Khóa luận tốt nghiệp Đặc điểm truyện viết cho thiếu nhỉ của tô hoài - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TR ỜNG ĐẠI HỌC s PHẠM HA NỘI II
=====&&&=====

1
PHẠM THỊ THU HÀ

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN VIÊT CHO THIÊU NHI
CỦA TÔ HOÀI
Chuyên ngành: Lý luận văn học Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VÃN THẠC sĩ: NGÔN NGỮ VÀ VÃN HÓA VIỆT NAM

Ng- ời h- ớng dẫn khoa học: PGS, TS Tôn Thảo Miên

HÀ NỘI, 2013

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Tôn Thảo Miên, cô giáo đã trực tiếp
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong Phòng sau Đại học, Khoa Lí luận
Văn học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và
nghiên cún.
Tôi xin cảm ơn những nhận xét, góp ý quí báu của thầy cô phản biện và các thầy cô trong Hội
đồng bảo vệ luận văn.


Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân, gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tận
tình đế tôi hoàn thành luận văn này!
2
Hà Nội, thảng 6 năm 20 ì3

Hà Nội năm 1970 với tiểu thuyết Quê nhà, giải th-ởng của Hội 3nhà văn Á - Phi năm 1970 với tiểu
thuyết Miền Tây, giải th-ởng Hồ Chí Minh về Văn hóa - nghệ thuật đợt 1-1996.
1.2.

Trong các tác phẩm của Tô Hoài có một mảng văn học đặc biệt dành cho tuổi thơ. Với những
sáng tác ở mảng văn học này, ông đ-ợc coi là ng-ời có công đặt viên gạch đầu tiên dựng nên ngôi
nhà văn học thiếu nhi Việt Nam hiện đại. Ông đến với thiếu nhi từ những trang viết đầu tiên của
mình. Với thiếu nhi ông nh- ng- ời bạn lớn tuổi nh- ng vô cùng vui tính, thú vị và mang đến cho các
em những câu chuyện kì thú, lôi cuốn, rất phù hợp với lứa tuổi trẻ thơ. Trong những sáng tác của
ông chứa đựng những t- t- ởng, khát vọng về lối sống cao đẹp, về lòng yêu cuộc sống và tạo vật bao
la, tình yêu th- ơng những ng- ời nghèo khổ, bất hạnh, sự cảm phục những tấm g- ơng anh hùng
trong chiến đấu. Từ trang văn đầu tiên đến những tác phẩm gần đây nhất, Tô Hoài vẫn thể hiện một
tâm hồn t-ơi trẻ, ân cần và cảm thông. Ông viết cho thiếu nhi với tất cả ý thức trách nhiệm, niềm
say mê và tâm huyết của mình. Ông luôn xem văn học thiếu nhi là công cụ có tác dụng giáo dục
trực tiếp và sâu sắc đối với các em.

1.3.

Truyện ngắn của Tô Hoài viết cho thiếu nhi từ lâu đã trở thành một phần quan trọng trong đời
sống tinh thần của các em. Biết bao thế hệ đã đọc và say mê những câu chuyện về chú Dế Mèn, Vố
sĩ Bọ Ngựa, Đám c-ới chuột, Trê và Cóc, Mực tàu giấy bản, Ghẻ đặc biệt, Cậu Miu, Hai con
ngỗng, Bốn con gà, Vện ơi Vện..., hay những tấm g-ơng thiếu nhi anh hùng dũng cảm nh- Kim
Đồng. Vừ A Dính, Hoa Sơn... Những nhân vật trong truyện ngắn của Tô Hoài đã thực sự b- ớc ra
khỏi trang sách, đi vào cuộc sống hàng ngày một cách tự nhiên. Thế giới tuổi thơ với muôn vàn tình
cảm, với những t- ởng t- ợng kì ảo, những ham thích thiết thực và phiêu 1- u, những rung động tinh
tế tr- ớc cái đẹp của cuộc đời và thiên nhiên đều đ-ợc Tô Hoài thấu hiểu và cảm thông. Trên trang
sách ông đã đoán định những diễn biến tâm lí, mở rộng những tình cảm chân thực và trong sáng
hòa nhập với các em. Ông là nhà văn viết cho thiếu nhi với tất cả ý thức trách nhiệm, với niềm say
mê và tâm huyết của mình. Ông đến với các em bằng tâm hồn nghệ sĩ. Ông đem đến cho các em
một niềm vui, một bài học nhỏ, một lời căn dặn. Với các em thiếu nhi lúc nào ngòi bút của Tô Hoài

lực phát hiện và nắm bắt nhanh chóng thế giới khách quan”, ở các phương diện miêu tả phong tục
tập quán, khung cảnh thiên nhiên, tính cách nhân vật, tìm tòi sáng tạo ngôn từ và cấu trúc câu văn.
Với giáo s- Hà Minh Đức, Tô Hoài là “cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng”, là “một ngòi bút tươi
mới không bị cũ đi với thời gian”.
Giáo s- Phong Lê trong bài Tô Hoài, 60 năm viết...(1999) đã đánh giá chặng đ- ờng sáng tác
60 năm của Tô Hoài qua các giai đoạn tr- ớc và sau cách mạng, những đóng góp của Tô Hoài cho
nền văn học ở các đề tài và thể loại, đồng thời khẳng định vẫn “chưa nói hết được những điều muốn
nói” về Tô Hoài.
Ng- ời công trình của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học còn có rất nhiều những khóa luận,
luận văn thạc sĩ bàn về một khía cạnh nào đó trong sáng tác của Tô Hoài. Có thể kể đến Con ng- ờỉ
và không gian ngoại ô trong tác phẩm Tô Hoài tr-ớc Cách mạng (Nguyễn Thị Mỹ Dung, 2002),


