân.