1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch não (TBMN) đã, đang và sẽ là một vấn đề thời sự của y
học hiện đại vì số người mắc rất lớn, chi phí điều trị, chăm sóc hết sức tốn
kém, làm giảm sút chất lượng cuộc sống và ảnh hưởng đến tâm sinh lý của
người bệnh. Theo thống kê của Tổ chức Y Tế Thế giới (TCYTTG) TBMN là
nguyên nhân gây tử vong thường gặp, đứng hàng thứ ba ở các nước phát triển
sau bệnh lý tim mạch, ung thư và bệnh có tỉ lệ tàn tật đứng hàng đầu trong các
bệnh lý thần kinh [1], [2], [3].
Theo kết quả điều tra dịch tễ học của bộ môn Thần kinh Trường Đại học
Y Hà Nội, tại miền Bắc và miền Trung, tỉ lệ mắc TBMN là 75/100.000 dân, tỉ
lệ mới mắc là 53/100.000 dân [4].
Tại Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 130.000 người tử vong do TBMN và có
khoảng 700.000 - 750.000 bệnh nhân mới mắc hằng năm, chi phí cho phục vụ
y tế và chăm sóc liên quan tới TBMN là 51 tỉ đô la Mỹ và là gánh nặng kinh
tế cho gia đình và xã hội. Tại Pháp, tỉ lệ TBMN mới mắc hằng năm là
90/100.000 dân [5], [6].
TBMN được chia làm hai thể chính là nhồi máu não và chảy máu não,
trong đó nhồi máu não chiếm khoảng 85% [7].
Nhồi máu não hay còn gọi là thiếu máu não cục bộ xảy ra khi một mạch
máu bị hẹp hoặc tắc, nhu mô não được tưới máu từ động mạch đó không được
nuôi dưỡng sẽ bị hoại tử. Vị trí ổ nhồi máu não thường trùng với khu vực tưới
máu của động mạch [2], [6].
Não được tưới máu do hai hệ thống động mạch xuất phát từ hệ thống
động mạch chủ: Hệ thống động mạch cảnh trong và hệ thống động mạch thân
nền. Trong đó hệ thống động mạch cảnh trong ở phía trước, rất quan trọng,
cấp máu cho phần lớn bán cầu đại não. Động mạch não trước (ĐMNT) là một
2
Mô tả phân bố yếu tố nguy cơ của nhồi máu não động mạch não trước.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NHỒI MÁU ĐMNT
1.1.1. Nước ngoài
Năm 1676, Willis đã phát hiện ra đa giác Willis, một bước tiến rất quan
trọng để nghiên cứu TBMN [8].
Ở những năm đầu của thế kỷ 21, nhồi máu ĐMNT lần đầu tiên được
nghiên cứu dựa trên kết quả khám nghiệm tử thi. Ngày nay với sự phát triển
của chẩn đoán hình ảnh đã có các nghiên cứu cụ thể về nguyên nhân, đặc
điểm lâm sàng của nhồi máu ĐMNT [9], [10].
Năm 2002, Kumral E, Bayulkem G và cộng sự đã mô tả vị trí tổn thương
có thể gặp trên cộng hưởng từ (CHT) của các bệnh nhân bị nhồi máu não do
tắc mạch trong vùng cấp máu của ĐMNT và chỉ ra rằng đặc điểm lâm sàng
phụ thuộc vào vị trí nhồi máu não. Trong 48 bệnh nhân, nhồi máu não ĐMNT
bán cầu bên trái gặp ở 30 bệnh nhân với các biểu hiện lâm sàng: Câm
(mutism), thất ngôn vận động xuyên vỏ và liệt nửa người ưu thế chi dưới;
nhồi máu não ĐMNT bán cầu bên phải gặp ở 16 bệnh nhân với các biểu hiện:
tình trạng lú lẫn cấp tính và liệt nửa người; có 2 bệnh nhân nhồi máu não
ĐMNT cả 2 bên bán cầu với biểu hiện: Câm bất động, liệt hai chân, tiểu tiện
không tự chủ [11].
