BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ ANH ĐÀO
QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO
THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ ANH ĐÀO
QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO
THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 62 38 01 08
DOC
EU
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa
ASEAN và Trung Quốc (2002).
Liên minh Châu Âu (European Union)
ICJ
ILC
Tòa án công lý quốc tế của Liên hợp quốc
Ủy ban luật quốc tế của Liên hợp quốc
ITLOS
Tòa luật biển quốc tế
UN
UNCLOS 1982
UNCLOS 1958
về lãnh hải
UNCLOS 1958
về thềm lục địa
Công ước Viên
năm 1969
Liên hợp quốc
Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982
Công ước của Liên hợp quốc năm 1958 về lãnh hải và
2.2.1. Vai trò của đảo trong xác định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng
lãnh hải .......................................................................................................... 39
2.2.2. Vai trò của đảo trong tạo ra các vùng biển riêng ................................ 44
2.2.3. Vai trò của đảo trong phân định biển giữa các quốc gia ..................... 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ................................................................................... 55
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN GIẢI THÍCH, ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA
CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982 VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO
VÀ TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG ................................................................ 57
3.1 Thực tiễn giải thích, áp dụng quy định của Công ước luật biển năm 1982
về quy chế pháp lý của đảo ................................................................................ 57
3.1.1 Thực tiễn về vai trò của đảo trong xác định đường cơ sở .................... 57
3.1.2 Thực tiễn về vai trò của đảo trong tạo ra các vùng biển riêng ............. 62
3.1.3 Thực tiễn về vai trò của đảo trong phân định biển ............................... 72
3.2 Thực trạng tranh chấp về quy chế pháp lý của đảo ở Biển Đông và
những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam ............................................................. 82
3.2.1 Tranh chấp về quy chế pháp lý của đảo ở Biển Đông.......................... 82
3.2.2 Nhận định về tranh chấp quy chế pháp lý của đảo ở Biển Đông và
những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam .......................................................... 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ................................................................................... 96
CHƯƠNG 4 KIẾN NGHỊ LẬP TRƯỜNG QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM
VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ VẤN ĐỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO Ở BIỂN
ĐÔNG .................................................................................................................. 98
4.1 Kiến nghị lập trường quan điểm của Việt Nam về quy chế pháp lý của
đảo ở Biển Đông ................................................................................................. 98
4.1.1 Lập trường quan điểm về vai trò của đảo trong phương hướng hoàn
chỉnh đường cơ sở của Việt Nam .................................................................. 98
4.1.2 Lập trường quan điểm về chủ quyền và vùng biển của các cấu trúc địa
chất ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa .................................... 106
có Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt
Nam là thành viên [5; 7; 20; 21].
- Việc xác định một cấu trúc trên biển có được hưởng quy chế pháp lý của đảo
hay không có ảnh hưởng rất lớn đến phạm vi không gian biển của mỗi quốc gia và
lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, UNCLOS 1982 quy định chưa rõ
ràng về quy chế pháp lý của đảo nên trên thực tế, các quốc gia đã giải thích và áp
dụng rất khác nhau. Thực trạng này khiến cho những nỗ lực quản lý tranh chấp và
thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông bị cản trở vì không xác định được một cách công
bằng về mặt địa lý những vùng biển tranh chấp và không có tranh chấp ở Biển
Đông.
Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII
UNCLOS 1982 nhằm giải quyết vụ Phi-lip-pin kiện Trung Quốc đã giải thích Điều
121(3) UNCLOS 1982 với các cấu trúc ở quần đảo Trường Sa [145]. Tuy nhiên,
Điều 121 (3) UNCLOS 1982 mới chỉ là một phần của nội dung quy chế pháp lý đảo
và phán quyết cũng không đề cập đến các cấu trúc ở quần đảo Hoàng Sa. Hơn nữa,
phán quyết của Tòa trọng tài chỉ ràng buộc Phi-lip-pin và Trung Quốc nên tranh
chấp về quy chế pháp lý của đảo cũng vẫn sẽ tiếp tục tồn tại giữa các bên khác trong
tranh chấp ở Biển Đông. Bên cạnh đó, vì nhiều lý do khác nhau nên tính đến thời
điểm hiện tại không có nhiều quốc gia đã bày tỏ sự tán thành rõ ràng và mạnh mẽ
với phán quyết của Tòa trọng tài [56; 61; 76; 98; 106]. Như vậy, các nghiên cứu về
quy chế pháp lý của đảo vẫn cần phải được tiếp tục thực hiện nhằm làm sâu sắc
thêm về lý luận và tìm ra xu hướng chung trong thực tiễn giải thích, áp dụng các
quy định của UNCLOS 1982 về quy chế pháp lý của đảo, từ đó đề xuất quan điểm
và hành động mà Việt Nam có thể thực hiện để bảo vệ lợi ích quốc gia trên cơ sở
pháp luật và thực tiễn quốc tế.
