MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt
STT
Từ viết tắt
Ý nghĩa
01
ĐHSP
Đại Học Sư Phạm
02
ĐHĐN
Đại Học Đà Nẵng
03
HĐHT
Hoạt động học tập
04
NXB
43
3
Bảng 3.3: Mức độ biểu hiện trầm cảm
44
4
Bảng 3.4: Biểu hiện stress về mặt cơ thể
46
5
Bảng 3.5: Biểu hiện stress về mặt tâm lý
47
6
Bảng 3.6: Nguyên nhân sinh ra stress
49
7
Bảng 3.7: Cách ứng phó của sinh viên
4
Biểu đồ 3.4: Biểu hiện stress về mặt cơ thể
46
5
Biểu đồ 3.5: Biểu hiện stress về mặt tâm lý
48
6
Biểu đồ 3.6: Nguyên nhân sinh ra stress
49
7
Biểu đồ 3.7: Cách ứng phó của sinh viên
52
Phần 1: Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Stress là vấn đề của con người ở mọi thời đại. Nó tồn tại cùng với sự phát triển của
con người; bắt nguồn từ những hoạt động nhằm đảm bảo nhu cầu sống còn của con người
như: bị thú giữ tấn công, chiến đấu giành đất đai, những cuộc tìm kiếm thường xuyên để
tìm thức ăn đảm bảo lương thực… Trải dài qua những thời kì tồn tại phát triển lâu dài stress
có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, đến hiệu quả hoạt động học tập của họ. Hiện nay,
chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực trạng stress của sinh viên trường Đại Học Sư Phạm
Đà Nẵng. Việc nghiên cứu mức độ biểu hiện, những nguyên nhân gây stress và những cách
thức mà sinh viên đang dùng để ứng phó với stress, để từ đó có những tác động tích cực
làm giảm bớt những tác hại của nó và nâng cao tính tích cực của stress là một vấn đề có ý
nghĩa rất quan trọng. Điều này không chỉ hướng đến việc giúp cho sinh viên có những ứng
xử phù hợp với stress khi ngồi trên ghế nhà trường mà ngay cả khi đã ra trường họ vẫn có
thể tự mình đối mặt với điều đó. Chính từ ý nghĩa đó chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài
“Mức độ biểu hiện stress của sinh viên trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng stress của sinh viên trường Đại Học Sư Phạm Đại Học Đà Nẵng.
- Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giúp cho các bạn sinh viên có được những ứng
xử phù hợp với stress nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và học tập.
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1.
Đối tượng nghiên cứu
Mức độ biểu hiện stress của sinh viên trường ĐHSP – ĐHĐN.
3.2.
Khách thể nghiên cứu
Sinh viên trường ĐHSP - ĐHĐN.
3.3.
Phạm vi nghiên cứu
3.3.1. Nội dung
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đưa ra một số kêt luận và kiến nghị góp phần
nâng cao nhận thức và khả năng ứng xử với stress cho sinh viên.
Trong số 3 nhiệm vụ của đề tài đặt ra chúng tôi coi nhiêm vụ thứ
5.2. là nhiệm vụ quan trọng nhất.
Phần 2: Nội dung
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Stress tồn tại trong cuộc sống của con người, luôn đi cùng với sự phát triển của con
người cho dù con người không nhận thức được sự tồn tại của nó.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Năm 1920, Walter Cannon - Nhà sinh lý học đầu tiên đã mô tả một cách khoa học
về cách con vật và con người phản ứng với mối hiểm nguy đến từ bên ngoài. Ông nhận
thấy có một trình tự hoạt tính xảy ra trong các dây thần kinh và trong các tuyến nội tiết,
nhằm chuẩn bị để cơ thể chiến đấu chống lại hoặc bỏ chạy để bảo toàn tính mạng. Ông gọi
phản ứng kép này với strees là hội chứng chống hoặc bỏ chạy. Trung tâm của phản ứng kép
với stress là vùng dưới đồi, đôi khi được gọi là trung tâm stress là vì nó kiểm soát hoạt
động của hệ thần kinh và tuyến yên.