Năm 2005, Arboix A. và cộng sự đã nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng
của 51 bệnh nhân bị nhồi máu ĐMNT điều trị tại khoa Thần kinh, Bệnh viện
Sagrat Cor, Barcelona, Tây Ban Nha. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nguyên
5
Năm 1995, Lê Văn Thính đã nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh
của chụp động mạch não và chụp CLVT sọ não ở bệnh nhân thiếu máu não
cục bộ hệ động mạch cảnh trong [16].
Năm 2008, Phương Thanh Hà đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, hình
ảnh học của nhồi máu do xơ vữa mạch thuộc hệ thống động mạch cảnh trong [17].
Ngoài ra còn có nhiều các nghiên cứu đánh giá về chức năng thần kinh
cao cấp ở các bệnh nhân sau nhồi máu não. Năm 2010, Phan Thị Nga đã
nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của một số rối loạn chức năng thần kinh cao
cấp trên bệnh nhân nhồi máu não [18].
Tuy nhiên chưa thấy có nghiên cứu nào riêng biệt về rối loạn thần kinh
– tâm lý ở bệnh nhân nhồi máu ĐMNT.
1.2. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH NÃO
1.2.1. Hệ động mạch não
Não được tưới máu do hai hệ thống động mạch xuất phát từ hệ thống
động mạch chủ:
- Hệ động mạch cảnh trong.
- Hệ động mạch sống nền.
Giữa hai hệ thống động mạch này có sự tiếp nối ở nền sọ tạo nên đa
giác Willis.
Hệ thống động mạch cảnh trong
Mỗi động mạch cảnh trong đều xuất phát từ xoang cảnh (chỗ phân chia
thành động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài) của động mạch cảnh
gốc ở ngay dưới góc hàm. Ở cổ, động mạch cảnh trong nằm ngay phía bên cổ,
dưới bờ trước cơ ức - đòn - chũm. Sau đó chui vào trong sọ nằm trong xoang
6
huy tác dụng, nhờ đó mà tưới máu cho não được đảm bảo [6], [7], [19].
ĐM thông
trước
ĐM não giữa
ĐM não
trước
ĐM cảnh
trong
ĐM thông sau
ĐM não sau
ĐM thân
nền
ĐM đốt sống
trái
Hình 1.1. Đa giác Willis [19]
1.2.2. Giải phẫu ứng dụng của động mạch não trước [7], [20], [21].
ĐMNT là nhánh nhỏ hơn trong hai nhánh tận của động mạch cảnh trong.
ĐMNT bắt đầu từ đầu trong của của rãnh não bên và chạy về phía trước trong
ở trên thần kinh thị giác tới khe não dọc, nơi nó nối với động mạch bên đối
diện bằng động mạch thông trước.
8
9
Các nhánh trán và đỉnh của ĐMNT cho những nhánh nhỏ vượt qua bờ
trên trong của bán cầu để cấp máu cho một dải não ở mặt trên ngoài. Nói
chung, các nhánh vỏ của ĐMNT cấp máu cho các vùng vỏ vận động và cảm
giác thân thể mà đại diện cho chi dưới.
Các nhánh trung tâm của ĐMNT bao gồm:
Ở đoạn A1, các động mạch trung tâm trước trong tách ra, bao gồm các
động mạch vân trong gần, động mạch trên thị, các động mạch xuyên trước và
các động mạch trước thị. Các động mạch này xuyên vào chất thủng trước và
mảnh tận cùng, cấp máu cho mặt trong của thùy trán và thùy đỉnh, mỏ của thể
trai, vách trong suốt, phần trước của bèo sẫm, đầu của nhân đuôi và trụ trước
bao trong.
Ở đoạn A2, ngay sau chỗ nối thông với động mạch thông trước, ĐMNT
tách ra: Động mạch vân trong xa hay động mạch quặt ngược Heubner cấp máu
cho phần trước của đầu nhân đuôi và nửa trước của cánh tay trước bao trong.
ĐM quanh
thể trai
ĐM viền trai
Nhánh ĐM trán
sau trong
A
trai trai
ĐM cực trán
D
Hình 1.3. Vùng chi phối của ĐMNT ở vỏ não
Chú thích:
A: Vùng vận động ở vỏ não (motor cortex): Điều khiển vận động của
chi dưới bên dối diện.
B: Vùng cảm giác ở vỏ não (Sensory cortex): Tiếp nhận cảm giác của
chi dưới bên đối diện.
