Khóa luận tốt nghiệp Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho HSTH trường Tiễu học xã Hải Ninh huyễn Hải Hậu tỉnh Nam Định - Pdf 41

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
GV

:

Giáo viên

HS

:

Học sinh

SGK

:

Sách giáo khoa

SGV

:

Sách giáo viên

ĐH

:

Đại học


PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục Tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết
sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở thành người có ích trong giai đoạn mới. Đảng
ta đã nhận định “Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân ”, nền tảng
có vững chắc thì toàn hệ thống mới tạo nên cấu trúc bền vững và phát triển hài hòa.
Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm hình thành cho học sinh cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về trí tuệ, thể chất tình cảm và các kĩ năng cơ bản.
Ở Tiểu học, Chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện mục
tiêu của môn học “Tiếng Việt” là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩ năng nghe cho
học sinh, kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt và phát triển tư duy cho
học sinh. Mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, con người, góp phần hình thành nhân
cách con người mới. Phát triển tiếng mẹ đẻ cho học sinh trong đó có năng lực chữ
viết. Dạy tốt Chính tả cho học sinh tiểu học là góp phần rèn luyện một trong bốn kĩ
năng cơ bản mà các em cần đạt tới. Đó là kĩ năng viết đúng, muốn viết đúng được câu
văn, đoạn văn thì trước hết học sinh cần viết đúng đơn vị từ .Chính tả được hiểu là hệ
thống quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ. Nói cách khác,
chính tả là những chuẩn mực của một ngôn ngữ được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn
dân. Mục đích của nó là làm phương tiện cho việc giao tiếp bằng ngôn ngữ, đảm bảo
cho người viết và người đọc thống nhất những điều đã viết.
Việc rèn luyện các quy tắc chính tả sẽ hình thành kĩ năng viết đúng đơn vị
từ của học sinh, khi các em đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện học
tốt các môn học khác và trên cơ sở đó, các em rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng
việt có hiệu quả. Trong suy nghĩ và giao tiếp đặc biệt là giao tiếp bằng ngôn ngữ
viết, người xưa thường nói: “Nét chữ nết người - Văn hay chữ tốt". Quả thật


muốn mà người nghe muốn truyền đạt. Vì vậy việc rèn luyện, đề xuất các biện pháp
khắc phục lỗi chính tả cho HS Tiểu học là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu quan tấm,
tìm hiểu. Cụ thể với những cuốn cơ bản như:
Cuôn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1” của tác giả Lế Phương Nga - Lê A Lế Hữu Thỉnh - Đỗ Xuân Thao - Đặng Kim Nga (NXB Đại học sư phạm Hà Nội,
2003) cũng đề cập đến phân môn Chính ta về: mục tiếu, cơ sở tâm lí học, ngôn ngữ
học của viếc dạy chính tả, một số nguyến tắc dạy chính tả, phương pháp dạy chính tả.
Trong cuôn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” (Giáo trình chính thức đào tạo
GV Tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12 + 2) của Lế A - Thành Yên Mĩ - Lế


Phương Nga - Nguyễn Trí - Cao Đức Tiến cũng đua ra cơ sở lí luận và một số phương
pháp dạy Chính tả.
Cuôn “Vui học Tiếng Việf’ (Trần Mạnh Hưởng, NXB Giáo dục 2000). Tài liệu
này đã biến soạn những trò chơi, những bài tập vui nhẹ nhàng về tiếng Việt theo yếu
cầu kiến thức kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Qua đó giúp HS rèn luyện tốt
các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, trong đó có kĩ năng nói và viết chính tả được chú
trọng.
Hầu hết các tác giả đều đề cập đến những vấn đề về phân môn Chính tả nhưng
còn mang tính chất lí thuyết, chung chung. Để kế thừa và phát huy các tinh thần, tư
tưởng của các công trình nghiến cứu nói trến, đồng thời đề xuất một số biện pháp
khắc phục lỗi chính tả cho HS lớp 3, tôi chọn đề tài: “Mỗt sỗ biện pháp khắc phục lỗi
chính tả cho HSTH trường Tiệu học xả Hải Ninh huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định”.
3. Mục đích nghiện cứu
Chính tả là một phân môn quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và
môn Tiếng Việt nói riếng. Qua việc học chính tả các em nắm, biết được cách phát âm
đúng, chuẩn tiếng Viết:. Từ đó các em có thói quen viết đung chính tả, giúp các em
tiếp thu tri thức khoa học nhưng trến thực tế, hiện tượng viết sai lôi chính tả vẫn còn
tồn tại.
Vì vậy thực hiện đề tài, tôi mong đề xuất được các biện pháp có hiệu quả trong
việc sửa lỗi, rèn kỹ năng và khắc phục lỗi chính tả cho HS Tiểu học nói chung. Qua

