SKKN Vận Dụng Quan Điểm Tích Hợp Vào Bài Học Tác Phẩm Tự Sự Của Nam Cao Ở Nhà Trường THPT - Pdf 42

MỤC LỤC
02
04

LỜI NÓI ĐẦU.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI BÀI SOẠN THEO QUAN ĐIỂM
TÍCH HỢP VÀ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC TÁC PHẨM TỰ
SỰ CỦA NAM CAO THEO XU HƯỚNG TÁCH RỜI CÁC PHÂN MÔN
Ở NHÀ TRƯỜNG THPT HIỆN NAY.
1. ỨNG DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO DẠY HỌC LÀ XU
THẾ CHUNG Ở CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
2. QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP CÓ THỂ VẬN DỤNG VÀO TRONG DẠY
HỌC.
2.1 Khái niệm về quan điểm tích hợp.
2.2 Dạy học theo quan điểm tích hợp phù hợp với mục tiêu giáo dục của
nhà trường phổ thông hiện đại.
2.3 Tác phẩm tự sự của Nam Cao tiềm ẩn những khả năng cho phép dạy
học theo quan điểm tích hợp.
2.4 Những hạn chế của hướng dạy học tách biệt các bộ phận của môn
Ngữ Văn.
CHƯƠNG II
NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
NÓI CHUNG VÀ TÁC PHẨM TỰ SỰ CỦA NAM CAO NÓI RIÊNG Ở
NHÀ TRƯỜNG THPT THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP.
I. Bài học theo quan điểm tích hợp định hướng rõ nội dung và phương
pháp dạy học.
1. Bài học theo quan điểm tích hợp thể hiện sự định hướng về nội dung
1.1 Tích hợp trong từng thời điểm
1.2 Tích hợp theo từng vấn đề

08
09
10
11
11
12
13
13
14
15
21
23
24


LỜI NÓI ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
1. Cơ sở lí luận:
- Quan điểm tích hợp là vấn đề thời sự khoa học, mang xu thế giáo dục
chung của thời đại.
- Quan điểm tích hợp đang được triển khai vào hệ thống của nền giáo dục ở
nước ta.
- Thực tế của cách dạy học biệt lập các bộ phận, các môn học trong nền
giáo dục chúng ta đã để lại những hậu quả còn quá nặng nề.
2. Cơ sở thực tiễn: Sau nhiều năm là giáo viên Văn ở trường THPT và hai
năm vừa rồi được rèn luyện thêm, thời gian đó đối với tôi không phải là nhiều
nhưng đủ để nhận ra một cái nghiệp gắn liền với cuộc đời của mình. Nghiệp dạy
Văn chương.
Có say mê mới tìm tòi, có đốt cháy được chính mình mới mong nhen nhóm
lên ngọn lửa ở người khác. Đi tìm một con đường nâng cao chất lượng dạy học

biên soạn chương trình theo quan điểm tích hợp đến giáo viên THCS, THPT tham
khảo (Sách giáo viên Ngữ văn, tập 1, NXB Giáo dục, 2002). Đồng quan điểm
trên, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống với bài viết: “Dạy học theo quan điểm tích hợp”
(Đổi mới dạy và học môn Ngữ Văn ở THCS, NXB Giáo dục, 2002) đã khách
quan nhìn nhận những hạn chế, những mặt tích cực của việc vận dụng quan điểm
tích hợp vào dạy học.
Xuất phát từ những thành tựu của những công trình trên, chúng tôi nhận
định việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học tác phẩm tự sự của Nam Cao
ở nhà trường THPT là thật sự cần thiết và bổ ích.
III. Phương pháp nghiên cứu.
1. Nghiên cứu tài liệu (lí luận tích hợp).
2. Thực nghiệm (giảng dạy) – phương pháp chính.
3. Khảo sát thực tế.
4. Tổng hợp, đánh giá, thiết kế bài soạn tác phẩm tự sự của Nam Cao.
IV. Mục đích nghiên cứu.
Việc đưa quan điểm tích hợp vào dạy học tác phẩm văn chương nói chung
và tác phẩm tự sự Nam Cao nói riêng là từng bước cải tiến chất lượng dạy và học
môn Ngữ Văn ở nhà trường phổ thông hiện nay, là hứa hẹn những triển vọng đưa
nền giáo dục Việt Nam hội nhập với khu vực và quốc tế. Cụ thể là:
- Xác định nội hàm của tích hợp trong dạy học môn Ngữ Văn.
- Khẳng định những khả năng thực hiện tích hợp trong dạy học Văn ở nhà
trường THPT.
- Đề ra một số biện pháp thực hiện tích hợp trong dạy học những tác phẩm
hiện thực, đặc biệt là tác phẩm tự sự của Nam Cao.
V. Giới hạn của đề tài.
Do thời gian và năng lực của người thực hiện có hạn, chúng tôi xin phép
giới hạn đề tài trong phạm vi vận dụng những lí luận của quan điểm tích hợp để
xây dựng một mô hình thiết kế bài soạn chung nhất cho giờ dạy học tác phẩm tự
sự của Nam Cao ở nhà trường THPT.
Phần khảo sát, chúng tôi đã tiến hành giảng dạy, tổng hợp, đánh giá, thiết