- Một số quốc gia vẫn theo đuổi yêu sách chủ quyền đối với các đảo ở quần
đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam với hy vọng về tiềm năng của
2
không gian biển. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của Luận án bao gồm các vấn đề cụ
thể sau:
- Quy định của luật biển quốc tế về định nghĩa đảo và quan niệm về quy chế
pháp lý của đảo; đặc điểm và lịch sử hình thành, phát triển quy chế pháp lý của đảo
trong luật biển quốc tế. Nội dung quy chế pháp lý của đảo bao gồm ba vấn đề có
3
quan hệ với nhau, đó là vai trò của đảo: (i) trong xác định đường cơ sở dùng để tính
chiều rộng lãnh hải; (ii) trong tạo ra các vùng biển riêng và; (iii) trong phân định
biển giữa các quốc gia.
- Quy định về quy chế pháp lý của đảo trong UNCLOS 1982;
- Thực tiễn các quốc gia và cơ quan tài phán quốc tế giải thích, áp dụng quy
định của UNCLOS 1982 về quy chế pháp lý của đảo, trong đó lưu ý đặc biệt đến lập
luận và tác động của phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa trọng tài được thành lập
theo Phụ lục VII UNCLOS 1982 để giải quyết vụ Phi-lip-pin kiện Trung Quốc;
- Đặc điểm tự nhiên của các cấu trúc ở Biển Đông và thực trạng tranh chấp về
quy chế pháp lý của đảo ở Biển Đông mà Việt Nam là một bên.
Với yêu cầu về dung lượng, Luận án chỉ tập trung nghiên cứu quy định của
UNCLOS 1982 về quy chế pháp lý của các đảo tự nhiên, có sự liên hệ cần thiết đến
các cấu trúc khác trên biển. Các đảo ở Biển Đông mà Luận án đề cập đến chỉ bao
gồm các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam, trong đó có sử dụng các ví dụ nhưng
không đi sâu vào phân tích quy chế pháp lý của từng đảo cụ thể..
Luận án nghiên cứu thực tiễn liên quan đến quy chế pháp lý của đảo kể từ thời
điểm UNCLOS 1982 được ký kết và nhất là từ sau khi Công ước có hiệu lực (năm
1994) đến nay. Tuy nhiên, do tính kế thừa của UNCLOS 1982 từ các Công ước
trước và pháp luật của các quốc gia thành viên không thay đổi sau khi UNCLOS
1982 có hiệu lực nên Luận án cũng đề cập đến một số thực tiễn từ trước năm 1982
liên quan đến quy chế pháp lý của đảo.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin. Đối với từng nội dung cụ
thể, Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như:
phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp,
phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh luật học, kết
hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn để đưa ra các giải pháp cụ thể và khả thi.
Phương pháp phân tích, thống kê, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn là
phương pháp chủ đạo được sử dụng trong hầu hết các chương, đặc biệt là chương 2
và chương 3 nhằm làm rõ nội dung, mục đích và nghĩa chính xác của các quy định
trong UNCLOS 1982 về quy chế pháp lý của đảo.
Phương pháp so sánh luật học được sử dụng để phân biệt đảo và quy chế pháp
lý của đảo với các cấu trúc khác trên biển.
Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình hình thành và phát
triển quy chế pháp lý của đảo trong luật biển quốc tế, gắn với bối cảnh hình thành
và mục đích thực sự mà các quy định này hướng tới. Phương pháp này cũng được
sử dụng để làm sáng tỏ liệu trong điều kiện tự nhiên, các đảo ở quần đảo Hoàng Sa
và quần đảo Trường Sa có khả năng “thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một
đời sống kinh tế riêng” hay không.