Đặc điểm ngôn ngữ miêu tả trong Truyện Tây Bắc của Tô Hoài (Hà Thị Thu Hiền.2004), Đặc điểm
ngôn ngữ trong truyện ngắn của Tô Hoài sau Cách mạng (Trần Hoàng Anh, 2004), Nghệ thuật
trần thuật trong hồi ký của Tô Hoài (Lê Thị Hà, 2007), Thế giới 5nhân vật trong truyện ngắn của Tô
Hoài viết cho thiếu nhi (Phùng Minh Tuân, 2009), Chất trữ tình trong hồi kí của Tô Hoài (Nguyễn
Thu Trang, 2009), V V...
Nhà nghiên cứu Vân Thanh trong Tô Hoài với thiếu nhi (1982) đánh giá cao những đóng góp
của Tô Hoài trong mảng sáng tác cho thiếu nhi ở đề tài phong phú, thể loại đa dạng, nội dung phù
họp với lứa tuổi. Truyện về các tấm g- ơng anh hùng tr-ớc Cách mạng và trong kháng chiến có tác
dụng giáo dục lí t-ởng và đạo đức cho các em sắp bước vào đời. Sáng tác thuộc loại “những mẩu
chuyện nhỏ”, xinh xắn, nhẹ nhàng nh-ng sâu sắc nhằm ca ngợi xã hội mới là viết cho bạn đọc nhỏ
tuổi hơn. Truyện lịch sử viết cho lứa tuổi lớn hơn, gợi khát vọng tìm hiểu đất n-ớc, tình yêu quê hơng, yêu lao động và bài học về ý chí, nghị lực con ng-ời. Bài viết cũng phân tích bút pháp miêu tả
sinh động, khả năng quan sát sắc sảo, yếu tố trữ tình thấm đẫm và nghệ thuật sử dụng ngôn từ sinh
động, cụ thể, phù hợp tâm lí thiếu nhi của nhà văn Tô Hoài.
Giáo s- Hà Minh Đức nhận định: Tô Hoài đến với tuổi thơ từ những trang viết đầu tay của
mình, ở những tác phẩm viết cho thiếu nhi của ông chứa đựng nhiều t- t- ởng đẹp và những chân
trời rộng mở, lòng yêu cuộc sống và tạo vật bao la, tình yêu th- ong những ng- ời nghèo khổ và bất
hạnh, sự cảm phục những tấm g- ơng anh hùng trong chiến đấu... song những t- t- ởng biểu hiện

Tác giả G.Gô- lôp-nep lại nói về sự đón nhận nồng nhiệt của bạn đọc nhỏ tuổi Liên Xô khi Dế
mèn phiêu ỉ- u kí đ- ợc dịch sang tiếng Nga và một số thứ tiếng dân tộc khác ở Liên Xô. Ngoài
ra, ở những mức độ khác nhau, các bài viết của các nhà nghiên cứu Hà Minh Đức, Vân Thanh
đều ghi nhận thành công của Tô Hoài ở mảng sáng tác cho thiếu nhi.
Nhìn chung, ý kiến bàn về tác phẩm của Tô Hoài rất phong phú, việc nghiên cứu về các tác
phẩm của ông nói chung, mảng truyện viết cho thiếu nhi nói riêng sẽ mãi là đề tài nghiên cứu
cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản về ph- ơng diện nội dung và nghệ thuật trong truyện viết
cho thiếu nhi của Tô Hoài.
4. Đối t ợng, phạm vi nghiên cún.
4.1.

Đối t ợng:
Đặc điểm truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

4.2.

Phạm vi:
Thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành thống kê, khảo sát, phân tích và lý giải vấn đề
trong phạm vi hai cuốn Tô Hoài tuyển tập văn học thiếu nhi.{NXB Văn học, 1999)

5. ph ơng pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng một số ph- ơng pháp nghiên cứu sau:
-

Ph- ơng pháp thống kê, khảo sát


-

nghiên cứu Phong Lê đã khẳng định: “Neu sự tồn tại và phát triên của dân tộc, cũng như nhân loại
trong các tương lai gần và xa là đặt vào thế hệ thiếu nhi thì câu chuyện về vãn học thiếu nhi, câu
chuyện về các món ăn tinh thần cho thiếu nhỉ chủng ta bàn hôm nay và ở đây không thế xem là một
câu chuyện nhỏ, ngoài lề mà là câu chuyên nghiêm trang của tất cả mọi người lớn, của các bậc
cha mẹ, của các thầy cô, và cô nhiên, của tất cả những ai viết cho thiếu nhi, của tát cả những ai có
quan tâm và có trách nhiệm đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu nhi
Văn học thiếu nhi có nhiệm vụ chính yếu, đó là giáo dục trẻ em trở thành ngưởi tốt. Văn học
thiếu nhi phải tải đạo. Nhưng tuyệt nhiên ở đây không phải là những lời giáo huấn giá lạnh, khô
khan, hoặc, ngược lại, đây cũng không phải là nhũng chuyện bạo lực, giật gân đế làm cho thiếu nhi
bị thu hút. Văn học thiếu nhi được gọi là hay, là tốt, thường có bên trong một sức mạnh. Đó là sức
mạnh của cái đẹp, sức mạnh của văn chương nghệ thuật. Sức mạnh đó sê đánh thức trong các em
tình cảm và ý nghĩ tốt đẹp, làm cho các em biết tôn trọng, yêu thương, thấy những nghĩa vụ cần
làm, sống có tinh thần nhân ái, biết sống một cách tốt đẹp. Đã có nhiều thông tin trong và ngoài
nước nói về tác dụng cực kì to lớn của sách tốt, sách hay đối với thiếu nhi.