C: Vùng vận động bổ sung ở bên bán cầu ưu thế (supplemental motor area)
D: Vùng vỏ não thùy trán trước (prefrontal cortex): liên quan tới ý chí,
động lực, và lập kế hoạch và tổ chức các hành vi phức tạp.
11
1.3. ĐẶC ĐIỂM NHỒI MÁU NÃO
1.3.1. Định nghĩa và phân loại
1.3.1.1. Định nghĩa
Theo TCYTTG (1990):
Tai biến mạch não là sự xảy ra đột ngột các thiếu sót chức năng thần
kinh thường khu trú hơn lan tỏa, tồn tại quá 24 giờ hoặc gây tử vong trong 24
giờ. Các khám xét loại trừ nguyên nhân chấn thương [3], [6], [22].
Thiếu máu não cục bộ hay nhồi máu não xảy ra khi một mạch não bị tắc.
Khu vực được tưới máu bởi động mạch đó không được nuôi dưỡng, sẽ bị hoại tử.
1.3.1.2. Phân loại [1]
Theo bảng phân loại bệnh tật quốc tế (ICD – X ) của Tổ chức Y tế
Thế giới, nhồi máu não I63 và đươc phân loại chi tiết:
- I.63.0: Nhồi máu do huyết khối các động mạch ngoài não.
- I63.1: Nhồi máu do tắc các động mạch ngoài não.
Động mạch mạch mạc trước
Hình 1.4. Phân bố tưới máu của các động mạch não
Hội chứng ĐMNT là một tình trạng giảm chức năng của các phần não
được cấp máu bởi ĐMNT do sự tắc nghẽn của ĐMNT. Biểu hiện lâm sàng là
sự giảm chức năng của các vùng: Thùy trán, thùy đỉnh, hạch nền, phía trước
vòm não (vòm cung) và phía trước của thể trai [23].
13
Tùy thuộc vào vùng và mức độ nghiêm trọng của sự tắc nghẽn ĐMNT
mà có các dấu hiệu và triệu chứng khác nhau. Nếu tắc nghẽn đoạn A1 có thể
nhẹ (không biểu hiện lâm sàng) nhờ có tuần hoàn bàng hệ thông qua động
mạch thông trước. Nếu tắc nghẽn ở đoạn xa từ A2 trở đi sẽ gây ra các triệu
chứng nghiêm trọng của hội chứng ĐMNT. Liệt vận động và mất cảm giác
nửa người bên đối diện ưu thế chi dưới là triệu chứng phổ biến nhất liên quan
đến hội chứng ĐMNT.
1.3.2.1. Các biểu hiện lâm sàng của hội chứng ĐMNT [7], [24]:
Liệt vận động nửa người đối bên tổn thương ưu thế chi dưới.
Rối loạn cảm giác nửa người đối bên tổn thương ưu thế chi dưới.
Hội chứng thùy trán: Bàng quan, vô cảm, hưng cảm, rối loạn chú ý, rối
loạn hành vi và nếu tổn thương bán cầu ưu thế có rối loạn ngôn ngữ kèm theo.
Hội chứng thể trai hay hội chứng phân ly:
- Bất thường thị giác: Mỗi một bán cầu đều ghi nhận và lưu trữ được các
hình ảnh có trong thị trường tương ứng nhưng chỉ có bán cầu trái mới diễn đạt
và liên lạc được về cái gì mà nó nhìn thấy.
- Mất đọc nửa bên: Bệnh nhân mất khả năng đọc các dữ liệu được phóng
vào nửa thị trường trái. Do những tín hiệu này được đưa về vỏ não thị giác ở
thùy chẩm bên phải nhưng do thể trai bị tổn thương nên đã không đưa qua trở
thực hành lâm sàng nó chưa được thực sự chú ý và dễ bị nhầm với các bệnh lý
rối loạn tâm thần [25], [26].