Phương pháp hệ thống được sử dụng để xâu chuỗi và tìm ra sự nhất quán giữa
các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan đến từng nội dung thuộc quy chế
pháp lý của đảo. Qua đó, Luận án đánh giá, kiến nghị một cách hệ thống và toàn
diện về lập trường quan điểm, biện pháp và điều kiện đảm bảo để Việt Nam xử lý
5
vấn đề quy chế pháp lý của đảo.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hoá các quan điểm và thực
tiễn giải thích, áp dụng các quy định của UNCLOS 1982 về quy chế pháp lý của
đảo nói chung và đảo ở Biển Đông nói riêng.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã xây dựng định nghĩa, xác định nội dung và làm rõ các đặc điểm
6
đánh giá tương đối toàn diện về thực tiễn giải thích, áp dụng các quy định của
UNCLOS 1982 về quy chế pháp lý của đảo, từ đó khẳng định có tính thuyết phục
về cách hiểu chính xác các quy định này. Do đó, Luận án sẽ góp phần bổ sung tri
thức khoa học pháp lý quốc tế nói chung và chuyên ngành luật biển quốc tế nói
riêng về quy chế pháp lý của đảo.
Kết quả nghiên cứu của luận án có tính ứng dụng thực tiễn. Một là, Luận án
tìm ra giải pháp tháo gỡ bế tắc trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông hiện nay
bằng việc nhìn nhận tranh chấp từ góc độ quy chế pháp lý của đảo để dự báo kết
quả của tranh chấp chủ quyền và đề xuất giải pháp giải quyết tranh chấp. Hai là,
Luận án đóng góp những căn cứ khoa học để Việt Nam lựa chọn lập trường quan
điểm tối ưu và các biện pháp khả thi để xử lý vấn đề quy chế pháp lý của đảo nhằm
bảo vệ lợi ích quốc gia, vì hòa bình và công lý ở Biển Đông. Ba là, Luận án đóng
góp vào hệ thống kiến thức pháp lý để các cơ quan Nhà nước, người nghiên cứu,
học tập và mọi người dân nâng cao hiểu biết, cùng tham gia và phối hợp trong việc
sử dụng luật quốc tế nói chung và UNCLOS 1982 nói riêng một cách hiệu quả
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam.
7. Kết cấu của Luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phần phụ lục. Nội dung luận án được bố cục thành bốn chương, có kết
luận của từng chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về quy chế pháp lý của đảo trong luật biển
quốc tế.
Chương 3: Thực tiễn giải thích, áp dụng quy định của Công ước Luật biển
năm 1982 về quy chế pháp lý của đảo và tranh chấp ở Biển Đông.
Chương 4: Kiến nghị lập trường quan điểm của Việt Nam và biện pháp xử lý
vấn đề quy chế pháp lý của đảo ở Biển Đông.
Toàn Thắng (2015) trong “Vấn đề phân định biển trong luật quốc tế và thực tiễn
phân định biển giữa Việt Nam với các nước trong khu vực” [28, tr.76- 80]; Lê Hồng
Tiến (2014) trong “Quy chế pháp lý của đảo theo luật pháp quốc tế- Áp dụng tại
quần đảo Trường Sa” [29, tr.6-11]; Phạm Thị Giang (2015) trong “Quy chế pháp lý
của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước luật biển 1982- Liên hệ với những
tranh chấp trên Biển Đông” [15, tr.6-10].…
8
Từ các công trình kể trên, nghiên cứu sinh có thể đánh giá như sau:
Một là, các công trình nghiên cứu nêu trên đều căn cứ vào đề xuất tại các Hội
nghị Luật biển và văn bản pháp lý quốc tế hiện hành để phân tích các tiêu chí xác
định đảo, trong đó có liên hệ với các cấu trúc khác trên biển. Một số công trình
nghiên cứu đã thấy được tính tổng thể và mối quan hệ chặt chẽ giữa các tiêu chí xác
định đảo [28; 29].
Hai là, mặc dù tình trạng thủy triều có thể ảnh hưởng đến việc xác định một
cấu trúc có là đảo hay không nhưng các công trình nghiên cứu kể trên chưa làm rõ
khoảng thời gian “ở trên mặt nước khi thủy triều lên” là bao lâu, tức là đảo có cần
phải “thường xuyên” ở trên mặt nước hay không. Hơn nữa, trong các công trình
nghiên cứu nêu trên, chỉ có Luận văn của Lê Hồng Tiến (2014) nhận định rằng độ
cao bao nhiêu so với bề mặt nước biển không phải là yếu tố có tính quyết định để
xác định một cấu trúc là đảo. Tuy nhiên, để đưa ra nhận định này, Luận văn chỉ
trích dẫn kết luận của ICJ trong vụ Ni-ca-ra-goa kiện Cô lôm-bi-a (2012) mà chưa
luận giải cụ thể từ các góc độ khác nhau như khí tượng thủy văn, quá trình đàm
phán UNCLOS 1982 [29, tr.10-11]….Do đó, tiêu chí này cần được làm sâu sắc hơn
để có cơ sở lý luận giải quyết các trường hợp thực tiễn, ví dụ như ở Biển Đông- nơi
có nhiều cấu trúc mà rất khó xác định chúng là đảo hay bãi cạn lúc chìm lúc nổi.
