Header Page 1 of 145.
0
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
—————————
ĐỖ LỆ THU
RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 3
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Hà Nội, 2016
Footer Page 1 of 145.
Header Page 2 of 145.
0
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
——————————
ĐỖ LỆ THU
RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm và giúp đỡ tôi
thực hiện công trình nhỏ này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Tác giả
Đỗ Lệ Thu
Footer Page 3 of 145.
Header Page 4 of 145.
0
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài Rèn kĩ năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh
lớp 3 đƣợc chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở kế thừa và phát huy
những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác cộng với sự cố
gắng, nỗ lực của bản thân.
Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài này không trùng với bất cứ một công
trình nghiên cứu nào khác đã đƣợc công bố.
Ngƣời thực hiện
Đỗ Lệ Thu
Footer Page 4 of 145.
Header Page 5 of 145.
0
Footer Page 5 of 145.
Header Page 6 of 145.
0
2.1.4. Đảm bảo tính hấp dẫn ........................................................................... 59
2.2. Hệ thống các biện pháp dạy kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho HS
lớp 3 ................................................................................................................ 60
2.2.1. Biện pháp hướng dẫn HS nhận biết lời của nhân vật và lời của người
dẫn chuyện trên văn bản truyện. ..................................................................... 60
2.3.2. Biện pháp hướng dẫn HS biết chuyển giọng đọc thành giọng nói, giọng kể 69
2.3.3. Biện pháp hướng dẫn HS biết hướng đến người nghe, giao tiếp với
người nghe khi kể chuyện ................................................................................ 72
2.3.4. Biện pháp hướng dẫn HS biết chuyển đổi ngôi kể khi kể chuyện ........ 78
2.3.5. Biện pháp hướng dẫn HS biết đóng vai người kể trong truyện để kể lại
câu chuyện. ...................................................................................................... 84
2.3.6. Biện pháp hướng dẫn HS kết hợp diễn xuất của người kể với sử dung
đ dùng trực quan, minh họa cho câu chuyện để kể câu chuyện hấp dẫn
hơn, hiệu quả hơn .................................................................................... 95
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 103
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ......................................................................104
3.1. Mục đích thực nghiệm ................................................................................................104
3.2. Thời gian thực nghiệm ................................................................................................113
3.3. Phạm vi thực nghiệm ................................................................................................. 113
3.4. Lựa chọn đối tƣợng thực nghiệm ................................................................................ 113
3.5. Nội dung thực nghiệm ................................................................................................115
3.6. Kết quả và phân tích kết quả thực nghiệm ..................................................................117
5. Thực nghiệm
TN
6. Tiếng Việt 3
TV3
Footer Page 7 of 145.
Header Page 8 of 145.
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Trong thƣ gửi HS nhân ngày khai trƣờng đầu tiên của nƣớc Việt
Nam độc lập, Bác Hồ thiết tha căn dặn các em HS: ―Non sông Việt Nam có
trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để
sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một
phần công học tập của các em‖. Lời dạy của Bác đã khẳng định vai trò của
trẻ em đối với tƣơng lai của đất nƣớc.
Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, nâng cao không ngừng của văn
hóa, kinh tế đất nƣớc. Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nƣớc lớn
mạnh thì cần sự chung sức, đồng lòng của toàn dân mà lực lƣơng chủ
yếu chính là những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc, là nhân vật chính
góp phần tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho Tổ Quốc Việt Nam, đó chính
là trẻ em. Trẻ em là đối tƣợng chủ yếu trong chiến lƣợc con ngƣời của
Đảng, Nhà nƣớc ta và đƣợc cả xã hội quan tâm.
1.2 “Tiểu học là cấp học nền tảng trong nhà trường phổ thông, đặt cơ
đang dừng lại ở việc dạy kể chuyện theo lời nói của nhân vật hay theo nội
dung câu chuyện, chƣa quan tâm đến việc ứng dụng của việc kể chuyện là HS
biết sử dụng các phần mình đã kể, phù hợp với văn cảnh, phù hợp với văn hoá
giao tiếp của ngƣời Việt.