Kinh nghiệm trong và ngoài nước cho thấy đề tài viết cho thiếu nhi rất rộng mở. Từ những
chuyện người thực việc thực, những chuyện của đời thường cho đến chuyện cố tích, thần thoại,
truyện khoa học viễn tưởng, những truyện có đủ mọi phép thần8thông biến hóa đều có thể đến với
các lứa tuổi thiếu nhi. Trẻ em thích những truyện có nhiều tưởng tượng, dí dỏm, tươi vui. Nhưng
trong mọi sáng tác được gọi là hay cho thiếu nhi đều phải mang vẻ đẹp của một sáng tác văn học
chân chính, ơ đó câu chuyện thường có tính điển hình, đúng đối tượng. Ở đó mọi tình tiết xảy ra
đều gắn bó theo qui luật cuộc sống và tình cảm của con người. Đặc biệt nhất ở đây mọi hình tượng
hiện lên sinh động chân thật như hơi thở có nhịp đập, có máu thịt. Đó là tính chân thật hiểu theo
nghĩa rộng. Ở đây mọi tưởng tượng hòa hợp với cái có thật, hiện lên như “thật”, trong lúc ở những
sáng tác dở, lắm lúc cái thật lại hiện lên cái giả tạo.
Văn học thiếu nhi rất kị cái giả tạo, vì nó sẽ làm trẻ em hiểu sai bản chất sự sống. [48,tr.37]
Mọi tiếp nhận văn học của thiếu nhi từng lúc, từng nơi cũng có những biến động, đối mới, nên
mọi sáng tác văn học cho thiếu nhi cần phải nhìn thấy điều đó. Mặt khác cũng phải thấy rõ, mỗi
sáng tác tốt và hay cho thiếu nhi đều có sức mạnh của cái đẹp. Chính nhờ sức mạnh của cái đẹp mà

mình củi xuống mà thực sự hòa nhập vào cuộc sống trẻ thơ và được các em chấp nhận về mặt tình
cảm. ”[48,tr.39]
Văn học thiếu nhi không chỉ có vị trí quan trọng trong nền văn học dân tộc mà còn có vai trò
đặc biệt quan trọng trong đời sống trẻ thơ. Nhiều nghiên cứu cho thấy văn học thiếu nhi đã góp
phần không nhỏ vào việc rèn luyện tư duy; kích thích khả năng tưởng tượng và sáng tạo của trẻ,
cung cấp cho các em những trải nghiệm cuộc sống. Văn học thiếu nhi quan trọng với trẻ em ngay
cả trước và sau khi đến trường. Đối với lứa tuổi mầm non và tiểu học, văn học thiếu nhi còn giúp
cho các em học đọc, học viết. Thông qua các tác phẩm văn học, các em không những tích lũy được
vốn từ phong phú, hiểu được nghĩa của từ ngữ nghệ thuật mà còn biết nâng cao khả năng biểu đạt
trong lời nói. Văn học thiếu nhi cũng giúp cho trẻ em học cách giao tiếp, thấy được nhũng niềm
vui, nỗi bất hạnh của con người trong cuộc đời đế biết cảm thông và chia sẻ.
Trong tham luận “Văn học và trẻ em”, Vân Thanh - một trong những chuyên gia đầu ngành về
văn học thiếu nhi đã trình bày một vấn đề không mới nhưng không bao giờ cũ, đó là mối quan hệ
giữa văn học và trẻ em, cái làm nên giá trị của một tác phẩm viết cho trẻ em.
Lã Thị Bắc Lí trong “Nhận diện Văn học thiếu nhi Việt Nam từ thời kì đôi mới ” đã trình bày
một cách khái quát sự vận động và những thành tựu nổi bật của văn học cho trẻ em ở Việt Nam từ
năm 1986 đến nay. Tác giả đã khẳng định: “Vãn học thiếu nhi Việt Nam từ thời kì đôi mới và hội
nhập quốc tế đã phát triển khả phong phủ, đa dạng trong cách khai thác đề tài, chủ đề, mở ra khả
năng bao quát những bức tranh sinh động về đời sống trẻ em. Không chỉ là tiếp cận trẻ em ở
phương diện ”con ngoan, trò giởi” kiêu truyền thống mà tiêp cận, khám phá trẻ thơ như những sô
phận, những nhân cách được tác động từ nhiêu hướng, nhiều chiều... ”Sự gay gắt của những
chuyến biên kinh tê, xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới văn học, đặc biệt là văn học thiếu nhỉ...ảnh
hưởng trực tiêp tới đời sống tâm hồn và sự phát trỉến nhân cách của trẻ thơ... ”.[32,tr.l0]


Cùng mang cái nhìn tống quát, tác giả Lế Hằng(CĐSP Hà Nội) hướng tới đánh giá sự hội nhập
của văn học thiếu nhi Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa. Tác giả băn khoăn về vấn đề: Quản
tính của vãn học thiếu nhi thời chiến quả lớn hay sự lo lẳng thải
1 quả về nguy cơ “diên bien hòa
bình” khiến vãn học thiếu nhỉ không dám bứt phả đê bãt kịp với sự đôi mới của vãn học thời kì hội