- Về định nghĩa và nội dung quy chế pháp lý của đảo:
Tất cả các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đều không đưa ra định nghĩa và
xác định nội dung quy chế pháp lý của đảo. Trong các công trình nghiên cứu ở Việt
[11]; Nguyễn Toàn Thắng (2015) trong “Vấn đề phân định biển trong luật quốc tế
và thực tiễn phân định biển giữa Việt Nam với các nước trong khu vực” [28];
Nguyễn Thị Kim Ngân (2012) trong “Quy chế pháp lý của đảo và quần đảo theo
Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982” [19]; Lê Hồng Tiến (2014)
trong “Quy chế pháp lý của đảo theo luật pháp quốc tế- Áp dụng tại quần đảo
Trường Sa” [29].
Như vậy, có thể đánh giá rằng, trong khoa học pháp lý quốc tế hiện nay chưa
có cách hiểu thống nhất về nội dung quy chế pháp lý của đảo nhưng chưa có công
trình nào nghiên cứu một cách thấu đáo về vấn đề có tính lý luận này.
- Về đặc điểm quy chế pháp lý của đảo:
Xác định được các đặc điểm của quy chế pháp lý đảo trong luật biển quốc tế
có thể góp phần nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến quy chế pháp lý của đảo và
luận giải được vì sao đảo và quy chế pháp lý của nó lại thu hút được sự chú ý mạnh
mẽ của các quốc gia đến như vậy. Tuy nhiên, hiện nay tất cả các công trình nghiên
cứu ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam còn bỏ qua vấn đề này.
- Về lịch sử hình thành và phát triển của quy chế pháp lý đảo trong luật biển
quốc tế
Công trình tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề này là cuốn sách “The Maritime
Zones of Islands in international law” của Clive Rafph Symmons (1979) [50, tr.1822]; “The legal regime of islands in the South China Sea” của Marius Gjetnes
(2000) [81, tr.24-26]; ấn phẩm “The Law of the Sea, Regime of Islands- Legislative
History of Part VIII (Article 121) of the United Nations Convention on the Law of
10
the Sea” của UN Office for Ocean Affairs & The Law of the Sea (1988) [120]; đề
tài cấp Bộ “Vấn đề phân định biển trong luật quốc tế và thực tiễn phân định biển
giữa Việt Nam với các nước trong khu vực” của tác giả Nguyễn Toàn Thắng (2015)
[28, tr.186-189] và một số công trình khác.
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã tổng hợp được các nhóm quan điểm và
đề xuất chính thức trong quá trình đàm phán xây dựng quy chế pháp lý của đảo, từ
11
phán và văn bản Công ước bằng Tiếng Việt và/hoặc văn bản Tiếng Anh [15; 49;
81]. Cách giải thích này có điểm hợp lý, cần được tiếp tục kế thừa nhưng trên cơ sở
Điều 33 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước giữa các quốc gia (Công ước
Viên năm 1969), cách giải thích này cần được mở rộng thêm, tức là phải xem xét
văn bản UNCLOS 1982 bằng các ngôn ngữ khác đã được các quốc gia xác thực và
thừa nhận có giá trị pháp lý như nhau.