Nghiên cứu việc rèn kĩ năng kể chuyện ở tiểu học nói chung và việc
rèn kĩ năng kể chuyện ở lớp 3 nói riêng theo quan điểm giao tiếp là một việc
làm thiết thực, cấp bách để giải quyết những khó khăn, lúng túng trong dạy
học tiếng Việt của GV và HS lớp 3 hiện nay, góp phần thúc đẩy quá trình đổi
mới nội dung, phƣơng pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học diễn ra nhanh chóng
và đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài luận văn: “Rèn kĩ
năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 3”.
2. Lịch sử vấn đề
Kể chuyện là một trong những phân môn quan trọng ở Tiểu học.
Footer Page 9 of 145.
Header Page 10 of 145.
3
Vì vậy, phân môn kể chuyện đã đƣợc nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu.
Trong số đó, nổi bật nhất phải kể đến tác giả Chu Huy với cuốn Dạy kể
chuyện ở trƣờng Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000. Ngoài việc xác định
vị trí, nhiệm vụ rất quan trọng của phân môn Kể chuyện, ông còn đề ra
phƣơng pháp và kĩ thuật lên lớp với những bài soạn mẫu rất cụ thể.
Cuốn sách giúp chúng tôi nhận thức đúng về phân môn kể chuyện,
các biện pháp hƣớng dẫn dạy kể chuyện rất phong phú, là cẩm nang cho
nhiều giáo viên. Song các biện pháp trình bày trong sách chỉ phù hợp với
tiết kể chuyện đƣợc dạy theo phƣơng pháp cũ (thầy kể, trò nghe, ghi nhớ
Phƣơng Nga và Nguyễn Trí biên soạn năm 2004 cũng đã đề cập đến phƣơng
pháp dạy học kể chuyện. Viết về phƣơng pháp dạy học kể chuyện các tác giả
đã vạch ra mục đích quan trọng và ý nghĩa thiết thực của việc dạy học kể
chuyện, đồng thời, các tác giả cũng đã xây dựng cách thức tổ chức cũng nhƣ
các hoạt động chủ yếu trong tiết kể chuyện. Đặc biệt các tác giả đã nhấn mạnh
đến việc rèn kĩ năng nghe và kể cho học sinh.
Hiện nay, chƣơng trình Tiểu học mới, phân môn kể chuyện đƣợc
giảng dạy theo phƣơng pháp mới, ở đó học sinh đƣợc chủ động kể chuyện
dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên chứ không thụ động nghe, ghi nhớ và
kể lại nhƣ trƣớc nữa. Với phƣơng pháp này, giáo viên trở về đúng vị trí
chủ đạo của mình và học sinh thực sự là ngƣời tự giác, tích cực và tự lực
trong học tập. Tuy nhiên, phƣơng pháp mới này chỉ đƣợc thực hiện đại trà
trong vài năm gần đây, nó còn khá mới mẻ. Do đó, các công trình
nghiên cứu còn chƣa nhiều.
Đề cập đến kể chuyện, đã có nhiều tài liệu giáo dục nghiên cứu và chỉ
ra vai trò, tầm quan trọng của việc dạy kể chuyện, phƣơng pháp dạy kể
chuyện, tuy nhiên các tài liệu đó còn mang tính chung, chƣa chỉ rõ vấn đề
cũng nhƣ chƣa đƣa ra các biện pháp cụ thể để áp dụng vào thực tiễn.. Vấn đề
kể chuyện còn đƣợc đề cập ở một số cuốn sách khác nhƣ: Giáo trình phƣơng
pháp dạy học Tiếng Việt 3, Nguyễn Trí, NXB Đại học sƣ phạm, 2004.
Nhìn chung các cuốn sách đã đề cập đến việc giảng dạy phân môn kể
chuyện ở tiểu học, tuy nhiên vấn đề kể chuyện theo quan điểm giao tiếp còn ít
đƣợc chú ý.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Chƣơng trình Tiếng Việt và hoạt động dạy
Footer Page 11 of 145.
Header Page 12 of 145.
Footer Page 12 of 145.
Header Page 13 of 145.