định hướng từ phía gia đình, nhà trường và xã hội.
Tham luận “Sách học cho trẻ em thời kỉ đôi mới và hội nhập
1 quốc tế - đôi điều suy nghĩ” của
Phùng Ngọc Kiếm (ĐHSP Hà Nội), từ việc nêu lên một số nhận xét về thực trạng sáng tác văn học
cho trẻ em, phân tích trên cả hai phương diện “cầu” và “cung”, chia sẻ những suy nghĩ về tình trạng
“thừa” và “thiếu” của văn học thiếu nhi hiện nay, tác giả đã bước đầu đề xuất những ý tưởng trả lời
câu hỏi: làm thế nào để văn học thiếu nhi Việt Nam phát triển?
Ba bản tham luận: “Tơ Hoài và truyện thiếu nhi” (Nguyễn Đăng Mạnh - ĐHSP Hà Nội), “Văn
học thiêu nhỉ: Văn chương của sự nhẹ nhõm, sâu xa” (Nhã Thuyên), “Từ “Thằng quỉ nhỏ ” của
Nguyễn Nhật Ảnh nghĩ về những phẩm chất của một tácphâm viết cho thiếu nhi” (Trần Văn Toàn ĐHSP Hà Nội) đã thê hiện nhũng băn khoăn, lo lắng cho chất lượng của văn học trẻ em hôm nay,
và đưa ra những yêu cầu mang tính gợi mở đối với công việc sáng tác văn học cho trẻ em thời kì
đổi mới và hội nhập quốc tế.
Trong quá trình hội nhập hôm nay, trẻ em Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ tiếp cận văn hóa
xâm nhập không qua thử thách của thời gian, sự kiểm soát của chính quyền, sự lựa chọn của thiết
chế tố chức giáo dục. Đe giúp các em đủ bản lĩnh tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại,
làm giàu thêm bản sắc văn hóa Việt Nam mà vẫn “đề kháng” “miễn dịch” trước làn sóng “xâm
lăng” phản văn hóa đang diễn ra mạnh mè, chúng ta phải xây dựng cho các em được “Nhân cách”
người Việt - cái làm nên sức sống và sự trường tồn của dân tộc việt Nam. Đối với việc hình thành
và phát triển nhân cách thiếu nhi, không gì hơn là tác động của văn học thiếu nhi. Trước yêu cầu
của thời đại, văn học viết cho thiếu nhi cần tích cực vận động cho phù hợp với yêu cầu giáo dục và
thị hiếu trẻ em thời kì toàn cầu hóa.. ”[32,tr.66]
Tác động của văn học thiếu nhi đối với trẻ em không chỉ bó hẹp trong các sáng tác văn học Việt
Nam mà còn là những sáng tác văn học nước ngoài. Qua các tham luận: Các tác phàm vần học
nước ngoài trong chương trình THCS và vấn đề giảo dục nhân cách cho học sinh (PGS.TS Lê
Nguyên cẩn - ĐHSP Hà Nội); Đôremon truyện tranh Nhật Bản trong thời toàn cầu hóa (TS Đào
Thu Hằng - ĐHSP Hà Nội); Andecxen “Cỏ bẻ bản diêm” và những câu chuyên muôn thuở
(PGS.TS Lê Huy Bắc - ĐHSP Hà Nội); Tagore nhà sư phạm lớn (TS Nguyễn Thị Mai Liên - ĐHSP
Hà Nội); Sức hấp dân vãn học viết thiêu nhỉ qua hình tượng “Nhóc Nicolas ” (PGS.TS Nguyễn Thị
Bình - Ths Nguyễn Thị Thanh Hải - ĐHSP Hà Nội); “Nhóc Nicolas -Những chuyện chưa kê” đang
được kê (Ngô Thị Thu Hiền); Điều lẳng đọng trong “Những tầm lòng cao cả ” (Nguyễn Thị Hằng Đại học Tây Bắc)...Các tác giả đều khẳng định: dù ở đâu trên thế giới, trẻ nhở luôn nhận được

bạo hon nữa. Không phải những tưởng tượng viển vông tách rời hiện thực, mà phải đi sâu vào hiện
thực một cách khái quát hơn, bản chất hơn. Dù mơ mộng đến đâu, lùi xa về quá khứ hay viễn tưởng
đến tương lai thì nơi khởi đầu và chỗ đến cuối cùng của chúng ta vẫn là sự chân thật của ngày hôm
nay” [44,tr.l06-107]. Có nghĩa là truyện viết cho thiếu nhi phải gần gũi với cuộc sống, gần gũi với
suy nghĩ của các em. Thiếu nhi là những cô bé cậu bé dễ tin, dễ tưởng tượng, nên theo Vân Thanh
“Chân thật trong từng chữ từng câu, trong cảm xúc, suy nghĩ, hành động của nhân vật và quan trọng
hơn là chân thật nghiêm túc trong những vấn đề của thực tại, trong những quy luật chi phối cuộc
sống hàng ngày” [44,tr.l07].
Có thế thấy, điều quan trọng khi viết truyện cho thiếu nhi là các nhân vật, hoàn cảnh, hành động
phải có sức thuyết phục. Vì các em vốn dễ vui cùng niềm vui của nhân vật, dễ buồn cùng nỗi buồn
của nhân vật. Những hình tượng nhân vật mà các em yêu thích sê ở trong trí nhớ của các em suốt


cuộc đời. Tác phẩm thiếu nhi muốn có tính thuyết phục thì “Vấn đề là người viết phải lựa chọn
được góc độ và cách nói phù hợp với tầm hiểu biết và sự quan tâm, sự thích thú của từng lứa tuổi
các em. Dĩ nhiên là nói đến cái lỗi thời, cái thấp kém, cái bi, cái1mục nát là đế phủ định nó, để làm
cho cái mới, cái đẹp càng mới và càng đẹp hơn. Mặt khác tâm hồn trẻ thơ rất xa lạ với sự nghiêm
nghị, với thái độ thờ ơ, với những nỗi u sầu;
chúng tôi muốn trang sách viết cho các em là những trang sách kỳ diệu, vừa gợi cảm vừa gây cười,
vừa hồn nhiên vừa lộng lẫy” [44,tr.l07].
Truyện viết cho thiếu nhi có nội dung trong sáng, phong phú và toàn vẹn. Các em chưa trưởng
thành đế hiếu những mâu thuẫn sâu sắc của thời đại, của tâm hồn con người. Nhung các em có nhu
cầu khám phá cuộc sống, tìm hiểu quá khứ, hiện tại, và tương lai. Với các em, “cuộc sống mở ra
trên từng trang sách; đọc sách các em sẽ biết được nhiều điều mới mẻ, nhiều tấm gương, nhiều lời
khuyên nhủ. Chúng tôi muốn cuộc sống trong sách cho các em là một cuộc sống không bị cắt xén,
một cuộc sống toàn vẹn phong phú, đa dạng trong đó có người lớn và trẻ em, có ngày hôm qua,
ngày hôm nay và cả ngày mai” [44,tr.l06].
Truyện viết cho thiếu nhi không dễ, nhà văn khi sáng tác phải thật sự trẻ hóa chính mình, biết
đứng ở vị trí các em để hiểu tâm lý các em, hiểu những nhu cầu của các em. Theo Lã Thị Bắc Lý:
“Văn học thiếu nhi có nhiều cái khó so với văn học cho người lớn. Ngoài tất cả những yêu cầu của