Ninh - Hải Hậu - Nam Đinh.
5. Nhiệm vụ nghiễn cứu
Ngoài việc nậng cao chất lượng toàn diện giao viên còn phải quan tậm đến chữ
viết của học sinh. Chữ viết có đẹp , đúng chính tả thì mới hấp dẫn được người đọc.
Chữ viết có đúng thì người đọc mới dễ dàng hiểu rõ nội dung của bài văn mà mình
muốn diễn đạt. Do đó viêc dạy phân môn Chính tả trong trường Tiểu học là rất quan
trọng mà giáo viên cần phải quan tậm. Vì vậy để nghiên cưu đê tài này thì cần phải:
Tìm hiểu cỏ sở lý luận của dạy học Chính tả và thực trạng của việc phát ậm
tiếng Việt cũng như viết chính tả của HS ở Trường Tiểu học Hải Ninh - Hải Hậu Nam Đinh.
Tìm hiểu thực trạng lỗi chính tả của HS lớp 3 trưỏng tiêu hoc Hai Ninh.
Đề xuất một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho HS địa phưỏng.
4

Thể nghiệm để khẳng định tính khả thi của đề tài.
6. Phương pháp nghiện cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiến cứu của đề tài đề ra ở trến, tôi xây
dựng nhóm phương pháp như sau:
- Nhóm phương pháp nghiến cứu lý thuyết:
+ Nghiến cứu tài liệu và các văn bản chỉ đạo của các cấp có liến quan đến
đề tài.
- Nhóm phương pháp nghiến cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra.


+ Phương pháp quan sát.
+ Phương pháp trò chuyện.
+ Phương pháp thu thập thông tin.
+ Phương phap thực nghiếm.
- Nhóm phương pháp hỗ trợ.
+Thống kế



PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
1.1.
1.1.1.

Cơ sở lí luận
Cơ sở tâm lí học và cơ sở ngôn ngữ học
Lỗi chính tả là những sai lệch trong cách phát âm dẫn đến viết sai so với cách

phát âm chuẩn làm cho người đoc ngươi nghe khó hiểu thậm chí hiểu sai thành một
nghĩa khác.
Việc dạy Chính ta cho HS trương T iếu hoc Hai Ninh có thể chấp nhận theo ba
vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc bộ, phương ngữ Trung bộ, phương ngữ Nam bộ
nơi HS sinh sống. Với HS ở trương tiếu hoc Hai Ninh - Hải Hậu - Nam Định theo
chuẩn phương ngữ Bắc bộ.
Đối với HS lứa tuổi tiểu học - là giai đoạn các em chuyển từ hoạt động chủ đạo
là vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập. Đặc biệt, HS lớp 3 ghi nhớ không chủ
định cũng dần chuyển sang ghi nhớ có chủ định. Hơn nữa, khi học qua phân môn Học
vần, hầu hết các em đã đọc thông viết thạo. Tuy nhiến, đối với HS trương T iếu học
Hải Ninh ngôn ngữ đia phương đa làm ảnh hưởng đến cách nghĩ, cách học, đặc biệt là
cách phát âm... nến ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học môn Tiếng Việt cụ thể
là phân môn Chính tả của các em.
Do đó, khi dạy học Chính tả cho HS lớp 3 trương Tiếu hoc Hai Ninh, GV cần
giúp HS hình thành kỹ năng và thói quen phát âm chuẩn khi đoc. Muốn vậy cần cho
các em luyện đọc nhiều. Ngoài ra, trong quá trình luyện phát âm cho HS, GV cần nắm
được chuẩn chính âm (có thể theo ba vùng phương ngữ trến) và chuẩn chính tả (chỉ có
một chuẩn duy nhất) để tránh luyện viết chính tả cho HS không đạt hiệu quả.
Cơ chế của việc phát âm khi đọc là cơ sở của việc dạy viết chính tả. Chính tả

