SangKienKinhNghiem.org
Tổng Hợp Hơn 1000 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Chuẩn
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn đề tài:
a, Cơ sở lí luận.
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức của
cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam và cũng là ngôn ngữ chính để phát
triển ngôn ngữ kí hiệu cho người khuyết tật Thính giác ở Việt Nam. Bởi thế, dạy
Tiếng Việt có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng, đời sống của mỗi
con người và đời sống của người Khiếm thính. Những thay đổi quan trọng trong cuộc
sống kinh tế xã hội, văn hoá giáo dục, thành tựu khoa học và sự hòa nhập của những
người Khuyết tật đều có liên quan đến việc dạy Tiếng Việt.
b, Cơ sở thực tiễn.
Trong môn Tiếng Việt lớp 3, phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ cung cấp
cho học sinh một số kiến thức sơ giản về từ, câu và dấu câu. Học sinh được lĩnh hội
kiến thức trên thông qua một hệ thống bài tập. Trong đó bài tập về tu từ so sánh chiếm
số lượng khá lớn. So sánh có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ,
làm nên một hình thức miêu tả sinh động. So sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ
ràng, cụ thể, diễn đạt được mọi sắc thái biểu cảm:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Chỉ cần sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong câu ca dao trên, tâm tư tình cảm
của con người sẽ được bộc lộ một cách kín đáo và tế nhị. Nó gởi gắm vào đó cả một
niềm tâm sự thầm kín.
Như vậy, so sánh mang chức năng nhận thức và biểu cảm, so sánh tu từ giúp các
em hiểu và cảm nhận được những bài thơ, bài văn hay, từ đó góp phần mở mang tri
thức làm phong phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quý
và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
II/ Mục đích và phương pháp nghiên cứu:
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng học tập, giúp các em học sinh Khiếm
để tìm cách khắc phục những khiếm khuyết từ đặc thù của các em, đưa kiến thức chính
xác, ngắn gọn nhất đến với các em.
B. PHẦN NỘI DUNG.
I/ Thực trạng và những mâu thuẫn:
1. Về sách giáo khoa:
- Tuy là dạy học sinh khuyết tật nhưng trường chúng tôi chưa có những trang
thiết bị tối thiểu, cần thiết để dạy trẻ khuyết tật như sách giáo khoa và đồ dùng dạy học
2
đặc thù cho từng loại tật. Vì vậy các em vẫn đang sử dụng sách giáo khoa phổ thông
để học tập.
- Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 hiện nay nói chung và phân môn Luyện từ và
câu nói riêng còn tồn tại một số điểm chưa hợp lý. Mặc dù SGK đã chú trọng phương
pháp thực hành nhưng kiến thức mang tính trừu tượng, thiếu hình ảnh minh họa nên
học sinh còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình lĩnh hội kiến thức mới.
- Đối với học sinh khuyết tật thính giác, chưa có chương trình riêng nên chương
trình trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 so với khả năng nhận thức của các em là
quá cao, các em không đủ vốn ngôn ngữ để đọc, hiểu nội dung bài tập.
2. Về phía giáo viên:
- Trong giảng dạy giáo viên còn gặp khó khăn như: cơ sở vật chất, phương tiện
dạy học, tài liệu tham khảo còn ít.
- Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chưa chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép
các phân môn của môn Tiếng Việt trong quá trình dạy học.
- Giáo viên chưa khai thác triệt để ngôn ngữ kí hiệu làm khơi dậy sự hứng thú học
tập và sự tò mò của phân môn này với phân môn khác trong môn Tiếng Việt.
- Một số giáo viên chưa nắm bắt kịp ngôn ngữ kí hiệu để phục vụ cho công tác
giảng dạy học sinh Khiếm thính.
3. Về phía học sinh:
- Sử dụng (tranh) ảnh minh họa.
- Học sinh làm bài
- So sánh đối chiếu kết quả của học sinh với đáp án.
- Giáo viên giải thích (sử dụng ngôn ngữ kí hiệu) để học sinh hiểu vì sao có
đáp án đó.
Ví dụ : Bài tập 2 (Trang 8). Tìm sự vật được so sánh trong khổ thơ sau:
Ơ cái dấu hỏi
Trông ngộ ngộ nghê
Như vành tai nhỏ
Hỏi rồi lắng nghe.
(Phạm Như Hà)
- Giáo viên cho học sinh nêu yêu cầu của bài tập.