Nối tiếp những nghiên cứu của Cannon, người đầu tiên theo phương pháp hiện đại
nghiên cứu các ảnh hưởng của stress nặng tác động liên tục lên cơ thể là Hans Selye, một
nhà nội tiết học người Canada. Vào những năm 30, Selye báo cáo về các biểu hiện phức tạp
của súc vật thực nghiệm với các tác nhân gây thương tổn như các bệnh do vi khuẩn, các
độc tố, chấn thương hoặc sự nóng lạnh... Hết thảy mọi tác nhân gây stress đều đòi hỏi sự
thích ứng, duy trì tính toàn vẹn tổng thể và sự thoải mái bằng cách phục hồi thế cân bằng
những phương pháp rất khoa học cụ thể. Trước hết, các phản ứng hoặc tình trạng stress có
những biểu hiện rõ nhất trên bình diện sinh lý học, và gần đây người ta bắt đầu nghiên cứu
stress trên bình diện tâm lý. Các vấn đề liên quan đến stress được các nhà nghiên cứu tập
trung nghiên cứu nhiều nhất là:
- Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới việc ứng phó stress: Mô tả và phân biệt
giữa stress và tác nhân gây stress, ảnh hưởng của nhận thức cá nhân đối với việc đáp ứng
với các tác nhân gây stress, những nhân tố bên trong và bên ngoài làm giảm nhẹ tác dụng
đáp ứng stress, cơ chế ứng phó làm giảm thiểu stress.
- Phân tích các phản ứng sinh lý đối với stress: Mô tả đáp ứng stress trên các hệ thống
cơ thể (Hệ thần kinh, hệ nội tiết...) mối liên hệ giữa những nhân tố làm giảm stress và đáp
ứng sinh lý, sự khác biệt hệ thống miễn dịch giữa người lớn và trẻ em ...
- Biểu hiện tâm lý khi stress: Nhận biết nguyên nhân gây stress, nguyên nhân và cá
tính của stress hậu sang chấn, tương quan giữa nhân cách và biểu hiện stress, phân tích các
loại kế hoạch đối phó, lựa chọn hệ thống phòng thủ, những hành vi biểu hiện không hiệu
quả.
Hiện nay, có thể nói rằng vấn đề stress đã và đang thu hút sự chú ý rất mạnh mẽ của
nhiều nhà khoa học, họ quan tâm nghiên cứu dưới cả hai góc độ lý thuyết và thực nghiệm.
Giờ đây nghiên cứu về stress không chỉ đơn thuần là nghiên cứu chuyên về y học, sinh học
mà đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu mang tính liên nghành: Y học, sinh học, Tâm lý
học, Xã hội học... Những kết quả nghiên cứu đã góp phần không nhỏ cho việc giảm bớt
stress và những tác hại do nó gây ra.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, từ lâu chịu ảnh hưởng rất sâu sắc bởi tư tưởng văn hóa phương Đông
như thuật dưỡng sinh bảo vệ sức khỏe thuận theo quy luật tự nhiên. Từ thế kỷ XVIII, nhà y
học, nhà khoa học kiệt xuất, nhà tư tưởng lỗi lạc của dân tộc ta là Hải Thượng Lãn Ông tức
Lê Hữu Trác đã khuyên rằng: có thân mà không biết giữ gìn chỉ lo làm sao cho thỏa mãn
dục vọng là trái với phép dưỡng sinh. Ăn uống là lấy vị bồi bổ cho chỗ thiếu, làm việc nghỉ
ngơi phải có chừng mực, ăn uống quá mức thì trường vị tổn thương.
sĩ tâm lý lâm sàng đã nghiên cứu về các LP trị liệu tâm lý, các công trình nghiên cứu của
các tác giả này mang một giá trị khoa học cao, gắn liền với các hoạt động thực tiễn nghề
nghiệp của họ.
Hiện nay, ngoài những nghiên cứu chính thức tại Việt Nam đã có những công trình
nghiên cứu, tác phẩm, bài viết hoặc bài dịch từ tiếng nước ngoài đăng trên các báo và tạp
chí trong nước, hoặc phổ biến trên các website...giúp ích cho người dân hiểu biết và phòng
chống stress. Luận văn thạc sỹ tâm lý học của tác giả Lại Thế Luyện năm 2007 đã tìm hiểu
về “Biểu hiện stress trong sinh viên trường Đại học sư phạm Kỹ Thuật TPHCM”. Trong
công trình này tác giả Lại Thế Luyện đã đưa ra kết quả: trong 500 khách thể nghiên cứu có
10,8% SV rất căng thẳng, 49,8% SV căng thẳng, 33,8% SV ít căng thẳng, 5,6% SV không
có biểu hiện căng thẳng. Luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Nhân ĐH Quy Nhơn
“ Bước đầu tìm hiểu thực trạng hiện tượng stress của sinh viên ĐH Quy Nhơn” cũng đã đưa
ra kết quả nghiên cứu trên 300 SV, trong đó 56,7% sinh viên có biểu hiện stress ở các mức
độ khác nhau. Riêng về lứa tuổi học sinh thì đây vẫn là vấn đề mới chưa có nhiều công
trình nghiên cứu.