Việc sửa lỗi chính tả cho HS lớp 3 ở địa phưỏng phụ thuộc rất nhiều vào
yếu tố tậm lý của HS. Ở giai đoạn này, các em đã có bước chuyển mới từ hoạt
động chủ đạo là vui chỏi sang hoạt động chủ đạo là học tập và hầu hết các em đã
biết đọc, biết viết. Tuy nhiên, nhận thức của các em vẫn là nhận thức chưa có
chủ định và có thói quen phát ậm của ngôn ngữ đia phưỏng nên ảnh hưởng
8


nhiều đến việc viêt va hoc Chính ta. Do đó GV phải nắm được tậm lý HS, từ đó có
những định hướng sửa lỗi chính tả trong dạy học phận môn Chính tả cho thích hợp, để
HS có kết quả học tập khả quan hỏn.
Ở giai đoạn Tiểu học, do các cỏ quan cảm giác chưa phát triển hoàn thiện nên bộ
máy phát ậm của các em chưa chuẩn các em thường đọc lẫn l/n, ?/~... hoặc đọc các từ
khó còn lệch lạc như: khúc khuỷu, ngoằn ngoèo, rồi... hay những khiếm khuyết nào đấy
trong bộ máy phát ậm sẽ là nguyên nhận trực tiếp gậy ra lỗi chính tả (nói và viết sa).
Ảnh hưởng của cách phát ậm đia phưỏng đã tr ở thành thói quen với HS trong
vung nói chung và HS lớp 3 Trường Tiểu học Hải Ninh nói riêng, khi học một ngôn ngữ
mới các em khó làm quen với thao tác phát ậm mới, nhất là những ậm khó, những ậm
không có trong tiêng đia phưỏng. Bởi vậy khi các em viêt va sử dụng tiếng Việt vẫn còn
mang dấu ấn của tiêng đia phưỏng ở đậu đó trong ậm sắc ngữ điệu. Cụ thể: Các em
không phận biệt đưỏc l /n. Vì vậy có khi đọc và viêt se sai.
Ví dụ: “nên” lai viêt thanh “lên”
“lóp” lai viêt thanh “nóp”

HS lớp 3 trường Tiểu học Hải Ninh có điều kiện sống và hoàn cảnh khác nhau,
nhưng đa phần môi trường sống của các em chủ yếu là người đia phưỏng nên thời gian
sử dụng tiếng Việt chung của các em rất ít, bị bó hẹp. Chính vì vậy khi dạy Chính tả cho
HS lớp 3, GV cần phải chú ý đến cách phát ậm, chú ý sửa lỗi phát ậm cho HS một cách
có định hướng, toàn diện nhằm giúp các em vận dụng có hiệu quả trong học tập cũng
như trong giao tiếp.

nặng); nếu xét về âm điệu.
Bảng 1: Phân loại thánh điệu theo âm điệu
Am điệu

Bằng phẳng

Am vực

Không bằng phẳng
Gẫy

Không gẫy

Cao

Ngang

Ngã

Sắc

Thấp

Huyền

Hỏi

Nặng

Các thanh điệu dễ hòa nhập với nh lau đó là nặng với ngã, sắc với hỏi; điều

tăc, viết năn not tưng net), óc thẩm mĩ (vì phải viết ngay ngắn, thẳng hàng, đep đe.. );
đông thỏi bôi dưỏng cho cac em long yêu quy tiêng Viêt va chư Viêt, cách biểu thị tình
cảm tôt đep đo trong viêc đung chính tả.
1.1.4.