6
3- Phƣơng pháp quan sát: Đƣợc cụ thể bằng các hình thức phỏng
vấn, đọc giáo án, dự giờ… đối với giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở lớp 3
phần kể chuyện theo quan điểm giao tiếp, khảo sát hứng thú và khả năng tiếp
nhận loại bài này của học sinh.
.4- Phƣơng pháp thực nghiệm: Để đánh giá và rút ra kết luận cụ thể
về phƣơng pháp hƣớng dẫn học sinh chuyển đổi ngôi kể trong giờ kể chuyện.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu luận văn rèn kĩ năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho
học sinh lớp 3 đƣợc nghiên cứu trọn vẹn và xử lý đầy đủ, thì nhận thức của
giáo viên về kỹ năng kể chuyện đƣợc chính xác hơn, chất lƣợng dạy kể
chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 3 đƣợc nâng cao hơn.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của kể chuyện ở tiểu học
theo quan điểm giao tiếp
Chƣơng 2: Biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp
cho học sinh lớp 3.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm
Footer Page 13 of 145.
Header Page 14 of 145.
Header Page 15 of 145.
8
Giao tiếp tồn tại dƣới hai dạng: giao tiếp bằng lời (giao tiếp miệng) và
giao tiếp bằng văn tự (giao tiếp viết).
Vấn đề đặt ra là tại sao con ngƣời lại phải giao tiếp với nhau? Câu trả
lời chỉ có thể tìm thấy trong mục đích và chức năng của giao tiếp. Vai trò mà
giao tiếp đảm nhận trong đời sống cộng đồng chính là chức năng của ngôn
ngữ. Giao tiếp có 4 chức năng chính:
Chức năng thông tin (chức năng thông báo): Qua các cuộc giao tiếp,
ngƣời ta trao đổi những thông tin (các tin tức thời sự, chính trị, các tri thức
khoa học, văn học nghệ thuật....) dƣới dạng nhận thức, tức là họ đã thực hiện
chức năng thông báo của giao tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức của con
ngƣời. Đây chính là chức năng mà chúng ta thƣờng gặp trong giao tiếp.
Chức năng tạo lập quan hệ: Không chỉ dừng lại ở việc trao đổi thông
tin, trong quá trình giao tiếp con ngƣời còn hƣớng tới việc xây dựng và duy trì
các mối quan hệ tốt đẹp giữa những cá nhân tham gia giao tiếp. Đôi khi, mục
đích này lại là mục đích chính của cuộc giao tiếp. Tuy nhiên, chức năng này
bao gồm cả chức năng phá vỡ quan hệ.
Chức năng giải trí: Trong cuộc sống có những lúc con ngƣời phải làm
việc, hoặc học tập quá vất vả, những lúc nhƣ thế con ngƣời cần đƣợc nghỉ
ngơi thƣ giãn. Hoạt động giao tiếp với những câu chuyện cƣời, những lời đùa
vui dí dỏm....sẽ là liều thuốc hiệu nghiệm xua đi những mệt mỏi ƣu phiền,
làm cho con ngƣời thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn và hứng thú hơn với công
việc hàng ngày của mình. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, chức năng này có
vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.
Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp con ngƣời có thể tự bộc lộ
mình về tình cảm, sở thích, trạng thái sức khoẻ, hay nguyện vọng, năng khiếu.
Đối với các sự vật, hiện tƣợng hoặc một vấn đề nào đó mà họ quan tâm, tất cả
Hiện thực đƣợc nói tới chính là sự vật, hiện tƣợng, những sự kiện diễn ra
trong thế giới tự nhiên và trong đời sống xã hội của con ngƣời. Hiện thực đƣợc
nói tới cấu thành nội dung của cuộc giao tiếp và tạo nên đề tài, chủ đề của các
cuộc nói chuyện. Tuỳ theo đề tài, chủ đề của các cuộc nói chuyện mà cả hai bên
lựa chọn các nội dung chi tiết và phƣơng tiện ngôn ngữ để giao tiếp.
Footer Page 16 of 145.
Header Page 17 of 145.