Truyện viết cho các em cũng vậy, nhà văn Xecgay Mikhancop- Chủ tịch Hội nhà văn nước Cộng
hòa Xô viết liên bang Nga, Bí thư lãnh đạo Hội nhà văn Liên Xô đã viết: “Thật vây, tương lai của
nhân loại tùy thuộc nhiều ở lý tưởng và đạo đức của chúng ta sẽ gieo trồng vào thế hệ đang lên.
Khả năng giáo dục to lớn của sách văn học thì ai cũng rõ... Tất cả chúng ta đều đều đồng ý rằng một
đứa trẻ biết đọc thì tốt hơn nhiều so với đứa không đọc gì, rằng một cuốn sách viết cho trẻ mà hay,
lý thú và tốt lành lại in đẹp, là một điều kì diệu [43,tr.l0]. Có nghĩa, truyện dành cho các em là cuốn
sách hay, giàu giá trị giáo dục. Nội dung truyện có sức lôi cuốn hấp dẫn, giúp các em dần tiếp cận
và thích thú với nền văn học chân chính. Bồi dưỡng các em sức mạnh, ý chí, niềm tin hướng về giá
trị đích thực của văn minh và văn hóa.
Mikhain Panitsơ cũng khắng định: “Khát khao hiếu biết, nhu cầu tìm tòi thật là lớn trong trẻ em”
[43,tr.39]. Các em luôn muốn nghe lời giải thích về những điều mà các em chưa hiểu. Người lớn
nhiều khi cũng khó nắm bắt được thế giới riêng của các em, cho nên “theo dõi cách xử sự của trẻ
em, ta đi đến chỗ tự hiểu ta hơn. Dĩ nhiên với điều kiện là biết quan sát và muốn tự hiếu mình. Tự
hiếu mình là điều khó. Hiếu trẻ còn khó hơn. Trẻ cách xa ta về tuổi tác, về thời gian và xa hơn, bởi
điều kiện sinh sống... Trẻ em chia sẻ với ta trong thế giới ta đang sống và đồng thời trẻ lại ở một thế
giới khác” [43,tr.l 1]. Thế giới trẻ em có vô vàn cảm xúc, một thế giới được nuôi dưỡng bởi những
ý nghĩ hồn nhiên, và trí tưởng tượng vô hạn. Viết truyện cho các em, là hiểu thế giới ấy. Mikhain
Panitsơ nói thêm: “Đó là những cuốn sách đã thể hiện trước hết niềm vui gặp gỡ thế giới trẻ em, cái
thế giới bao la, trong sáng và phức tạp, không phải lúc nào cũng dễ hiếu nhưng luôn luôn giàu có và
rối ren. Gặp gỡ với một thế giới luôn vận động và biến đổi thường kì. Háo hức những cảm xúc mới


lạ, kích động, sợ sệt, tìm tòi, lánh né, khó bảo, tốt lành hay độc ác, trẻ em ta không thể là cái gì
khác, chúng luôn lên đường, lên đường tìm kiếm một cái gì” [43,tr.43].
Nhà văn Nga L. Đolexcaia cho rằng các em là những nhà hiện
1 thực ngây thơ. Vì lẽ đó, tất cả
những gì thế hiện trong tác phấm nghệ thuật các em đều phải như những điều có thật. Có nghĩa
“cần phát triển một cách tế nhị và thận trọng thái độ đối với văn học của các em từ mức hiện thực
ngây thơ đến việc lĩnh hội văn học như một nghệ thuật” [43,tr.50].
Nhà văn viết cho thiếu nhi là người thấu hiếu được tâm hồn trẻ thơ. “Một tác phẩm viết cho trẻ

cho thiếu nhi phát triển toàn diện và phong phú hơn. Có một bộ phận chuyên về văn học thiếu nhi


do Tô Hoài và Hồ Trúc đảm nhiệm. Thời kì kháng chiến chống Pháp 1946- 1954, dù bộn bề trăm
công nghìn việc, Bác Hồ vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến thiếu nhi và văn học thiếu nhi.
Trong “Thư trung thu gửi các cháu nhi đồng” Bác viết: “các cháu
1 phải yêu Tố quốc, yêu đồng bào,
yêu lao đ ộ n g . . L ờ i dạy ấy của Bác sau này đã trở thành đề tài, chủ đề và nội dung của các tác
phẩm văn học thiếu nhi. Nguyễn Huy Tưởng viết “Tìm mẹ”, “Chiến sĩ calô”, “Hà Học Hợi học sinh
gương mẫu”, “Hai bàn tay chiến sĩ”, “Điện Biên của chúng em” đều nói về những em bé mưu trí,
dũng cảm giúp bộ đội chiến đấu. Nguyễn Tuân viết tác phẩm “Chú Giao làng Sen”, Nguyên Hồng
viết “Dưới chân cầu mây”, Tô Hoài viết “Hoa Sơn” cũng đều đề cập đến nhũng tấm gương dũng
cảm của các em, đến công sức của các em trong sự thắng lợi của cuộc kháng chiến. Thời kì này,
nhà thơ Tố Hữu có làm nhiều bài thơ hay trong đó “Lượm” là bài thơ nổi tiếng về lòng yêu nước
dũng cảm. Chiến thắng thực dân Pháp, nhưng Việt Nam vẫn bị chia làm hai vùng miền. Văn học
thiếu nhi thời kì 1954- 1964 tiếp tục khai thác về đề tài kháng chiến chống Pháp. Đội ngũ sáng tác
truyện cho thiếu nhi có: Tô Hoài viết “Vừ A Dính”, Bắc Thôn viết “Hai làng Tà Pình và Động Hía”,
Đoàn Giỏi viết “Đất ròng Phương Nam”, Võ Quảng viết “Cái Thăng”, Xuân Sách viết “Đội du kích
thiếu niên Đình Bảng”, Bùi Hiển “Bên đồn địch”... Nội dung truyện thiếu nhi thời kỳ này là ngợi ca
những người anh hùng nhỏ tuổi.
Vào những năm 60 của thế kỉ XX, ở miền Bắc bắt đầu công cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng
cuộc sống mới. Các tác phấm văn học viết cho thiếu nhi tập trung vào đề tài ngợi ca người lao động
chân chính. Văn Trọng viết “Bí mật ở miếu Ba cô” và “Câu chuyện trên đầm Đông”, Lê Khắc Hoan
viết “Mái trường thân yêu” nói về các em nhỏ trong quá trình hợp tác hóa nông nghiệp. Bùi Minh
Quốc viết “Bé Ly”, Hải Hồ viết “Chú bé sợ toán” giáo dục các em quý trọng sức lao động, biết rèn
luyện mình trở thành người hữu ích trong tương lai. Cũng vào năm 1960, tác giả Nguyễn Huy
Tưởng đã có hai tác phẩm xuất sắc viết về đề tài truyền thống lịch sử, đó là “Lá cờ thêu sáu chữ
vàng” và “Ke chuyện Quang Trung”, về truyện khoa học viễn tưởng thời kì này chưa phát triển, về
thơ ca có các tên tuổi sau: Tố Hữu, Phạm Hổ, Võ Ọuảng, Xuân Tửu, Trần Hoạt... Có thể nói truyện
ký thời kỳ này khá phát triển. Ở dạng tự truyện, Nguyễn Ngọc Kí viết “Tôi đi học”, Ọuang Huy viết