1.2.
Những vấn đề lý luận chung về stress
1.2.1. Khái niệm về stress
Theo nhận định của Hans Selye (1956), “Stress giống như thuyết tương đối, là một
khái niệm khoa học vừa có may mắn được mọi người biết tới, lại vừa không may mắn vì có
quá ít người am hiểu”. Stress là một khái niệm khoa học khó nắm bắt.
Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu về thuật ngữ “Stress”. Stress trong Tiếng Anh có
nghĩa là nhấn mạnh. Ban đầu nó được sử dụng trong vật lý học, để chỉ một sức nén mà một
loại vật liệu nào đó phải chịu đựng. Stress được xuất phát từ tiếng Latinh “stringere”, có
nghĩa là kéo căng hoặc đè nén. Nó được ứng dụng phổ biến từ thế kỉ 17 để mô tả con người
trải qua thử thách gay go, tai họa hoặc nỗi đau buồn. Từ này có ý nghĩa đang phải chịu
động đó đối với chủ thể. Có nghĩa là phản ứng không đặc hiệu chỉ xuất hiện khi có tác nhân
kích thích, tác động tạo nên những biến đổi ở nhịp sinh học: Sự bài tiết, dịch vị và các
hormone trong cơ thể hơn bình thường liên tục, trường diễn sẽ dẫn đến phù đại tuyến
thượng thận, sự co nhỏ của của tuyến ức... ảnh hưởng đến sự biến đổi trạng thái tâm lý của
chủ thể ở mức độ nhất định có thể gây ra rối loạn quá trình tâm, bệnh lý.
Phương pháp tiếp cận về mặt nhận thức - hành vi định nghĩa stress như một quá
trình tương giao giữa con người và môi trường, trong đó đương sự nhận định sự kiện từ
môi trường là có tính chất đe dọa và có hại, và đòi hỏi đương sự phải cố gắng sử dụng các
tiềm năng thích ứng của mình (Lazarus, 1966; Lazarus, Folkman, 1984). Stress không chỉ
trú ngụ trong sự kiện hoặc trong đáp ứng của đương sự, mà tồn tại trong cả hai yếu tố đó.
Theo tác giả Tô Như Khuê, “stress tâm lý chính là những phản ứng không đặc hiệu
xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà
con người chủ quan thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do
tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó”. Định nghĩa này đã nêu
được vai trò của yếu tố nhận thức và thái độ của con người trong stress.
Theo Nguyễn Thành Khải, “Dưới góc độ của tâm lý học, có thể hiểu stress là trạng
thái căng thẳng về tâm lý mà con người cảm nhận được trong quá trình hoạt động cũng như
trong cuộc sống,”
Theo Từ Điển Tâm Lý của Nguyễn Khắc Viện: “stress có hai nghĩa. Thứ nhất,
stress là một mối kích động đánh mạnh vào con người. Và nghĩa thứ hai là, phản ứng tâm
lý và sinh lý của người ấy” Theo Nguyễn Khắc Viện dịch thuật ngữ stress có nghĩa là “kích
-ứng”. Một kích động có thể làm tác nhân vật lý, hóa chất, một vi khuẩn, hoặc một tác nhân
tâm lý xã hội, nói chung là một tình huống căng thẳng đột xuất đòi hỏi con người huy động
tiềm năng thích ứng. Stress là nỗ lực của cơ thể để thích nghi với những đổi thay trong
cuộc sống của mỗi người.
Nhìn chung các tác giả trên phân tích quan niệm của họ về stress dưới những quan
điểm rất khác nhau, cách hiểu khác nhau. Trong đề tài này chúng tôi lấy khái niệm stress
của Hans. Selye làm khái niệm để nghiên cứu chính:” Stress là phản ứng của cơ thể với
sinh ra khi con người đang tìm cách thích nghi hay thay đổi những sự tác động của môi
trường tự nhiên lên họ.