Dạy học Chính tả ở tiểu học

Ỉ.Ỉ.4.Ỉ. Nôi dung chương trình
Lóp Ỉ.
Bôn thang cuôi năm hoc , môi tuận co 1 tiêt tập chep (HS nhín lên bang, nhìn
trong sach in đê chep bai chep dai khoang 15-20 chư).
Yêu cậu: viêt đêu net, rõ ràng, thăng dòng, đung chính tả. Tôc độ chép 15 chữ
trong 15 phút.
Lớp 2.
Môt tuận co 2 tiêt Chính tả. Có 3 hình thức chính tả : tập chep (nhìn lên bảng,
nhìn sách); giáo viên đoc, HS viêt chính tả; viêt cac căp tư dê lận lôn phu ậm đậu, vận,
thanh. Bài chính tả dài 20 - 30 chư.


Yêu cậu : chư viêt đêu net, rõ ràng, thăng dong, viêt hoa chư cai đ ầu tiên và tên
riêng, tôc độ viêt 40 chư trong 15 phút.
Lơp S.
Môi tuận co 2 tiêt Chính ta . Có 3 hình thức chính tả : GV đoc, Hs viêt chính tả,
viêt chính tả theo trí nhớ một đoạn bài học thuộc lòng ; viêt cac căp tư dê lôn phu ậm
đậu, vận, thanh. Bài chính tả dài khoảng 80 chư.
Yêu cậu: chư viêt đêu net, rõ ràng. Tôc đô viêt 60 dòng trong 15 phút.
Lơp 4.
Môi tuận co 1 tiêt Chính ta. Có 2 hình thức chính tả : GV đoc, HS viêt ; viêt cac
căp tư dê lận lôn phu ậm đậu , vận, thanh va phận biêt nghía cac tư đo trong khi viêt.
Yêu cậu : chữ viêt đêu net, rõ ràng, sạch sẽ, không măc lôi chính tả thông thưỏng.


+GV cho HS viêt vao bang con môt sô tư kho ma cac em đa
học ở tiết trước
+Kiêm tra bai chính tả HS làm ở nhà
+GV nhận xet va chậm điêm môt sô bai.
13

Hoạt động 2. Dạy bài mớ^
Bươc 1. Giơi thiếu baii

GV nếu tến bai va đoc mâu. Sau đo cho 1 HS đoc lai bai chính


tả sắp viết.
Bươc 2. Hương dân chính tải

+ GV đăt môt sô câu hoi ngăn gon đế HS tím hiếu hoăc tai hiến lại nội
dung bài chính tả.
+ Hương dân HS nhân xet bai chính tả theo gợi ý trong SGK (cách
trình bày bài văn, bài thơ. ).
+ Hương dân HS tâp viết 1 sô tư kho.
Bươc 3. Hương dân HS viết chính tải

* Đối với bài chính tả tập chép.
GV yếu câu HS nhìn bang hoăc nhìn SGK để chép. (Chú ýi yêu câu
HS đoac nhâm ca câu ngăn, cả cụm từ rồi viết liền mạch).
* Đối với bài chính tả nghe - viết (đoc - chép).
GV đoc trươc môt lân toan bô bai . Sau đo đoc tưng câu ngăn , tưng cum tir để
HS viết (nến đoc 3 lân). Cân đoc ro rang từ, cụm từ phải có nghĩa. Sau khi viết xong GV
đoc lai toan bai đế HS tư soat lại. (Lưu yi Khi đoc cho HS viết GV nến đưng giưa lơp,