“Miền thơ ấu”, Ma Văn Kháng viết “Côi cút giữa cảnh đời”. Cuộc sống tuổi mới lớn khi đất nước
thống nhất cũng được nhiều nhà văn quan tâm. Tác giả Phạm Hố viết “Tình thương”, Nguyễn
Quang Thân viết “Chú bé có tài mở khóa”, Trần Nhựt Minh viết “Trước mùa mưa bão”. Đe giúp
các em hòa nhập với cuộc sống hiện tại, tác giả Nguyễn Nhật Ánh đã viết “Em gái”, Quế Hương
viết “Kẻ thù”, Cao Xuân Sơn viết “Chị”, Đoàn Thị Lam Luyến viết “Cánh cửa nhớ bà”, Trần Thiên
Hương viết “Ngày xưa”... Với tập truyện “Kính vạn hoa”, Nguyễn Nhật Ánh đã đặc biệt thành công
khi thu hút được sự quan tâm của các độc giả nhở tuổi.
Sau này, văn học thiếu nhi có giải thưởng “Vì tương lai”. Đây là giải thưởng trao tặng cho các
tác giả sáng tác những tác phẩm hay, có giá trị giành cho các em. Nhiều tác phẩm xuất sắc như: “Tu
hú gọi mùa” của Trần Công Nghệ, “Thánh Gióng và bé Nê” của Lưu Trọng Văn, “Kỉ niệm về một
dòng sông” của Đoàn Lư, “Nhành cỏ non” của Trần Quốc Toản, “Mùa hè thơ ấu” của Nguyễn Thị
Châu Giang, “Bạn thành phố” của Nguyễn Thị Thanh Bình, “Mảnh đời trôi nổi” của Lâm Phương,


“Cò trắng vườn chim” của Kim Hài, “Giếng vàng” của Xuân Mai... Tác giả Nguyễn Ọuang Thiều
có những tác phẩm tiêu biểu: “Rùa trắng”, “Bầy chim chìa vôi”, “Bông hoa nước”, “Người cha”.
Những tên tuổi trong “làng văn” thiếu nhi thật sự có đóng góp
1 to lớn, bằng niềm đam mê sáng
tạo họ đã góp phần nuôi dường tâm hồn trẻ thơ. Nhiều tác phẩm hay sống bền bỉ với thời gian,
được các em tìm đọc và yêu mến. Cho đến nay, nhìn lại bộ phận văn học viết dành cho thiếu nhi
ỞViệt Nam không phải là không có hạn chế. Song hạn chế đó là một tất yếu, là động lực giúp các
tác giả chuyên tâm vào đối tượng độc giả nhỏ tuổi sáng tác ngày càng hay hơn, sâu sắc hon, thỏa
mãn được nhu cầu đọc của các em hơn.
1.2.2.2.

Truyện viết cho thiếu nhi ở một số nirớc trên thế giói.

Nhà văn Nga Anhia Bacto từng nói: “Văn học thiếu nhi thế giới có thế đóng góp rất nhiều vào
việc làm cho tâm hồn trẻ nhỏ khắp thế giới xích lại gần nhau, làm cho niềm vui ấy ngày càng phát
triển và sâu sắc” [83,tr.54]. Đúng như vậy, trẻ em- dù ở đâu, dù sống ở thời đại nào vẫn luôn có nhu