Hiện nay, biến đổi khí hậu là một trong những yếu tố đang được khá nhiều các nhà
khoa học quan tâm, kể cả các nhà tâm thần học. Bởi vì những hệ quả của sự biến đổi khí
hậu cũng có những tác động đáng kể đến sự phát triển tâm lý của con người. Theo tiến sĩ
Page và tiến sĩ Howard thì biến đổi khí hậu sẽ là tăng thiên tai, hạn hán, lũ lụt điều này
khiến cho con người luôn phải sống trong tình trạng phấp phỏng lo âu, tình trạng này có thể
dẫn đến stress, trầm cảm suy nhược về thể chất và tinh thần. Những tác động có hại của sự
căng thẳng tâm lý sau khi gặp phải những chấn thương hoặc sự mất mát có thể khiến cho
con người rơi vào trạng thái stress, trầm cảm nặng.
Thời tiết chính là tình trạng lý học (nhiệt độ, độ ẩm, áp suất, gió, mưa…) của khí
quyển ở một nơi trong một thời gian tương đối ngắn và thường không ổn định. Những điều
kiện thời tiết diễn tiến khác nhau, có thể gây nên những biến đổi sinh lý trong cơ thể khác
nhau ở mỗi người. Điều này đã được con người nhận ra từ thời xa xưa và đến nay đã được
khoa học chứng minh. Sự thay đổi thời tiết không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe cơ
thể của con người mà còn ảnh hưởng đến tâm trạng của họ. Tại Viện Tâm Thần Quốc Gia
Washington đã có một nhóm các nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này: có một người
phụ nữ Mỹ, rất hay buồn bã, căng thẳng vào những ngày hè nóng nực, tình trạng này đã
được diễn ra trong suốt 15 năm. Khi các nhà nghiên cứu để cho người phụ nữ này sống
trong những điều kiện thời tiết mát mẻ, thoải mái hơn thì những triệu chứng trên dần dần
mất đi.
Đối với con người, tiếng ồn có cường độ cao hơn 95 đêxiben là đặc biệt có hại
(cường độ 0 đêxiben là ngưỡng âm thanh tối thiểu con người tiếp nhận được). Trong khi
đó, máy bay cất cánh phát ra âm thanh ở mức 98 đêxiben. Do chịu tác động của tiếng ồn
như vậy nên các mạch máu ngoại biên co lại, nhịp tim bị rối loạn, xuất hiện chứng đau đầu,
mặt tái mét, hệ thần kinh tâm lý bị tổn hại. Tệ hại nhất là dạ dày phải "tiêu hóa" những âm
thanh cực lớn. Do đó, việc thường xuyên đến vũ trường hoặc thói quen nghe nhạc mở hết
công suất bằng tai nghe có thể dẫn tới bệnh loét dạ dày. Song sự yên tĩnh hoàn toàn cũng
Khi xã hội phát triển mạnh mẽ, mau lẹ và liên tục thì những áp lực gây ra cho con
người càng nhiều hơn con người dễ rơi vào trạng thái bị stress hơn. Tốc độ thay đổi quá
nhanh của xã hội và của khoa học kỹ thuật làm mọi người sửng sốt, những thay đổi về khoa
học kỹ thuật làm thay đổi phương thức con người làm việc, học tập và sử dụng thời gian
rảnh rỗi. Với nhiều người, điều chỉnh bản thân cho thích hợp với thực tiễn mới mẻ có thể là
điều dễ dàng nhưng cũng có những người chỉ biết chịu đựng điều đó với tâm trạng căng
thẳng.
1.2.2.2.
•
Nguyên nhân xuất phát từ chính cá nhân
Yếu tố sức khỏe :
Những rối loạn bệnh lý xuất hiện, những bệnh lý ở giai đoạn cuối hoặc những bệnh
lý mãn tính, sự khiếm khuyết thực thể...là một trong những nguyên nhân có thể gây ra
stress cho con người.
•
Yếu tố tâm lý:
Đó là trình độ thích nghi của các thuộc tính tâm lý bao gồm năng lực, ý chí, tình
cảm, nhu cầu, trình độ nhận thức, kinh nghiệm của chủ thể. Ngoài ra còn có thể là những
nguyên nhân từ vô thức (giấc mơ, linh cảm...) hoặc những dồn nén từ thời thơ ấu, trong quá
khứ. Cuộc sống luôn tiềm ẩn rất nhiều những nguyên nhân có thể gây stress cho mỗi người
chúng ta. Nhưng không phải mức độ của ai cũng như nhau, điều đó còn tùy thuộc vào cách
ứng phó của chúng ta như thế nào đối với vấn đề đó.