Một số rối loạn thần kinh – tâm lý liên quan đến nhồi máu não thùy trán
bao gồm như:
Sự bàng quan (Apathy): Theo Martin định nghĩa sự bàng quan là một
hội chứng mà ở đó thiếu đi các động cơ thúc đẩy hành động, và sự mất động
lực đó không phải do các stress về cảm xúc, sa sút trí tuệ hay là suy giảm ý
thức [27]. Theo Starkstein mô tả các điểm nổi bật của bàng quan là sự thiếu
động lực đặc trưng bởi sự giảm tính định hướng mục tiêu của hành vi và nhận
biết, giảm sự kết nối cảm xúc tới định hướng mục tiêu của hành vi [28]. Sự
15
bàng quan thường gặp ở những bệnh nhân có các rối loạn về thần kinh và tâm
thần bao gồm: Tâm thần phân liệt, đột quỵ, chấn thương sọ não, bệnh
Parkinson, bệnh Alzheimer … [29] và thường gặp ở những bệnh nhân bị tổn
thương ở vỏ não phía trước thùy trán, các hạch nền (nhân đuôi, đồi thị). Trên
lâm sàng, chúng ta thường nhẫm lẫn sự bàng quan và hội chứng trầm cảm,
đây là hai hội chứng khác biệt với nhau nhưng có liên quan với nhau. Bàng
quan là một “rối loạn của sự thúc đẩy hành động”, còn trầm cảm là một “rối
loạn của cảm xúc” [30]. Tiêu chuẩn chẩn đoán sự bàng quan theo Starkstein
và cộng sự [28]: Sự thiếu động lực tương đối so với trước đây của bệnh nhân
về hành vi, nhận biết và cảm xúc, được nhận ra bằng chính bệnh nhân hoặc sự
quan sát của người khác. Sự thiếu động lực được thể hiện qua một trong ba
lĩnh vực sau:
- Giảm hành vi có mục tiêu trực tiếp:
Thiếu nỗ lực
Phải phụ thuộc vào người khác để hoạt động
- Giảm nhận biết có mục tiêu trực tiếp:
hiện thái độ của con người đối với những kích thích bên ngoài cũng như bên
trong cơ thể, nói tóm lại cảm xúc biểu hiện thái độ của con người đối với thực
tế xung quanh và đối với bản thân. Rối loạn cảm xúc biểu hiện là các triệu
chứng thuộc về giảm, mất cảm xúc (giảm khí sắc, cảm xúc bàng quan, cảm
xúc tàn lụi, mất cảm giác tâm thần) hoặc/và các triệu chứng thuộc về tăng
cảm xúc (cảm xúc không ổn định, khoái cảm, cảm xúc say đắm). Các rối loạn
cảm xúc thường gặp trong nhồi máu não thùy trán là: Giận dữ vô cớ, cười vô
cớ, nói nhiều, cảm xúc không ổn định ….
Rối loạn hành vi: Bệnh nhân bị rối loạn trong các hoạt động và động
tác như: giảm vận động, giảm động tác; mất vận động, mất động tác; vận
động dị thường, động tác dị thường; tăng vận động, tăng động tác. Các rối
17
loạn hành vi thường gặp do nhồi máu não thùy trán: Loạn thần cấp, hung dữ,
la hét, gây gổ, hành vi bốc đồng, vận động liên tục ….
Rối loạn sự chú ý: Thùy trán được xem như là trung tâm kiểm soát và
điều khiển của não, có vai trò quan trọng trong việc quyết định đối tượng cần
tập trung và trong việc giữ nguyên hoặc chuyển đổi chú ý theo ý muốn.
Rối loạn chức năng điều hành: Vỏ não thùy trán liên hệ với cả hệ viền
và các vùng vỏ não khác, nhận tất cả các thông tin về cảm xúc và các chức
năng cao cấp. Từ đó lên kế hoạch và chương trình cho các hoạt động cần thiết
để hoàn thành các mục tiêu và tạo nên tính liên tục, gắn kết các hành động,
tiên đoán, sắp xếp được các hành động.
Ngoài ra còn một số các rối loạn khác như: Mất ngủ, chứng quên, mất
phối hợp động tác cũng là những triệu chứng có thể gặp trong tổn thương
thùy trán.
1.3.2.3 Một số trắc nghiệm thần kinh – tâm lý dùng để đánh giá chức năng
thùy trán
chế được sử dụng nhiều nhất và bao gồm 5 phân nhóm:
Huyết khối mảng xơ vữa động mạch lớn
Xơ vữa mạch là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra nhồi máu não, đặc
biệt là ở người cao tuổi.