môn… với chung một mục đích là chấm dứt tình trạng “chia ô các bộ môn”. Quan
điểm tích hợp hiện nay được xem là sự lựa chọn của các nước trong khu vực và
trên thế giới: Mĩ, Úc, Pháp, Đức, Nhật Bản, Thái Lan, Inddooneenxxia, nhưng ở
Việt Nam quan điểmnày xem ra vẫn còn mới mẻ. Gần đây chúng ta đã thực hiện
biên soạn lại chương trình từ cấp tiểu học, THCS, THPT. Chương trình “lấy quan
điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức chương trình, biên soạn sách giáo
khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” (Phan Trọng Luận “Phương pháp
dạy học Văn” tập 1, NXB GD 2001).
Việc áp dụng rộng rãi quan điểm tích hợp vào giáo dục ở hầu hết các nước
và đang từng bước được đưa vào nền giáo dục Việt Nam càng khẳng định thêm
những bước đi vững chắc của quan điểm tích hợp.
2. QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP CÓ THỂ VẬN DỤNG VÀO TRONG DẠY HỌC.
2.1 Khái niệm về quan điểm tích hợp.
Có nhiều ý kiến khác nhau về quan điểm tích hợp: có ý kiến cho rằng tích
hợp là tổ hợp (Combination) hay phối hợp (Co – ordination) các môn học… Tích
hợp cần được quan niệm là: “một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu
các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học, phân môn khác nhau theo những hình
Sáng kiến kinh nghiệm - Nguyễn Thị Ngà - Trường PTTH Nguyễn Trung Ngạn

4


thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu
cầu cụ thể khác nhau” (3 tr.6). Khoa sư phạm tích hợp được định nghĩa như sau:
“Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể
quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự
tính trước, những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học
tập tươnglai, hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao đông” [1 tr73].
Định nghĩa về Khoa sư phạm tích hợp đã chỉ rõ mục tiêu, mục đích đào tạo
học sinh ở nhà trường hiện nay, trang bị cho các em kiến thức cơ bản làm hành

2.3 Tác phẩm tự sự của Nam Cao tiềm ẩn những khả năng cho phép dạy
học theo quan điểm tích hợp.
Sáng kiến kinh nghiệm - Nguyễn Thị Ngà - Trường PTTH Nguyễn Trung Ngạn