Nhìn chung nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân mỗi người là nguyên nhân quan trọng
và có ảnh hưởng lớn đến mức độ stress. Cùng một sự kiện tác động đến những con người
khác nhau có thể gây ra mức độ stress khác nhau. Sự khác biệt đó xuất hiện chính là do ở
mỗi người khác nhau quá trình nhận thức diễn ra không như nhau. Khi có một sự kiện (kích
Đây là loại stress mà yếu tố gây nên nó có nguồn gốc từ sinh thái, gọi tắt là stress
sinh thái. Stress loại này phát sinh từ mối quan hệ giữa môi trường bên trong và môi trường
bên ngoài cơ thể. Mọi hoạt động sống của con người đều phải tuân theo quy luật nhịp sinh
học của cơ thể. Nhịp sinh học của cơ thể chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ bởi nhịp sinh thái
của môi trường xã hội và môi trường tự nhiên nhằm tạo ra những phản ứng khác nhau với
những tình huống nhất định giúp chủ thể có khả năng thích ứng. Stress sinh thái rất ít bị
ảnh hưởng bởi ý thức con người nên loại stress này rất khó kiểm soát. Tuy nhiên, stress
sinh thái lại là loại stress ảnh hưởng mạnh và trực tiếp đến sức khỏe của con người. Stress
sinh thái lại có nhiều loại:
+ Rối loạn chu kỳ nhịp sinh học:
Là loại stress sinh thái cơ bản nhất. Nguyên nhân cơ bản là do con người không
chịu tuân theo những sắp đặt sẵn của tự nhiên, đôi khi con người cảm thấy lạc lõng với môi
trường xung quanh mà trở nên buồn bã, cáu gắt mà ngã bệnh. Con người đã tổ chức cuộc
sống của mình không tuân theo nhịp điệu của tự nhiên.
+ Rối loạn nhịp ăn và ngủ:
Đây là loại stress cũng đã được nghiên cứu rất nhiều. Các thực nghiệm trên người
lớn, khỏe mạnh đã cho thấy rằng: với chế độ lao động nặng kèm với ít ngủ (
sức. Những stress ngắn và quá mức có thể dẫn đến các khó chịu về tâm lý, căng thẳng đầu
óc, đau dạ dày và các triệu chứng khác.
Hầu hết mọi người đều nhận ra các triệu chứng stress cấp. Đó là những thất bại đã
qua trong cuộc đời họ như: tai nạn ô tô, mất một hợp đồng quan trọng, ranh giới giữa cái
sống và cái chết mà họ đã vượt qua, những vấn đề của con cái họ ở trường học..v.v.
Bởi vì xuất hiện ngắn, stress cấp không đủ thời gian để gây tác hại nặng. Các triệu
chứng phổ biến nhất là:
- Các khó chịu về cảm xúc- một số kết hợp với giận giữ hoặc kích thích, lo âu và trầm cảm
- Các vấn đề cơ bắp gồm căng thẳng đầu óc, đau lưng, đau quai hàm, và căng thẳng các cơ
này dẫn đến co giật các cơ, gân và các vấn đề dây chằng.
Các vấn đề dạ dày, ruột và đại tràng như ợ nóng, tăng tiết dịch vị, đầy hơi, phân lỏng, táo
bón,và hội chứng kích thích đại tràng.
- Tăng huyết áp, tăng nhịp tim, ra mồ hôi gan bàn tay, đánh trống ngực, chóng mặt, đau nửa
đầu kiểu Migraine, tay và chân lạnh, thở gấp và đau ngực.
Stress cấp có thể nổi trội lên trong cuộc đời của bất kỳ ai, và ta có thể kiềm chế
được stress cấp.
•
Stress cấp từng đợt
Có những người bị stress thường xuyên, cuộc sống của họ rối loạn, họ thường sống
trong xáo trộn và khủng hoảng. Họ luôn luôn vội vã nhưng lại luôn luôn bị muộn. Họ đảm
nhiệm quá nhiều, có qúa nhiều việc để làm cùng một lúc, và họ không thể quản lý được rất
nhiều những yêu cầu và áp lực đòi hỏi sự chú ý của họ. Họ dường như không khi nào thoát
khỏi stress cấp.
Phổ biến ở nhiều người có các phản ứng stress cấp là kích thích ngắn - tạm thời, lo
âu và căng thẳng. Công việc trở thành nơi gây stress mạnh cho họ. Các thầy thuốc tim
mạch Meter Friedman và Ray Rosenman đã mô tả loại nhân cách "type A" thiên hướng bị
bệnh tim, tương tự như một trường hợp đặc biệt của stress cấp từng đợt. Type A có một xu
1.2.3.4.