Cơ sở thực tiễn
Thực trạng củả việc dạy và học Chinh tả trong nhả trương


•o







o

o

Ỉ.2.Ỉ.Ỉ. Vê phía giao viên
Hiện nay ở các trường Tiểu học miền xuôi nói chung đặc biệt là trường Tiểu
học Hai Ninh thuộc địa bàn huyện Hai Hậu tính Nam Đinh nói riêng phần lớn bộ
phận các GV trong nhà trường đã có sự quan tậm rất nhiều tới vấn đề noi va viêt
chính tả của các em HS. Vì vậy nhiều GV đã có những đề xuất về phưỏng hướng
sửa lỗi chính tả cho HS nhằm giúp các em rèn luyện kỹ năng nói và viết chuẩn .
Tuy nhiên bên cạnh sự quan tậm sát sao đó thì thực trạng sửa lỗi chính tả cho HS ở
trường Tiểu học Hai Ninh còn tồn tại nhiều hạn chế Cụ thể là:
* Trình độ của GV chưa đồng đều
Chất lượng dạy Chính ta cho HS Tiểu học trước hết phải nói đến trình độ
đã được đào tạo của đội ngũ GV. Trình độ đào tạo của GV ảnh hưởng không
nhỏ và là yếu tố trực tiếp tác động đến chất lượng học của HS. Đều là GV Tiểu
học và với cùng một chưỏng trình đào tạo như nhau nhưng thời gian đào tạo của

nhưng có thể quến ngay sau đó. Do vậy, hiệu quả giờ học mang lại của các môn học nói
chung và phân môn Chính ta nói riếng là rất thấp.
Tuy nhiến phải nói thếm rằng, bến cạnh những GV vẫn duy trì cách dạy truyền
thống như trến thì vẫn có một số bộ phận GV tiếp thu được và đã có một số đổi mới
trong phương pháp truyền đạt kiến thức của mình đến cho HS trong
các giờ học của các phân môn hay môn học khác. Còn đối với phân môn Chính
16


tả thì phần lớn vẫn duy trì cách dạy truyền thống cũ ; điều đó cũng là nguyến nhân ảnh
hưởng đến chất lượng dạy học Chính ta trong nhà trường.
2. Những khó khăn về đời sống riếng tư cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng
dạy của GV cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giảng dạy
Đời sống của môt sô GV còn gặp rất nhiều khó khăn về: kinh tế, hoàn cảnh gia
đình,. đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giảng dạy của GV. Thực tế đã cho thấy,
kinh tế của người GV chưa ổn định sẽ kéo theo nhiều vấn đề như: Đến trường muộn,
chưa thể vận dụng tối ưu các phương pháp, hình thức và phương pháp dạy học phong
phú (máy chiếu, bảng phụ, các tư liệu, tài liệu tham khảo, các đồ dùng phục vụ cho
giảng dạy. ) Ngoài ra kinh tế gia đình chưa ổn định, người GV chưa thể yến tâm công
tác mà cái lo nhiều vẫn là “cơm áo, gạo tiền”. Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để họ
giảm bớt mối lo trến, để giúp họ cải thiện đời sống yến tâm công tác.
Bến cạnh đó cơ sở vật chất của trường còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất chưa thể
đáp ứng được nhu cầu dạy và học: bàn ghế thô sơ, đồ dùng phục vụ cho việc dạy và học
còn thiếu thốn chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học. Điều này đã gây ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình giảng dạy của GV.
3. Những vấn đề đặt ra từ khảo sát
Từ thực trạng trến đã đặt ra một việc hết sức cấp bách và cần thiết đó là việc sửa
lỗi chính tả và rèn luyện c ách viết va noi cho HSTH nói chung và HS lớp 3 của Trường
Tiểu học Hải Ninh nói riêng. Đưa các em nói đúng, viết chuân là việc rất quan trọng để
các em học tập tốt hơn, nâng cao việc tiếp thu tri thức khoa học để trở thành người có