- Giải thích để học sinh hiểu từ ngữ chỉ sự vật (cho học sinh quan sát tranh,
ảnh minh họa dấu hỏi phóng to và vành tai).
- Sử dụng ngôn ngữ kí hiệu giải thích nội dung bài tập.
- Cho học sinh gạch chân bằng bút chì từ chỉ sự vật vào sách giáo khoa.
- Học sinh trình bày.
- Giáo viên đưa ra đáp án và khắc sâu kiến thức cho học sinh.
Sự vật so sánh
Cái dấu hỏi
Từ so sánh
như
Sự vật so sánh
vành tai nhỏ
Biện pháp 2. Dạy tu từ so sánh tích hợp vào các môn học:
2.1 Tích hợp trong môn Tiếng Việt :
Khi dạy các phân môn thuộc bộ môn Tiếng Việt, giáo viên cần lồng ghép giữa
Dạng bài tập này rất đơn giản. Chủ yếu là nhận biết các sự vật so sánh thông
các bài tập. Dạng này chiếm đa số trong chương trình. Nó được xây dựng dựa trên 4
mô hình sau:.
a) Mô hình 1: So sánh sự vật - sự vật.
b) Mô hình 2: So sánh sự vật - con người.
c) Mô hình 3: So sánh hoạt động - hoạt động.
d) Mô hình 4: So sánh âm thanh - âm thanh.
Muốn học sinh Khiếm thính của mình có một kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ
so sánh vững vàng đòi hỏi người giáo viên phải có nghệ thuật khi hướng dẫn bài mới,
vốn ngôn ngữ kí hiệu phong phú, dựa vào các mô hình như ta vừa phân tích.
5
a, Mô hình 1. So sánh sự vật - sự vật:
Mô hình này cách nhận dạng rất dễ vì trong câu thường xuất hiện các từ so sánh
(như, là, giống, tựa, chẳng bằng, ...).
Mô hình này có các dạng sau: A như B; A là B; A chẳng bằng B.
Dạng A như B:
Dạng này đã xuất hiện ở các bài tập đầu tiên của chương trình và xuyên suốt
đến cuối chương trình.
Ví dụ: Bài 2 trang 8. Tìm sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn
dưới đây:
"Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành"
(Huy Cận)
"Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch"
(Vũ Tú Nam)
"Cánh diều như dấu á
Ai vừa tung lên trời"
6
Dạng A là B: Dạng này học sinh rất dễ nhầm lẫn giữa câu so sánh với câu
giới thiệu. Bởi lẽ, cả 2 kiểu câu này đều có từ “ là ”.
Ví dụ : Bài 1 trang 24. Tìm các hình ảnh so sánh trong câu:
c/ Mùa đông
Trời là cái tủ ướp lạnh
Mùa hè
Trời là cái bếp lò nung
Trong trường hợp này, cần phải cho học sinh xác định từ chỉ sự vật trong câu thơ:
( trời mùa đông – tủ ướp lạnh ), ( trời mùa hè – bếp lò nung)
Giáo viên giải thích cho học sinh điểm tương đồng giữa các từ chỉ sự vật được so sánh.
- Trời mùa đông lạnh như cái tủ ướp lạnh
- Trời mùa hè nóng như bếp lửa lò nung
b, Mô hình 2. So sánh sự vật - con người.
Dạng của mô hình so sánh này là: A như B; A là B.
Dạng A như B:
+ A có thể là con người.
+ B sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh.
Ví dụ: Bài tập 1 trang 58. Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu dưới đây:
"Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan"
(Hồ Chí Minh)
Với dạng bài tập này học sinh Khiếm thính sẽ dễ dàng tìm sự vật so sánh với con
người nhưng các em chưa giải thích được "Vì sao?". Chính vì điều đó giáo viên giúp
học sinh tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn: Trẻ em giống
"Con trâu đen lông mượt
Cái sừng nó vênh vênh
Nó cao lớn lênh khênh
Chân đi như đạp đất"
(Trần Đăng Khoa)
Dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đó
tìm các hoạt động được so sánh với nhau: hoạt động đi so sánh với hoạt động đập đất
qua từ như.
d, Mô hình 4. So sánh âm thanh - âm thanh:
Mô hình này có dạng A như B: A là âm thanh thứ 1; B là âm thanh thứ 2.