Cách phân loại khác
- Stress hàng ngày: Là những căng thẳng thường ngày có thể xảy ra trong công việc, trường
học, gia đình, nơi công cộng.
- Stress tích tụ: Là kết quả tích tụ, kéo dài của sự căng thẳng, của các sự kiện đa dạng khác
nhau.
- Stress kiệt sức: Là trạng thái khi một cá nhân bị kiệt sức bởi quá nhiều stress, cá nhân
không thể thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả nữa.
- Stress bất ngờ: Xảy ra do một sự kiện bất ngờ như bạo lực, tai nạn mà con người không
thể điều khiển được.
1.2.4. Biểu hiện
1.2.4.1.
Biểu hiện về mặt cơ thể
Việc đo lường biểu hiện của stress dưới góc độ sinh lý thường dễ dàng hơn là
trên góc độ tâm lý. Khi đo lường biểu hiện dưới góc độ tâm lý sẽ rất khó khăn để xác định
những biểu hiện stress khi chủ thể cố tình che dấu; nhưng dưới góc độ sinh lý người ta vẫn
có thể xác định được bằng nhiều cách khác nhau với những biện pháp mang tính kỹ thuật.
Do đó việc định lượng các thay đổi sinh lý là phương pháp nhạy bén, khách quan để nghiên
cứu stress.
Biểu hiện stress về mặt sinh lý được thể hiện :
•
Thường biểu hiện thông qua sự biến đổi hoạt động của hệ thần kinh thực vật - tủy
Biểu hiện về mặt tâm lý
Đo lường những biểu hiện stress về mặt tâm lý là khó khăn hơn so với việc tìm
hiểu biểu hiện về mặt sinh lý bởi về mặt tâm lý không chỉ đơn thuần là bản năng vô thức
của con người mà thường có sự kiểm soát của ý thức một cách chủ động. Vì thế stress về
mặt tâm lý nó không chỉ thuần túy là những biểu hiện mà đồng thời là sự ứng phó mang
tính chủ quan. Việc xác định những biểu hiện stress về mặt tâm lý cũng đòi hỏi những thủ
pháp, kỹ thuật và những kỹ năng mang tính chuyên môn trên cơ sở năng lực và trình độ
nhất định. Những biến đổi về mặt sinh lý luôn luôn có quan hệ mật thiết và là cơ sở cho
những biến đổi về mặt tâm lý ở con người và ngược lại. Tuy nhiên, mọi biểu hiện tâm lý
không phải lúc nào cũng xuất phát từ những biến đổi sinh lý.
•
Biểu hiện của stress về mặt tâm lý được nhìn nhận, khai thác trên nhiều góc độ
khác nhau. Có thể nói biểu hiện về mặt tâm lý của stress được thể hiện ở sự thay đổi hoạt
động của các quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý, thuộc tính tâm lý. Những thay đổi này thể
hiện ra bên ngoài hay qua các thông số có thể đo được ở nhiều mức độ khác nhau tùy theo
cường độ, nhịp độ các tác nhân gây ra stress, phụ thuộc vào nhận thức, cách biểu hiện của
chủ thể trước tác nhân.
•
Biểu hiện qua xúc cảm: Để tồn tại và phát triển con người không chỉ thông qua
hoạt động thực tiễn để đáp ứng những nhu cầu của bản thân mà cùng với hoạt động thực
tiễn là sự biểu hiện thái độ của mình đối với thế giới như sự yêu thương căm giận, ghét bỏ
niềm say mê, sự sung sướng, buồn, chán, trầm lặng. Tùy theo tính chất, cường độ, nhịp độ
trí nhớ, tưởng tượng làm cho quá trình nhận thức diễn ra hiệu quả hơn. Stress sẽ làm tăng
cường tính tích sực tư duy, đó là sự suy ngẫm hoàn chỉnh toàn bộ thông tin mà chủ thể có
thể có, nhằm làm chủ tình huống gây ra stress. Tuy nhiên, nếu trường diễn kéo dài đến một
mức độ nào đó thì lại xuất hiện tình trạng giảm tính tích cực tư duy, giảm hoặc mất trí nhớ.
Stress được biểu hiện qua rối loạn các hoạt động sau:
+ Giảm rõ tư duy phê phán, phân phối chú ý không đầy đủ, giảm sút trí nhớ, quyết định
thiếu chính xác, mất bình tĩnh, cáu gắt hay trơ lì.