Kích thước mảng xơ vữa có thể tăng lên do sự lắng đọng dần dần hoặc
tăng lên đột ngột do chảy máu trong mảng xơ vữa, gây tắc nghẽn mạch tại
chỗ. Ngoài ra, mảng xơ vữa khi vỡ sẽ giải phóng những mảnh nhỏ lưu thông
trong tuần hoàn máu, sẽ gây tắc các động mạch ở xa.
Theo thống kê của nhiều tác giả, tổn thương hẹp tắc động mạch cảnh
đoạn ngoài sọ hay gặp hơn đoạn trong sọ, vị trí hay gặp nhất chính là chỗ chia
đôi của động mạch cảnh. Xơ vữa mạch hay xảy ra ở các mạch máu lớn,
19
thường gặp xoang cảnh, đoạn siphon, đoạn đầu tiên của động mạch não giữa,
chỗ xuất phát của động mạch sống, động mạch thân nền, chỗ phân chia của
hai động mạch não sau [6], [36], [37].
Thuyên tắc mạch từ tim
Chiếm khoảng 20% trong số các nguyên nhân gây thiếu máu não nhưng
ở người trẻ thì tỉ lệ này cao hơn nhiều.
Một số yếu tố gợi ý: Tuổi trẻ (
mạch não có thể xuất phát từ các động mạch lớn ở đoạn gần, như động mạch
chủ, động mạch cảnh đoạn ngoài sọ hay động mạch đốt sống và các động
mạch trong sọ. Trong trường hợp này sản phẩm thuyên tắc có thể là cục máu
đông, tiểu cầu kết tập hoặc mảnh vỡ từ mảng xơ vữa. Đây là cơ chế chính gây
đột quỵ do xơ vữa động mạch lớn vốn là nguyên nhân của 15- 20% tổng số
đột quỵ thiếu máu não cục bộ [35], [42].
Huyết khối tắc mạch: Huyết khối tắc mạch là tình trạng tắc dòng
chảy do hình thành cục huyết khối từ một quá trình bệnh lý tắc nghẽn khởi
phát bên trong thành mạch máu. Đa số nguyên nhân của chúng là do bệnh lý
xơ vữa động mạch nên có tên gọi là huyết khối xơ vữa động mạch. Các bệnh
lý mạch máu ít gặp hơn dẫn đến hẹp hoặc tắc mạch là bóc tách động mạch,
21
loạn sản cơ sợi, co mạch (do thuốc hoặc viêm), bệnh lý mạch máu do phóng
xạ, chèn ép từ bên ngoài như khối u hoặc bệnh moyamoya [7], [22].
Bệnh lý mạch máu nhỏ: Tắc mạch do huyết khối ở các động mạch
xuyên nhỏ trong não là nguyên nhân quan trọng khác của đột quỵ thiếu máu
não. Loại tổn thương mạch máu này kết hợp chặt chẽ với tăng huyết áp và có
đặc điểm đặc trưng là sự lắng đọng lipophyalin, mảng vi xơ vữa, hoại tử dạng
fibrin và phình mạch Charcot- Bouchard [35].
Cơ chế huyết động
Có những trường hợp động mạch bị tắc hoặc bị hẹp, nhưng tuần hoàn
bàng hệ vẫn đủ để duy trì được lưu lượng máu não ở mức đảm bảo cho hoạt
động chức năng não ở điều kiện bình thường. Nếu có bất thường huyết động
làm giảm áp lựu tưới máu đoạn gần trước tổn thuơng động mạch (như hạ huyết
áp tư thế, giảm cung lượng tim) hoặc tăng nhu cầu chuyển hóa (sốt, toan hóa
máu), hoặc hiện tượng ăn cắp máu từ vùng não của động mạch bị hẹp tắc sang
vùng não khác thì lưu lượng máu não sau tổn thương sẽ không đáp ứng đủ nhu
- Các chỉ số sinh lý học: Huyết áp động mạch, tỉ lệ cholesterol máu…
Xác định các yếu tố nguy cơ của TBMN, hiểu được vai trò của chúng
giúp chúng ta đề ra các biện pháp phòng ngừa.
TCYTTG đã đưa ra hơn hai mươi yếu tố nguy cơ chung cho các thể
TBMN và hai nươi hai yếu tố nguy cơ đối với thiếu máu não cục bộ [2], [43].