10
c) Hoàn cảnh giao tiếp
Cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong một bối cảnh cụ thể. Hoàn cảnh
giao tiếp đƣợc chia làm hai loại:
+ Hoàn cảnh giao tiếp rộng là tổng thể những đặc điểm về điều kiện tự
nhiên, xã hội, lịch sử.
+ Hoàn cảnh giao tiếp hẹp còn gọi là tình huống giao tiếp, bao gồm
các yếu tố thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, tình trạng sức khoẻ.
d) Ngôn ngữ được sử dụng
Ngôn ngữ là công cụ để cả hai bên tiến hành giao tiếp. Trong văn bản
văn chƣơng, nhà văn giao tiếp với bạn đọc, ngoài phƣơng tiện ngôn từ còn
giao tiếp bằng hình tƣợng nhân vật, chi tiết nghệ thuật, bằng hình ảnh, biện
pháp tu từ...
e) Ngôn bản
―Ngôn bản là chuỗi kết hợp các yếu tố ngôn ngữ tạo nên lời nói của
nhân vật giao tiếp‖ [Giáo trình tiếng Việt -NXBGD-1997 trang31] nói cách
khác ngôn bản là sản phẩm của lời nói đƣợc tạo ra trong một hoạt động giao
tiếp nhằm đạt đến mục đích giao tiếp. Nhƣ vậy có thể hiểu một cách đầy đủ
thì ngôn bản chính là sản phẩm dạng nói lẫn dạng viết của việc giao tiếp bằng
tiếp đƣợc lấy làm cơ sở để phân chia, cụ thể là:
- Dựa vào nhân vật giao tiếp ngƣời ta chia thành hai kiểu: đơn thoại và đa
thoại.
+ Đơn thoại: là kiểu hội thoại chỉ có một ngƣời chủ động nói còn
những ngƣời khác đóng vai trò là ngƣời nghe, thậm chí nói cho chính bản
thân mình nghe (độc thoại). Lời nói trong đơn thoại gọi là lời độc thoại.
+ Đa thoại: là kiểu hội thoại giữa hai hay nhiều ngƣời cùng tham gia
hoạt động giao tiếp nói với nhau. Tùy thuộc vào số lƣợng cụ thể của ngƣời
tham gia giao tiếp mà ngƣời ta chia nhỏ thành: song thoại (hội thoại giữa hai
ngƣời), tam thoại (hội thoại giữa ba ngƣời), tứ thoại (hội thoại giữa bốn
ngƣời)… và đa thoại (nhiều ngƣời). Lời nói trong đa thoại là lời đối thoại, nó
phải nằm trong một mạch của nhiều lời nói do nhiều ngƣời nói lần lƣợt nối
Footer Page 18 of 145.
Header Page 19 of 145.
12
tiếp nhau. Mỗi lời nói phải ăn nhập vào mạch chung của nội dung câu chuyện
thì mới đảm bảo cho cuộc hội thoại đạt kết quả tốt. Điều này đòi hỏi giữa
những ngƣời hội thoại phải có sự thỏa thuận ngầm với nhau về nội dung hội
thoại và đặc biệt là họ phải cùng nhau thực hiện tốt những quy tắc hội thoại
nhƣ: phải biết trao lời, tiếp lời đúng lúc; phải tôn trọng thể diện của nhau;
phải có ý thức hợp tác với nhau trong suốt quá trình triển khai cuộc thoại…
Trong phân môn Kể chuyện lớp 3, phần lớn các dạng bài tập gồm cả
đơn thoại và đa thoại. Đơn thoại chiếm tỉ lệ nhiều hơn(dạng bài tập nhập vai, kể
theo lời tác giả), còn đa thoại chủ yếu là kiểu đối thoại (kiểu bài tập phân vai).
Trên cơ sở nắm vững khái niệm và đặc điểm của các loại hội thoại, khi dạy
luyện nói cho HS, GV cần luyện cho HS biết dùng lời độc thoại và lời đối thoại.
cần nắm vững nội dung đề tài để chủ động lời nói cho phù hợp với mỗi tình huống
đặt ra. Kể chuyện là kiểu hội thoại bắt buộc, nội dung kể chuyện đƣợc định trƣớc.