+ Cảm giác, tri giác: Kém nhạy bén, tiếp thu thông tin chậm, nhìn nghe không rõ, cảm giác
sai lệch, thiếu sự phối hợp giữa các cảm giác.
+ Rối loạn cảm giác vận động: Tư thế lúng túng, cứng nhắc, rối loạn hiệp đồng động tác.
+ Hành vi: Hành vi có liên quan mật thiết với các trạng thái tâm lý của chủ thể được biểu
hiện thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt, lời nói, chữ viết, thao tác hành động.
+ Biểu hiện ở nét mặt: Vẻ mặt là nơi biểu hiện rõ nhất những trạng thái tâm lý của con
người. Thông qua vẻ mặt, chúng ta có thể biết được diễn biến trạng thái tâm lý của chủ thể
như: căng thẳng, đau khổ, thất vọng, giận giữ, vui mừng, phấn khởi, hài lòng.
1.2.5. Các giai đoạn
1.2.5.1.
•
Giai đoạn stress ở mức độ tích cực
Stress bình thường: là chương trình thích nghi bình thường đảm bảo hoạt động sống
bình thường, không có biểu hiện rối loạn, cơ thể đảm bảo sự tương ứng đồng bộ giữa các
hệ thống chức năng và trạng thái của các điều kiện môi trường, qua đó các hệ thống chức
năng đạt được chủ đích của nó và cân bằng môi trường trong trạng thái yên tĩnh hoặc có tác
nhân gây sự biến đổi nhẹ hoặc vừa. Ở mức độ này mọi hoạt động tâm sinh lý đều diễn ra
bình thường.
•
Mức độ stress cao: là chương trình thích nghi xuất hiện những biến đổi tâm - sinh lý
mà chủ thể vận dụng vẫn có tác dụng nhất định, có thể làm tăng sức chống đỡ với yếu tố
bất lợi và bảo vệ cấu trúc chức năng của cơ thể, tạo nên sự phục hồi hiệu quả. Cơ chế này
có thể làm tăng thêm trạng thái bệnh lý, điều này phụ thuộc vào trình độ của mỗi chủ thể
cũng như sự tác động tâm lý của những người xung quanh.
•
Giai đoạn stress ở mức độ bệnh lý: Đó là những rối loạn chức năng hoạt động của
cả sinh lý lẫn tâm lý đến mức nhất định bệnh lý mới xuất hiện hoặc những bệnh lý ở giai
đoạn cuối, bệnh mãn tính... những rối loạn này cũng ở những mức độ khác nhau: Rối loạn
nhất thời, rối loạn trường diễn, mệt mỏi lo âu... Những rối loạn này thường kèm theo những
rối loạn thực vật: rối loạn giấc ngủ, rối loạn tình dục, tiêu hóa, tim mạch...
1.2.6. Ảnh hưởng của stress
Stress là căn bệnh của thời đại mà xuất phát của nó chủ yếu là từ môi trường, từ
điều kiện, cách thức sinh hoạt và tổ chức cuộc sống của con người. Cũng như nhiều nước
trên thế giới, ở nước ta có sự đan xen nhiều hình thái các lọai bệnh tật khác nhau về thực
thể và tâm thể. Trong khi các bệnh lây nhiễm còn đang là vấn đề nhức nhối, gây những lo
lắng, bất an cho nhiều người thì các bệnh không lây nhiễm lại nổi lên những vấn đề cấp
bách, đặc biệt phải kể đến các bệnh về rối loạn nội tiết chuyển hóa gây nên mà căn nguyên
chủ yếu là từ stress.
Stress có nhiều mức độ khác nhau, sự ảnh hưởng của nó cũng biểu hiện vô cùng đa
dạng và phức tạp tới chất lượng hoạt động sống của con người. Mặc dù hiếm khi stress gây
chết người một cách trực tiếp hay tức thì, hậu quả của nó gây ra không nhìn thấy rõ ngay
như các bệnh lây nhiễm nhưng dưới sự tác động không ngừng nghỉ của nhiều yếu tố từ môi
trường sống của con người, từ những điều kiện, cách thức sinh hoạt và tổ chức cuộc sống
của con người. Nó có thể phá vỡ sự cân bằng cơ thể, dẫn đến những rối loạn về tâm lý dẫn
đến những rối loạn chức năng sinh lý, sinh hóa của cơ thể, gây nên nhiều căn bệnh dai dẳng
và nguy hiểm như bệnh đường máu, bệnh tim mạch, tiểu đường, rối loạn tiêu hóa ảnh
1.3.1. Khái niệm về ứng phó
Trong tiếng Anh cope (ứng phó) có nghĩa là đương đầu đối mặt với những tình huống bất
thường.