+ Giải thích quy định của UNCLOS 1982 về vai trò của đảo trong xác định
đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải: Các công trình tiêu biểu nghiên cứu
về vấn đề này là cuốn sách “Straight baselines in maritime boundary delimitation”
của W. Michael Reisman & Gayl S. Westerman (1992) [126]; cuốn sách “Excessive
maritime claimes” của J. Ashley Roach & Robert W. Smith (2012) [71]; cuốn sách
“Dependent archipelagos in the law of the sea” của Sophia Kopela (2013) [105]; đề
tài “Vấn đề phân định biển trong luật quốc tế và thực tiễn phân định biển giữa Việt
Nam với các nước trong khu vực” của Nguyễn Toàn Thắng (2015) [28]; bài viết
“Straights baselines: The need for the universally applied norm” của J Ashley
Roach & Robert W. Smith (2000) [72]; bài viết “State practice regarding straight
baselines in east sea- Legal, technical and political issues in a changing
environment” của Sam Bateman & Clive Schofield (2008) [104]; bài viết “Straight
baselines around insular formations not constituting an archipelagic state” của Erik
Franckx & Marco Benatar (2011) [60]…
Từ nội dung của các công trình đã công bố nêu trên, nghiên cứu sinh có thể
đánh giá như sau:
Thứ nhất, trên cơ sở phân tích các điều khoản, dẫn chiếu đến khuyến nghị của
Mỹ và của Ủy ban Luật quốc tế UN (ILC) [126; 28], các công trình nghiên cứu nêu
trên đã làm rõ các điều kiện và hoàn cảnh được hoạch định đường cơ sở
thẳng/đường cơ sở quần đảo. Các kết quả nghiên cứu này sẽ được nghiên cứu sinh
kế thừa và tiếp thu trong Luận án của mình. Tuy nhiên, các công trình nêu trên chưa
phân tích sâu về khả năng mở rộng các không gian biển của đảo do sử dụng các
Their impact on the Ownership of the Ocean’ Resources” [77, tr.286]; Marius
Gjetnes (2000) [81, tr.55-56]; Nguyễn Toàn Thắng [28, tr.86]; Nguyễn Bá Diến
(2009) [11]; Phạm Thị Giang (2015) [15, tr.23]...Tuy nhiên, ngay trong nhóm quan
điểm thứ hai cũng có sự khác nhau. Trong khi Jon M. Van Dyke cho rằng, số lượng
người cư trú trên đảo phải từ 50 người trở lên [77, tr.54-98] nhưng Marius Gjetnes
(2000) [81, tr.54] và Nguyễn Toàn Thắng [28, tr.87] lại cho rằng chỉ cần “khả năng”
duy trì sự cư trú đó. Điểm chung của các công trình nghiên cứu trên là chưa đưa ra
những luận cứ thuyết phục cho quan điểm của mình.
Về điều kiện “đời sống kinh tế của chính nó”: Jonathan I.Charney đã giải
thích rất rộng khi cho rằng hoạt động kinh tế không cần phải đảm bảo cho cuộc
sống của con người trong suốt cả năm và có thể chỉ bao gồm các hoạt động khai
thác tài nguyên trong vùng lãnh hải của đảo hoặc chỉ cần trên đảo có một địa điểm
kinh doanh để kiếm lời [75, tr.869]. Ngược lại, Marius Gjetnes (2000) [81, tr.5860], Phạm Thị Giang (2015) [15, tr.23], Nguyễn Toàn Thắng (2015) [28, tr.89] cho
rằng đảo các tài nguyên của chính đảo phải cung cấp ít nhất một phần cho đời sống
13
kinh tế trên đảo. Điều này cũng có nghĩa là, khả năng có “đời sống kinh tế của chính
nó” chỉ có tính độc lập tương đối, không loại bỏ sự giúp đỡ từ bên ngoài [28, tr.88].
Về sự song hành hay phân tách của hai điều kiện trên: Jonathan I.Charney
[75, tr.864-866]; A. G. Oude Elferink (2001) trong “The islands in the South China
Sea: “How does their presence limit the extent of the High Seas and the Area and
the Maritime Zones of the mainland coasts?” [35, tr.169-190]; Nguyen, Lan Anh
Thi (2008), trong “The South China Sea Dispute: a reappraisal in the light of
international law” [87]; Lê Hồng Tiến (2014) [29, tr.30]; Phạm Thị Giang (2015)
[15, tr.23]; Nguyễn Thị Lan Anh (2010) [2] cho rằng, chỉ cần đáp ứng được một
trong hai điều kiện trên là đủ để đảo đá có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
riêng. Ngược lại, các học giả Marius Gjetnes (2000) [81, tr.54]; Nguyễn Toàn
Thắng [28, tr.85]...cho rằng, đảo đá phải đáp ứng đồng thời hai điều kiện “thích hợp
cho con người đến ở” và “đời sống kinh tế của chính nó” thì mới có vùng đặc quyền
Biển Đông
- Nghiên cứu thực tiễn về vai trò của đảo trong xác định đường cơ sở có các
công trình tiêu biểu sau: W. Michael Reisman và Gayl S. Westerman (1992) trong
cuốn “Straight baselines in maritime boundary delimitation” [126, tr.105-109];
Sophia Kopela (2013) trong “Dependent archipelagos in the law of the sea” [105]; J
Ashley Roach & Robert W. Smith (2000) trong cuốn “Straights baselines: The need
for the universally applied norm” [72]; J. Ashley Roach & Robert W. Smith (2012)
trong cuốn “Excessive maritime claimes” [71]; Erik Franckx & Marco Benatar
(2011) trong bài “Straight baselines around insular formations not constituting an
archipelagic state” [60]; Sam Bateman & Clive Schofield (2008) trong bài “State
practice regarding straight baselines in east sea- Legal, technical and political
issues in a changing environment” [103]; khảo sát, đánh giá của Mỹ trong “Limits
in The Seas” [122]; Nghiên cứu của Hội luật quốc tế (ILA) về đường cơ sở thẳng
[69]; Nguyễn Toàn Thắng (2015) trong đề tài “Vấn đề phân định biển trong luật
quốc tế và thực tiễn phân định biển giữa Việt Nam với các nước trong khu vực” [28,
tr.46-55 & 225-274]...