tiếng Anh, có lời mở đầu là “Hãy đến đây ta sẽ chỉ cho con tất cả, ta sẽ đọc tên mọi thứ xung quanh
con”. Đây là một cuốn sách thực sự hữu ích, và được xem là cuốn sách có hình minh họa đầu tiên
viết cho trẻ em trong nền văn học thiếu nhi.
Khoảng thế kỉ XVII - XVIII, cuốn sách viết cho thiếu nhi đầu tiên phát hành ở Mỹ có tên gọi là
“Nguồn sữa tinh thần của những em bé Boston ở Anh” (Spiritual Milk for Boston Babes in Either
England), tác giả của cuốn sách là John Cotton. Mục đích của cuốn sách là giáo dục, hướng dẫn dạy
dỗ các em cách cư xử. Sau đó, khoảng năm 1744 tại nước Anh, John Newbery khởi nghiệp ở
London bằng cách mở tiệm The Bible và The Sun ở sân nhà thờ s.t Paul. Đây là nhà xuất bản đầu
tiên và là tiệm sách đầu tiên dành cho thiếu nhi. Ồng đã kí hợp đồng với các tác giả nổi tiếng đế họ
viết truyện, những cuốn truyện dành riêng cho độc giả nhở tuổi. Những cuốn sách này được các em
đón nhận trong niềm yêu thích, đó là cuốn “Cuốn sách bỏ túi dễ thương” (1744), và “Đôi giày nhỏ
nhắn của Goody” (cuốn này có thể được viết bởi Oliver Goldsmith, năm 1765). Nhiều người coi
đây là sự bắt đầu rõ ràng của nền văn học viết thiếu nhi.
Ở Đan Mạch, nhà văn Hans Chiristian Anđecxen được xem là một trong những hiện tượng hiếm
có trong văn học. Tên tuổi nhà văn Andersen được trẻ em nhiều nước trên thế giới biết đến qua
nhũng câu chuyện cổ tích kì thú. Năm 1835, ông bắt đầu sáng tác truyện kể nhan đề “Chuyện kể
cho trẻ em tại Ý”. Từ đó hầu như mỗi năm Andersen cho ra đời một truyện. Ân bản thứ ba của
truyện CO Andersen được xuất bản năm 1837 với nhiều tác phẩm cố tích nổi tiếng như “Nàng tiên
cá”, “Bộquần áo mới của hoàng đế”, “Con vịt xấu xí”... Sau đó là hàng loạt tác phấm “Bà chúa
tuyết”, “Bộ quần áo mới của hoàng đế”, “Cái chuông”, “Chú lính chì dũng cảm”, “Cô bé bán
diêm”... Ông nổi tiếng là một nhà văn viết truyện cho thiếu nhi. Lối văn của ông sâu sắc thâm thúy,
mơ mộng và lãng mạn, vừa hiện thực vừa bi đát. Mỗi tác phẩm đều toát lên tình người, tính lạc
quan và sự khoan dung độ lượng.


Thời kì nở rộ của văn học thiếu nhi Thụy Điển là vào khoảng 1900, với nhiều tên tuổi quan trọng
như Elsa Beskow, Anna Maria Ross và Anna Wahlenberg. Năm 1945, Astrid Lindren bắt đầu thành
công với “Pipi tất dài”. Với tác phẩm này Astrid Lindgren đã góp
2 phần giải phóng văn học thiếu
nhi ra khỏi gánh nặng của chủ nghĩa đạo đức chật hẹp. Trong những sáng tác của mình, Astrid



1.3.1.

Vài nét về tiếu sử nhà văn Tô Hoài

Tô Hoài tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920 trong một gia đình thợ thủ công nghèo ở
làng Nghĩa Đô, phủ Hoài2Đức, nay thuộc phường Nghĩa Đô,
quận Cầu Giấy, Hà Nội. Hoàn cảnh đó khiến nhà văn từ nhở đã sớm hòa mình trong cuộc sống của
gia đình, làng quê lúc phong lưu cũng như khi sa sút, túng quẫn. Tô Hoài cũng đã cảm nhận được
niềm vui và nỗi buồn trong từng bước thăng trầm của làng nghề truyền thống. Tuối thơ của Tô Hoài
hầu như không được sống trong cảnh êm đềm. “Cậu bé Sen” thường được chứng kiến cảnh ông
ngoại nghiện rượu để rồi khi thì ông sinh sự, đay nghiến chửi bà, khi lại rất hiền lành âu yếm kế
biết bao nhiêu là chuyện ngày xưa... Bà ngoại vừa cam chịu, cũng vừa lắm điều nhiều lời. Và các
dì, cuộc sống quẫn bách nên cũng không còn thuần khiết như xưa, cũng cãi lại cha mẹ, cũng tình ý
với thầy giáo làng đế bị đánh ghen giữa nơi Kẻ Chợ, cũng đánh chửi con cải... Chính hoàn cảnh ấy
đã tác động sâu sắc đến nhãn quan của Tô Hoài.
Tô Hoài chỉ được học hết bậc tiểu học, rồi cũng như mọi thanh niên trai làng khác, Tô Hoài sớm
trở thành anh thợ cửi. Nhưng cảnh nhà nghèo, nghề dệt lại lụi bại dần, Tô Hoài lận đận trong mưu
kế sinh nhai. Ông phải đi kiếm sống bằng nhiều nghề: thợ cửi, bán hàng, phụ kế toán, coi kho cho
hiệu buôn giầy, dạy học và còn sống qua những ngày thất nghiệp tủi nhục không một đồng xu dính
túi. Tô Hoài vừa đi làm, vừa tự học, đọc sách báo và tập viết văn. Ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác
của mình bằng một số bài thơ có tính chất lãng mạn, sau đó ông đã nhanh chóng chuyển sang viết
văn xuôi theo xu hướng hiện thực. Đó là một sự tự ý thức sâu sắc, tinh nhạy và từ đó ông đã gặt hái
được rất nhiều thành công.
Tô Hoài sớm giác ngộ cách mạng. Thời kì Mặt trận dân chủ, ông tham gia phong trào hội Ái hữu
thợ dệt ở Hà Đông và Thanh niên Dân chủ ở Hà Nội. Sau đó ông gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc,
hoạt động tuyên truyền Việt Minh, viết báo bí mật. Sau Cách mạng tháng Tám, ông làm báo Cứu
quốc, cơ quan của Tống bộ Việt Minh. Ông đi nhiều nơi: Việt Bắc, Tây Bắc... Đặc biệt Tô Hoài đi
theo bộ đội hàng tháng trời trong chiến dịch lớn, thâm nhập thực sự với quần chủng và đời sống

hoạt động cách mạng. Ồng viết ở nhiều thế loại và thế loại nào ông cũng đạt được những thành
công đặc sắc. Đặc biệt là ở những tác phẩm viết về loài vật và miền núi Tây Bắc. Tô Hoài luôn có
những cố gắng tìm tòi, khám phá trong sáng tạo nghệ thuật, đó là một trong những yếu tố góp phần
làm nên sức hấp dẫn, sức sống và ỷ nghĩa lâu bền ở tác phẩm của ông đối với đời sống tinh thần
của người đọc nhiều thế hệ.
1.3.2.