Nhận xét bạn kể và thảo luận về bài học, lời khuyên từ câu chuyện là hội thoại tự
do.
. . . . Các vận động hội thoại
Nói đến hội thoại phải nói đến ngƣời nói và ngƣời nghe với những
hoạt động của ngƣời đó. Họ sẽ thực hiện những vận động chính của một cuộc
thoại là vận động trao lời, vận động đáp lời và vận động tƣơng tác.
* Vận động trao lời:
Trong hội thoại, thông thƣờng khi một ngƣời nào đó nói ra và hƣớng
lời nói của mình tới ngƣời nghe thì ngƣời đó đã thực hiện một vận động, ta
gọi đó là vận động trao lời (trừ trƣờng hợp độc thoại)
* Vận động đáp lời:
Sự đáp lời là một nhu cầu bức thiết của việc nói năng. Khi đã có ngƣời
trao lời mà không có sự đáp lời thì chƣa thể gọi là hội thoại. Trao lời và đáp
lời là hai vận động cơ bản của hội thoại, giữa chúng cần phải có sự phối hợp
nhịp nhàng với nhau, bởi thế ngƣời thực hiện vận động đáp lời cũng phải thể
hiện đƣợc sự nhiệt tình, cởi mở.. . sẵn sàng khi đáp lời để cuộc hội thoại tiến
triển và kết thúc tốt đẹp.
* Vận động tương tác:
Footer Page 20 of 145.
Header Page 21 of 145.
14
- Vận động tƣơng tác là vận động tác động lẫn nhau, cùng làm cho
nhau biến đổi. Hội thoại là một vận động tƣơng tác vì những đối tƣợng tham
gia giao tiếp luôn có sự tác động lẫn nhau bằng lời nói, bằng điệu bộ, cử chỉ,
hội thoại này không nhất thiết phải diễn ra trong suốt cuộc thoại.
* Quy tắc tôn trọng thể diện của nhau:
Quy tắc này quy định những ngƣời tham gia giao tiếp phải có ý thức
giữ gìn thể diện cho nhau và cũng là cho chính bản thân mình. Khi giao tiếp,
ngƣời nói phải biết lựa chọn lời nói cho phù hợp với đặc điểm cá tính của
ngƣời nghe. Đồng thời đòi hỏi ngƣời nói phải biết khiêm tốn, không nên nói
quá nhiều về bản thân mình vì có thể nó sẽ khiến cho ngƣời nghe khó chịu.
Đây cũng là điều cần chú ý khi hội thoại.
* Quy tắc cộng tác hội thoại.
Ngƣời nói và ngƣời nghe cần có sự cộng tác với nhau trong suốt
quá trình hội thoại về các mặt: nội dung hội thoại, hình thức hội tho ại,
chất lƣợng hội thoại, quan hệ hội thoại…
Tóm lại, trên đây là những quy tắc hội thoại cơ bản nhất mà mỗi
chúng ta cần tôn trọng và thực hiện tốt để thể hiện tính văn hóa khi giao tiếp.
Những quy tắc này cũng là những cơ sở để cho ngƣời GV tìm ra nguyên nhân
thành công hay thất bại của mỗi cuộc giao tiếp do mình thực hiện, đồng thời
nó cũng là cơ sở để họ xây dựng các bài tập luyện nói với những yêu cầu khác
nhau nhằm rèn luyện kĩ năng nói trong thực hành giao tiếp cho HS.
1.1.3 Văn bản truyện với tư cách là phương tiện giao tiếp và để thực
hiện chức năng giao tiếp giữa nhà văn và bạn đọc
Giao tiếp trong văn bản truyện là hoạt động giao tiếp dùng câu
chuyện làm phƣơng tiện chuyển tải thông điệp giữa ngƣời ―phát‖ (nhà văn) và
ngƣời ―nhận‖ (độc giả). Văn bản truyện là một loại hình nghệ thuật dùng
ngôn ngữ và hình tƣợng để thể hiện đời sống và xã hội con ngƣời. Ngƣời sáng
tác làm ra tác phẩm để chuyển tải tƣ tƣởng, tình cảm của mình, ngƣời đọc nhờ
có tác phẩm mà tiếp nhận những tƣ tƣởng và tình cảm của ngƣời sáng tác.