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích và đánh giá về tính hợp pháp
hoặc “quá đáng” của đường cơ sở do các quốc gia tự xác định nhưng chưa phân tích
toàn diện quan điểm của cơ quan tài phán quốc tế về xác định đường cơ sở thẳng.
Những thông tin đáng tin cậy về tọa độ, độ dài đoạn đường cơ sở...trong các nghiên
cứu nêu trên là tư liệu quý báu để tổng hợp, xây dựng bảng thống kê và đánh giá
thực tiễn khi thực hiện đề tài này.
- Nghiên cứu thực tiễn về vai trò của đảo trong tạo ra các vùng biển riêng có
công trình nghiên cứu của Marius Gjetnes (2000) trong “The legal regime of islands
in the South China Sea” [81]; Prescot & C.Schofield (2005) trong “The Maritime
Political Boundaries of the World” [96]; W. Gullett & C. Schofield (2007), trong
“Pushing the limits of the Law of the Sea Convention: Australian and French
cooperative surveillance and enforcement in the Southern Ocean” [125]; Clive
Howard Schofield (2009) trong đề tài “The Trouble with islands” [49, tr.93-120];
Yann-huei Song (2009), “Việc áp dụng Điều 121 Khoản 3 Công ước Luật biển với
islands” [49, tr.163-202]; Prescott and Schofield (2005) trong “Maritime Political
Boundaries of the World” [96]; Nguyễn Toàn Thắng (2015) trong đề tài “Vấn đề
phân định biển trong luật quốc tế và thực tiễn phân định biển giữa Việt Nam với
các nước trong khu vực” [28, tr.362-367]...
Các công trình nghiên cứu nêu trên thường liệt kê và khái quát thực tiễn về
phân định biển nói chung, trong đó đảo được xem là hoàn cảnh đặc biệt có thể ảnh
hưởng đến kết quả phân định mà chưa tổng hợp để đi đến kết luận rằng trong phân
định biển, đảo chỉ có hiệu lực hạn chế và hiệu lực của đảo trong phân định lãnh hải
16
khác với hiệu lực của đảo trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của đảo trong phân định biển có tham luận của
tác giả Nguyễn Bá Diến (2011) “Địa vị pháp lý của đảo trong phân định các vùng
biển” trình bày tại hội thảo quốc tế [12]. Những kết quả này rất có giá trị kế thừa
nhưng vẫn cần được nghiên cứu thêm, đặc biệt là lập luận của cơ quan tài phán
quốc tế trong các phán quyết gần đây về ảnh hưởng của đảo trong phân định biển.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu cũng chưa minh chứng thuyết phục được
rằng, đảo chỉ có hiệu lực hạn chế trong phân định biển và hiệu lực của đảo trong
phân định lãnh hải khác với hiệu lực của đảo trong phân định vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa.
- Những công trình nghiên cứu về điều kiện tự nhiên của các cấu trúc ở Biển
Đông và thực trạng tranh chấp về quy chế pháp lý của đảo ở vùng biển này thì rất
nhiều và khó có thể liệt kê hết. Mặc dù các công trình nghiên cứu thường đưa ra kết
quả không giống nhau về số lượng, tên gọi của các đảo, các bãi cạn lúc chìm lúc
nổi…ở quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa nhưng lại mô tả khá thống nhất về
các đặc điểm tự nhiên của chúng. Đây là những tư liệu tham khảo hữu ích cho
nghiên cứu sinh khi thực hiện đề tài này. Tranh chấp về quy chế pháp lý của đảo ở
Biển Đông cũng đã được phân tích một cách toàn diện trong các công trình nêu
trên. Tuy nhiên, việc nghiên cứu không nên chỉ dừng lại ở thực trạng và khả năng