Tăng huyết áp: Là yếu tố nguy cơ chính
Trong nghiên cứu của Framingham, 70% bệnh nhân TBMN có tăng
huyết áp và nguy cơ mắc TBMN ở những người có tăng huyết áp là 4 ở nam
và 4,4 ở nữ so với người bình thường. Tăng huyết áp tâm thu và huyết áp tâm
trương đều có vai trò trong việc gây ra TBMN. Người ta thấy, với huyết áp
tâm trương hàng ngày tăng lên từ 5-10 mmHg thì nguy cơ mắc TBMN tăng
lên khoảng 40%. Khi hạ huyết áp tâm trương xuống 5-6 mmHg và huyết áp
tâm thu xuống 10 - 12 mmHg thì sau ba năm nguy cơ TBMN hàng năm giảm
từ 7% xuống đến 4,8% [2], [41].
23
Đái tháo đường
Nguy cơ mắc TBMN ở những người có đái tháo đường là 1,8 ở nam và
2,2 ở nữ so với người bình thường [45]. Khi đường máu tăng trên 11 mmol/l,
nguy cơ gây TBMN tăng lên từ 1,4 - 4 lần. Nguy cơ TBMN tăng lên ở bệnh
nhân đái tháo đường trên cơ sở làm tăng trưởng các mảng xơ vữa mạch máu ở
trong và ngoài sọ. Đái tháo đường kết hơp với tăng huyết áp thì nguy cơ bị
TBMN cũng tăng lên nhiều lần [2], [42], [43].
Rối loạn lipid máu
Lipid trong huyết tương tồn tại dưới dạng kết hợp với Apoprotein và
được chia thành ba loại: Lipoprotein có trọng lượng phân tử thấp (LDL- Low
Density Lipoprotein) tham gia vào cơ chế gây xơ vữa mạch, lipoprotein trọng
lượng phân tử cao (HDL- High Density Lipoprotein) có tác dụng bảo vệ thành
Một số nghiên cứu của Bắc Mỹ và châu Âu cho thấy béo phì cũng là
một yếu tố nguy cơ của tất cả các thể TBMN [45].
Bệnh lý tim mạch
Là yếu tố nguy cơ quan trọng gây ra TBMN thể nhồi máu não ở các nước
đang phát triển. Theo nghiên cứu Framingham thấy 80,8% TBMN do tăng huyết
áp, 32,7% do bệnh mạch vành, 14,6% do suy tim, 14,5% do rung nhĩ và chỉ có
13,6% không phải các bệnh trên. Các nguyên nhân chủ yếu của tắc mạch não
nguyên nhân từ tim là: Rung nhĩ không có bệnh van tim, nhồi máu cơ tim cấp,
phì đại thất trái, bệnh tim do thấp, các tai biến của van tim giả [2], [44].
Các yếu tố nguy cơ khác
Tiếng thổi động mạch cảnh và hẹp động mạch cảnh không triệu chứng,
tỉ lệ bị TBMN ở người có tiếng thổi động mạch cảnh là 1 - 2% một năm.
Tăng Fibrinogen, tăng Hematocrit: Là yếu tố thuận lợi làm tăng nguy
cơ bị TBMN.
Ngoài ra các yếu tố kháng Insulin, sử dụng thuốc ngừa thai, sang chấn
tâm lý và di truyền cũng được coi là yếu tố liên quan tới TBMN [44].
25
1.4. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH
1.4.1. Chụp cắt lớp vi tính sọ não (CLVT) [49], [50], [51].
Chụp CLVT sọ não là xét nghiệm cận lâm sàng quan trọng đầu tiên để
chẩn đoán xác định nhồi máu não, định vị vị trí, kích thước, số lượng tổn
thương và ảnh hưởng của tổn thương đến toàn cấu trúc não. Chụp CLVT
nhanh, phổ biến, an toàn, kinh phí ít và dễ thực hiện. Năm 1971, Housfield và
Ambrose đã thiết kế ra chiếc máy chụp CLVT đầu tiên. Một thời gian ngắn
sau đó, chụp CLVT đã tạo ra bước ngoặt trong chẩn đoán phân biệt chảy máu
não và nhồi máu não. Kỹ thuật này tính tỉ trọng của các cấu trúc theo đơn vị
Hounsfiled (HU). Lấy nước tinh khiết làm mốc tỉ trọng bằng 0 HU, không