―Tác phẩm‖ văn bản truyện là đơn vị cơ bản của văn bản truyện, là cầu nối, là
Footer Page 22 of 145.
của nhà văn. Cũng giống nhƣ những ngƣời bình thƣờng khác, nhà văn cũng
có những ấn tƣợng, cảm xúc về thế giới, về cuộc sống xung quanh ―Hôm nay
Footer Page 23 of 145.
Header Page 24 of 145.
17
trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn chẳng hiểu vì sao tôi buồn‖. Ở nhà văn, những ấn
tƣợng cảm xúc này thƣờng rất mãnh liệt và đƣợc thể hiện bằng câu chữ, văn
bản. Ngƣời xƣa nói ―thi ngôn chí‖ (thơ bày tỏ lí tƣởng), ―Thi duyên tình‖ (thơ
bày tỏ tình cảm). Ngày nay, những sáng tác của các nhà văn ít nhiều đều
đƣợc hình thành từ nhu cầu muốn giải thoát nội tâm. Từ mong muốn giao
tiếp, mong muốn giải thoát nội tâm, sáng tạo nghệ thuật đã trở thành một nhu
cầu mãnh liệt một phƣơng tiện mạnh mẽ để giải thoát những tình cảm bị dồn
nén của nhà văn. Nhƣ vậy có thể nói nhƣ Phƣơng Lựu ―Sáng tác văn chƣơng
là một nhu cầu giao tiếp, là một hoạt động giao tiếp với đời sống, với mọi
ngƣời, và với chính bản thân chủ thể sáng tạo.‖ (dẫn theo Nguyễn Văn Lê,
Nhập môn khoa học giao tiếp, trang 224).
Sự đồng cảm chia sẻ của nhà văn bao giờ cũng có ý nghĩa giải bày,
thuyết phục, mong muốn ngƣời khác thấu hiểu những điều mà ông ta quan
sát, suy nghĩ và thể nghiệm. Bằng ―tác phẩm‖ của mình, nhà văn cung cấp
cho ngƣời đọc những hiểu biết mới về con ngƣời và xã hội đồng thời cũng tạo
ra những nhu cầu mới cho ngƣời đọc, thậm chí là tạo ra những bạn đọc mới.
b. Văn bản truyện là hoạt động giao tiếp, đối thoại giữa ngƣời đọc và
nhà văn qua tác phẩm.
Tiếp nhận câu chuyện là hoạt động của ngƣời đọc nhằm chiếm lĩnh
các giá trị cũng nhƣ nghệ thuật của tác phẩm văn bản truyện. Con ngƣời thực
hiện việc tiếp nhận văn bản truyện qua hai con đƣờng hoặc nghe, hoặc đọc
tồn tại nhƣ ở ngoài đời. Ví dụ nhƣ khi đọc truyện ―Tấm Cám‖ bạn đọc đƣợc
tiếp xúc với cô Tấm dịu hiền chăm chỉ thì đƣợc hƣởng hạnh phúc, cô Cám
lƣời biếng, xấu tính, mụ dì ghẻ độc ác tham lam thì bị trừng phạt…Những
nhân vật này là những con ngƣời bằng xƣơng, bằng thịt ngoài đời đƣợc tác
giả dân gian đƣa vào câu chuyện để thể hiện ƣớc mơ, nguyện vọng của mình
vào một cuộc sống bình đẳng, hạnh phúc. Hay khi các em đƣợc tiếp xúc với
tác phẩm ―Dế mèn phiêu lƣu kí‖ của nhà văn Tô Hoài là các em đƣợc tiếp xúc
với một thế giới loài vật thật sống động với những mô tả rất tinh tế hay thể
hiện óc quan sát tinh tế. Ví dụ khi miêu tả bầy chuồn chuồn tác giả đã viết:
―Chuồn chuồn chúa lúc nào cũng nhƣ dữ dội, hùng hổ nhƣng kỳ thực trông kỹ
Footer Page 25 of 145.