Ví dụ: Bài tập 2 trang 117. Tìm những âm thanh được so sánh với nhau trong
mỗi câu thơ văn dưới đây:
"Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai"
(Nguyễn Trãi)
8
Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và
âm thanh thứ hai: âm thanh của tiếng suối được so sánh với âm thanh của tiếng đàn
cầm qua từ như.
3.2 Dạng 2: Bài tập sáng tạo.
Mục tiêu: Giúp học sinh biết cách sử dụng biện pháp tu từ so sánh.
Dạng bài tập này có tính tư duy, sáng tạo cao hơn. Tuy nhiên, dạng bài tập này
trong sách giáo khoa rất ít. Nó tập trung ở cuối chương trình học kì I gồm 2 bài tập:
a/ Nhìn tranh đặt câu:
Ví dụ. Bài tập 3 trang 126: Quan sát từng cặp tranh rồi viết các câu có hình ảnh
so sánh:
Giáo viên có thể đưa ra đáp án tương tự như:
- Mặt trời tròn như quả bóng.
biết tu từ so sánh
1/6 (HS cá biệt)
C. KẾT LUẬN:
Trên đây là nội dung sáng kiến kinh nghiệm về “Một số biện pháp giúp học sinh
lớp 3 khiếm thính học tốt tu từ so sánh”. Qua việc áp dụng những biện pháp trên vào
giảng dạy, tôi thấy kỹ năng làm dạng bài tập tu từ so sánh của học sinh lớp 3 Khiếm
thính tôi dạy đã được nâng lên đáng kể, góp phần không nhỏ vào việc viết văn và diễn
đạt bằng ngôn ngữ kí hiệu của các em. Tôi nghĩ, các biện pháp này rất đơn giản, dễ sử
dụng và hiệu quả.
I/ Ý nghĩa của đề tài đối với công tác:
Việc nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 Khiếm thính
học tốt tu từ so sánh” mang một ý nghĩa rất quan trọng trong công tác giảng dạy của
bản thân tôi:
- Học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm từ đồng nghiệp, từ tham khảo tài liệu.
- Mở rộng thêm vốn ngôn ngữ kí hiệu.
- Hiểu thêm về tâm, sinh lí của trẻ Khiếm thính, từ đó giúp mối quan hệ thầy trò gần gũi, thân thiện hơn.
- Học sinh tiếp thu bài nhanh và ghi nghớ bài sâu.
- Học sinh sử dụng thành thạo ngôn ngữ kí hiệu.
II/ Bài học kinh nghiệm, hướng phát triển:
Qua kinh nghiệm sử dụng đề tài này bản thân tôi thấy cần hướng và rèn luyện
những kỹ năng sau:
* Về phía học sinh:
- Chuẩn bị kĩ bài trước khi đến lớp.
- Học sinh củng cố vốn kiến thức của mình bằng cách giao tiếp bằng ngôn
ngữ kí hiệu nhiều, xem băng hình, quan sát tranh ...
- Cho học sinh giao lưu trực tiếp với các bạn trong lớp, trong trường sau mỗi
bài học: "Luyện từ và câu" dạng này để học sinh khắc sâu kiến thức.
- Khi làm bài tập yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, xác định đúng yêu cầu của
Tài liệu tham khảo
1, Quyết định số 23 của Bộ GD&ĐT về giáo dục hòa nhập dành cho người
khuyết tật.
2, Sách giáo khoa Tiếng việt lớp 3 Tập I.
3, Sách giáo viên Tiếng việt lớp 3 Tập I.
4, Sách thiết kế bài giảng Tiếng việt lớp 3 Tập I.
5, Sáng kiến “Một số giải pháp giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu”
của tác giả Nguyễn Thị Đức, chủ nhiệm lớp 3B trường tiểu học Thanh Hương (Vĩnh
Phúc)
6, Sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Luyện từ và câu cho
học sinh lớp 3” của tác giả Đặng Thị Mai, chủ nhiệm lớp 3 trường tiểu học Nguyễn
Thượng Hiền (Hải Phòng)
7, Sáng kiến “Dạy tốt phân môn luyện từ và câu cho học sinh lớp 3 tại trường
Tiểu học Thủ Khoa Huân” của tác giả Cao Thị Vĩnh Siêng, chủ nhiệm lớp 3 trường
tiểu học Thủ Khoa Huân (TPHCM).
8, Kí hiệu của người điếc Việt Nam (Bộ 3 tập).
9, Phần mềm Từ điển Ký hiệu cho người điếc Việt Nam (ĐHSP TP.HCM)
12