Nói và viết sai ngay ở các lớp đầu cấp sẽ hình thành thói quen và ảnh hưởng
không nhỏ đến sau này; nói và viết không chỉ là công cụ giúp HS chiếm lĩnh văn
hóa, trau dồi kiến thức, tư duy để học tập mà còn tạo điều kiện ban đầu trong hành
trang ngôn ngữ cả đời người trong các em. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, phận
môn Chính tả phải là môn học được coi trọng trong nhà trường; thế nhưng trên thực
tế lại không như vậy, không riêng gì với HS trường Tiểu học Hải Ninh mà hầu hết
các em HS vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn Chính tả. Điều đó
được thể hiện cụ thể: theo thống kê phiếu điều tra khảo sát HS lớp 3 của Trường
Tiểu học Hải Ninh - Hải Hậu - Nam Định mà tôi tiến hành nghiên cứu cho thấy:
có tới 65% HS là không thích học phận môn Chính tả, 35% thích và rất thích
học môn này khi hỏi: “em có thích học Chính tả không?” hay với cậu hỏi: “theo
em, phận môn Chính tả có vai trò như thế nào?” thì có tới 61% HS trả lời không
18


quan trọng, chỉ 39% HS cho là quan trọng và rất quan trọng. Còn với câu hỏi: “em
dành thời gian như thế nào đối với việc học phân môn Chính tả?” đa số các em trả lời
dành thời gian ít (chiếm 58%) hoặc không dành thời gian (chiếm 25%), rất ít HS trả lời
dành nhiều thời gian cho môn học (chỉ với 17%) và bình thường.
Như vậy chúng ta thấy một thực tế của HS lớp 3 Trường Tiểu học Hải Ninh cho
biết là các em chỉ quan tâm tới phân môn Chính tả ở góc độ sử dụng tiếng Việt bằng lời
nói và chữ viết và là một môn học bắt buộc phải học trong nhà trường, chứ chưa nhận
thức được tầm quan trọng của việc học Chính tả, nói và viết thế nào cho đúng, cho
chuẩn, chưa thực sự quan tâm đến lỗi mà mình mắc để nói, viết sao cho đúng, chuẩn
tiếng Việt.
Mấy năm gần đây các trường Tiểu học trong huyện Hai Hâu nói chung và
trường Tiểu học Hai Ninh nói riêng , phong trào chữ viết đã được chú trọng và ngày
càng nâng cao. Tuy nhiên, qua khảo sát bài viết của học sinh khối lớp 3 còn hạn chế.
Nhiều em chưa nắm vững các quy tắc, mẹo luật chính tả, có em phát âm sai dẫn đến bài
viết sai nhiều lỗi chính tả. Mặt khác một số em do thiếu cẩn thận nên để thừa hoặc thiếu

27

30

31

34,4

90

+ Về lỗi âm đầu:
HS thường viết sai các cặp phụ âm : l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi, ng/ngh, g/gh. Trong đó lỗi
chính tả tập trung ở r/d/gi, ch/tr, l/n, s/x. ( khoảng 70%)
+ Về lỗi phần vần:


HS vẫn còn lẫn lộn các cặp vần : ui/ uơi, in/inh, ưu/ươu, iêu/iu (chiếm 80%) hoặc
viết sai ở các vần khó như : uya, uyn, uyt, ươt (chiếm 20%)
+ Về lỗi dấu thanh:
Chủ yếu là sai thanh hỏi / thanh ngã, đặc biệt do các từ láy hoặc từ Hán - Việt, các
em thường không phân biệt thanh hỏi - thanh ngã.
1.2.2.

vế tình hình thực tế học sinh

1.2.2.1.

Thuận lợi

- Sĩ số học sinh không đông, thuận lợi cho việc kiểm tra (chấm bài viết chính tả thường

Số
Lớp

Các lỗi Chính tả thường măc

lượng

Viêt sai phụ âm

Viêt sai phần

Viêt sai vê thanh

HS

đầu: l/n, d/r/gi,

vần: ay/ây,

điệu: ngã/hỏi

khảo

ườu/iêu,

sát

ong/ông,
/V //V /V
ôc/ôôc...