Nhũng chặng đường sáng tác:
Trước Cách mạng thảng Tám
Tô Hoài đến với nghề văn ở tuổi mười bảy, mười tám. Những sáng tác đầu tay của ông được

đăng trên Hà Nội tân văn và Tiểu thuyết thứ bảy. Tuy xuất hiện ở giai đoạn cuối của thời kì 1930 1945 nhưng Tô Hoài đã sớm khẳng định được vị trí của mình trong đội ngũ nhà văn thời kì này


bằng một loạt tác phẩm độc đáo, đặc sắc như : De mèn phiêu lưu kỉ (1941), Quê người (1941), o
chuột (1942), Trăng thề (1943), Nhà nghèo (1944 )... Từ các tác phẩm này, người đọc dễ nhận thấy
sức sung mãn dồi dào trong lao động nghệ thuật của ông. Sau này,
2 Tô Hoài đã bộc bạch chân thành
qua Tự truyện về việc ông đến với nghề văn, ông viết : “Tôi vào nghề vãn có trong ngoài ba năm
trước Cách mạng thảng Tám, 1945 mà tôi viết như chạy thi được năm truyện dài, truyện vừa, ba
tập truyện ngắn, còn truyện thiếu nhi như De mèn thì mấy chục truyện, cải in, cải chưa in, vương
vãi lung tung tôi không nhớ hết. Cũng chẳng có gì lạ. Viết để kiếm miếng sống lúc ấy tât phải cuốc
khỏe như vậy đấy. ”
Tác phẩm của Tô Hoài trước cách mạng có thế phân thành hai loại chính là : truyện về loài vật và
truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo. Qua những tmyện về loài vật tiêu biểu như : o chuột, Gã
chuột bạch, Tuổi trẻ, Đôi ghi đá, Một cuộc bế dâu, Mụ ngan, Đực..., người đọc nhận thấy, nhà văn
thường viết về cái tốt đẹp, khẳng định cái thiện trong cuộc sống, bày tỏ mong muốn một cuộc sống
hạnh phúc, bình yên trong xã hội, một cuộc sống tốt đẹp mang tính không tưởng.
Trước hết, với De Mèn phiêu lưu kỉ, tài năng nghệ thuật của Tô Hoài được bộc lộ ở nhiều phương
diện. Bằng cách quan sát, cái nhìn tinh tế về loài vật, kết họp với những nhận xét thông minh, hóm

cậu gà trống gi “bé nhở sống côi cút một thân, một mình” thuở nhỏ, nhưng khi lớn lại có “bộ mặt
khinh khỉnh ta đây” và cũng rất đa tình, “có tật mê gái, như cái tính chung của loài gà - cả của loài
người - khi mới lớn lên”, bỏ nhà ra đi vì ái tình, hay dễ quên đi ái tình cũ để “lần mò đi tìm một vài
ái tình khác”. Với chàng gà chọi “nhất sinh chỉ có một nghề đi đánh lẫn nhau cho người ta xem”,
“lúc nào cũng chỉ ngứa ngáy chân tay”, quả không đủ chữ nghĩa để “tả cái oai lẫm liệt của chàng”.
Chàng ta không thiết gì đến con cái, trong đầu “chỉ đen những ý tình ma chuột”, hay “đi ve gái”,
thế mà khi Một cuộc bế dâu xuất hiện, họ nhà gà chết dần, chết mòn, chàng gà chọi dù anh hùng,
lẫm liệt nhưng rồi cũng “tắc thở” đế lại “một mình chị mái già, ra lại vào, ngẩn ngơ”. Với vợ chồng
Đôi gi đá “tựa vợ chồng quê mới rủ nhau lên tỉnh. Họ lờ khờ, ngẩn ngơ, xấu xí - nghĩa là đặc nhà
quê”. Chúng cần mẫn xây tổ ấm, sống hạnh phúc, “bình lặng, chịu khó, ít ồn ã”, chờ ngày đẻ trứng,
chờ ngày trứng nở, chờ những đứa con lớn lên từng ngày... Thế rồi, Tet đến, tiếng pháo no đón
xuân về vô tình đã làm tan tác gia đình chúng. Nghe tiếng pháo “kinh khủng nổ vang động trong
cây, cả nhà cuống cuồng bay đi”. Cuộc sống của đôi vợ chồng chim gi đá rồi sè như thế nào trong
cảnh tan tác đó đã khiến cho người đọc phải ngậm ngùi, xót xa.
Bên cạnh truyện viết về loài vật, mảng truyện viết về cảnh sống đói nghèo cũng được nhà văn
đã miêu tả chân thật và sinh động. Cuộc sống cùng quẫn bế tắc của những kiếp người nghèo khố,
lang thang, phiêu bạt nơi đất khách quê người, những người thợ thủ công bị phá sản xuất hiện dần
qua tùng trang sách với tất cả niềm cảm thông chân thành của nhà văn. Đó là thân phận của bà lão
vối trong truyện Mẹ già buộc lòng nhẫn nhục sống nương nhờ vào con. Chỉ vì một con lợn sống
chuồng mà bà bị chính con gái mình chửi rủa chì chiết đủ điều. Với cách nghĩ của con gái bà thì bà
chẳng khác gì người đi ở mướn, chị ta đã quát : “Thế tôi nuôi bà đế làm gì mà bà lại không trông


được con lợn?”, thậm chí, không cho bà ngủ ở nhà trên mà đuổi bà xuống bếp nằm ngủ ở đống
rơm. Sáng ngày hôm sau cả nhà ăn uống nhưng hình như họ đã quên là có bà hiện diện trong cuộc
sống của gia đình mình. Đó là số phận của chị Hối trong truyện
2 Ông cúm bà co, bị ốm nhưng
không có thuốc men chữa chạy, rồi bệnh nặng dần vì kém hiểu biết, mê tín, kết cục phải “ra đồng”
bỏ lại mấy đứa con thơ dại. Đó còn là tấn bi kịch của anh Gà Gáy trong truyện ngắn cùng tên. Từ
đâu lưu lạc tới không ai rõ, chịu khó làm ăn cho đến khi có một “gia đình nho nhỏ, đề huề sống yên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status