Theo nghĩa rộng, ứng phó bao gồm tất cả các dạng tương tác của chủ thể với những
yêu cầu của thế giới bên ngoài và nội tâm - nắm bắt làm chủ hay làm suy giảm, làm quen
hay lảng tránh khỏi những yêu cầu của hoàn cảnh có vấn đề. Những điều kiện bên ngoài yêu cầu của hoàn cảnh, hay bên trong - đặc điểm tâm lý của chủ thể, tạo nên nội dung của
cách ứng phó, làm chúng hoàn toàn khác biệt với với sự thích ứng đơn giản. Theo khái
niệm trên thì ứng phó bao gồm tất cả các dạng tương tác của chủ thể với những yêu cầu của
thế giới bên ngoài và nội tâm - nắm bắt làm chủ hay làm suy giảm, làm quen hay lảng tránh
khỏi những yêu cầu của hoàn cảnh có vấn đề. Những điều kiện bên ngoài - yêu cầu của
hoàn cảnh, hay bên trong - đặc điểm tâm lý của chủ thể, tạo nên nội dung của cách ứng
phó, làm chúng hoàn toàn khác biệt với với sự thích ứng đơn giản.
Theo Adler A., tương ứng với đường đời của con người, có thể coi ứng phó là
phong cách sống của cá nhân, là sự tổng hợp những mục đích có nghĩa và cách đạt được
chúng, được xác định như sự thống nhất giữa những đặc điểm nhân cách, tâm thế và hoạt
động hàng ngày. Còn tương ứng với hoàn cảnh, như một thời khắc của đường đời thì có thể
coi ứng phó như một sự thay đổi phong cách sống theo hoàn cảnh.
Cùng với khái niệm về ứng phó thì chúng ta có khái niệm hành vi ứng phó. Hành vi
ứng phó được sử dụng để mô tả các cách phản ứng, hành động đặc thù của con người trong
những hoàn cảnh khác nhau. Đầu tiên chúng được sử dụng trong tâm lý học stress của R.
Lazarus và S. Folkman và được định nghĩa là tổng của những nỗ lực nhận thức và hành vi
mà cá nhân bỏ ra để làm suy yếu đi ảnh hưởng của stress. trong cách hiểu về hành vi ứng
phó có thể thấy nổi lên vai trò của hoàn cảnh, của tình huống nhất định cũng như vai trò
của của chính chủ thể của hành vi ứng phó đó. Ở đây, hoàn cảnh cũng có một cách hiểu
nhất định, đó là hoàn cảnh tâm lý của cá nhân, diễn ra có ý nghĩa với cá nhân, mang nghĩa
tương đối đặc thù chứ không phải hoàn cảnh xã hội chung. Hoàn cảnh tâm lý là sự thống
nhất giữa các điều kiện bên ngoài và sự diễn giải chủ quan hạn chế theo thời gian và thúc
đẩy hoạt động có lựa chọn của con người. Chúng có ý nghĩa khác nhau trong toàn bộ
đường đời của chủ thể, bao gồm từ những sự kiện sống (life-event) đến những thói quen
trong sinh hoạt hàng ngày (everyday life). Hoàn cảnh bao gồm một khối phức tạp những
đề vừa xảy ra với mình sẽ phần nào quyết định ảnh hưởng của vấn đề đó lớn đến đâu đối
với cá nhân đó. Chiến lược ứng phó bằng nhận thức giúp con người suy nghĩ một cách bình
tĩnh hơn, hợp lý hơn và có tính xây dựng hơn khi đối mặt với những khó khăn. Một trong
những quá trình nhận thức diễn ra ở đây là cấu trúc lại nhận thức của mình (cognitive
reconstruring), là quá trình "nói chuyện với bản thân" về vấn đề xảy ra. Đây là thuật ngữ do
Lazarus (1971) và Meichenbaum (1977) sử dụng nhằm diễn tả một quá trình thay đổi trong
nhận thức của con người trước hoàn cảnh khó khăn. Việc ứng phó thành công bằng con
đường nhận thức không làm khó khăn trở nên nhỏ đi nhưng nó làm cho chúng đỡ nguy