30

21

70

13

43

12

40

3B

30

22

73

12

40

15

50


Học sinh chưa phận biệt được hai thanh hỏi và thanh ngã.
* Ví dụ: nghĩ hè (từ đúng: nghỉ hè ); suy nghỉ (từ đúng: suy nghĩ ); sữa lôi (từ đúng:
sửa lôi ), ...

b. Về âm đầu
- Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các ậm đầu sau đậy:
+ g/ gh: đua ge, gi bài +

ng/ ngh: ngỉ nghơi.
+ c/ k: céo cờ, cẹp tóc + s/
x : sẻ gô, chim xẻ.
+ d/ gi: dữ gìn, da vị.
Qua thực tế giảng dạy môt sô tiêt tôi nhận thấy lỗi về s/x ; g/gh; ng/ngh; d/gi là phổ
biến hỏn cả.
c. Về âm chính
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các ậm chính trong các vần sau đậy:
+ ai/ay/ây: máy bây (máy bay).

+ oe/eo: sức khẻo (sức khỏe).
+ ăm/âm: đỏ thấm (đỏ thắm); tối tâm (tối tăm).
+ăp/âp: gập gỡ (gặp gỡ).


+ ip/iêp: nhân diệp (nhân dịp).

+ ui/ uôi: cuối đầu (cúi đầu); cúi cùng (cuối cùng).
+ ưu/ươu: mươu trí (mưu trí); con hưu (con hươu).
>

đv


“nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, lan ân hận quá”.
* Viết hoa tùy tiện:
Ví dụ: Nghe - viết: Người mẹ (TVS - Tập 1), tr.30


- Câu: Thần không hiểu rằng: vì con người mẹ có thể làm được tất cả. Học sinh lại viết:
“Thần không hiểu rằng: Vì con, Người Mẹ có thể làm được tất cả ”.
Ngoài ra ở một số bài viết, học sinh trong lớp còn mắc các lỗi khác nhự: Trình
bày chựa sạch, chữ viết còn thiếu nét, thừa nét (ví dụ: “mềm” lại viết là “mền “miền Nam'"
lại viết “miềm Nam”).
Qua khảo sát thống kê tôi thấy hầu hết các loại lỗi chính tả các em đều mắc (kể cả
học sinh khá, giỏi) số lỗi mà các em mắc nhiều nhất là lỗi viết hoa, lỗi phụ ấm đầu và lỗi
ấm chính. So với yêu cầu về kĩ năng viết chính tả (không quá 5 lỗi trong một bài) thì
trình độ kĩ năng viết chính tả của học sinh còn quá thấp (số bài có từ 6 lỗi trở lên chiếm
41%: khảo sát chính tả đầu năm).
Thực trạng trên đấy là rất đáng lo ngại đòi hỏi mỗi chúng ta cần phải nghiên cứu
và tìm ra nhiều biện pháp giúp đỡ các em khắc phục lỗi chính tả.
- Qua nghiên cứu phấn tích, nguyên nhấn chủ yếu dẫn đến việc viết sai lỗi chính tả của
học sinh là do phát âm sai thanh hỏi/ thanh ngã lẫn lộn.
Ví dụ : Suy nghĩ/suy nghỉ

Nghĩ ngợi / nghỉ ngợi Cũ kĩ
/ củ kỉ
Dọ đặc điểm phường ngữ của học sinh còn phát ấm sai các tiếng có phụ ấm đầu
tr/ch, s/x, d/r/gi, l/n, nên dẫn đến việc phát ấm sai các tiếng có phụ ấm này:
Ví dụ : giải phóng / dải phóng; rì rào/dì dào xúc

động / súc động truyền thống / chuyền
thống là nếp / nà nếp long lanh / nong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status