5


- Đặc điểm chung của tác phẩm tự sự đã thể hiện nội dung tích hợp. Bởi tác
phẩm tự sự cũng là một chỉnh thể tích hợp của nhiều yếu tố, phương diện:
+ Tác phẩm tự sự có nhiều loại. Ví dụ tự sự văn xuôi hiện đại có tiểu thuyết
hiện đại, truyện ngắn, kí, tác giả…Con người hiện lên trong tác phẩm tự sự là con
người tinh thần mang tính chất khách quan trong những mối quan hệ với cuộc
sống xung quanh. Vì vậy miêu tả tính chỉnh thể khách quan của thế giới là đặc
trưng của tác phẩm tự sự.
+ Tác phẩm tự sự hầu như không bị hạn chế bởi không gian và thời gian.
Nhân vật tự sự được khắc họa đầy đặn ở nhiều mặt “bên trong lẫn bên ngoài, cả
điều nói ra và điều không nói ra, cả ý nghĩ và cái nhìn, cả tình cảm, cảm xúc, ý
thức và vô thức, cả quá khứ, hiện tại, tương lai” [6 tr 377]. Điều này tạo thuận lợi
rất nhiều cho tác giả trong việc khắc họa tính cách nhân vật của mình.
+ Sự phong phú đa dạng còn được thể hiện ở hệ thống chi tiết nghệ thuật.
+ Một trong những đặc điểm hết sức quan trọng mà qua đó chúng ta thấy
được linh hồn của người trần thuật, đó là hình tượng người trần thuật (tác giả,
nhân vật…).
+ Lời văn trong tác phẩm tự sự (khác với lời thoại trong kịch, lời văn trong
tác phẩm trữ tình) thường hướng người đọc vào thế giới đối tượng, do đó lời của
nhân vật có thể được tác giả miêu tả lại, đan xen hoặc hóa thân vào lời trần thuật.
- Tác phẩm tự sự của Nam Cao trong chương trình THPT hội tụ nhiều mối
quan hệ kiến thức.
VD một đoạn văn sau đây: “Tỉnh dậy hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc.
Buồn thay cho đời!Có lí nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn

phẩm, nhân tích của con người đang bị cái đói và miếng cơm làm cho tiêu mòn đi,
thui chột đi, hủy đi” [5 tr.92].
+ Tác phẩm tự sự của Nam Cao là căn cứ để giải thích các kiến thức về
Lịch sử văn học, Lí luận văn học, Văn hóa.
+ Tác phẩm tự sự của Nam Cao là ngữ liệu chính để minh họa một số mảng
kiến thức về Tiếng Việt và Làm Văn. Những lời đối thoại giữa Chí Phèo – Bá
Kiến, Chí Phèo – Thị Nở, giữa Hộ - Từ, giữa Hoàng – Độ…luôn là những đoạn
đối thoại ngắn, súc tích nhưng có sức biểu hiện rất lớn: mối tác động qua lại giữa
các yếu tố của một cuộc giao tiếp và biểu hiện tính đa nghĩa của ngôn ngữ văn
chương: “giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ!”, “Hay là mình sang ở với tớ một nhà
cho vui.” (“Chí Phèo” – Nam Cao). Đồng thời sau khi đọc xong tác phẩm, học
sinh phải tóm tắt được nội dung tác phẩm (lựa chọn được những nội dung, chi tiết
chính cần tóm tắ, sử dụng hợp lí lời văn trong văn bản tóm tắ, trình tự thời gian
cốt truyện, cách dùng hình thức nén, trích dẫn nguyên văn…).
2.4 Những hạn chế của hướng dạy học tách biệt các bộ phận của môn Ngữ
Văn.
- Tách biệt các phân môn sẽ dẫn đến giáo viên và học sinh thiếu ý thức gắn
kết các phần khác của chương trình.
- Tiếp cận tác phẩm tự sự của Nam Cao một cách phiến diện, không có cái
nhìn tổng thể. Qua thực tế, chúng tôi kiểm tra học sinh thấy: (những bài viết của
các em có chung một cách diễn giải là kể lể rất nhiều, chưa biết phân tích nhân vật
trong tác phẩm tự sự; nhiều bài làm diễn đạtkhá hay nhưng theo nếp cũ không có
sự tư duy, sáng tạo nêu suy nghĩ riêng của mỗi cá nhân), vận dụng quan điểm tích
hợp có thể khắc phục được tình trạng này.
Tác phẩm văn chương là một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh thì một tiết
dạy Văn trên lớp cũng là một chỉnh thể nghệ thuật dạy, thể hiện tài năng sư phạm
của người thày. Chỉnh thể nghệ thuật dạy sẽ ngày càng hoàn chỉnh nếu giáo viên
chúng ta biết trau dồi, học hỏi và phát hiện những phương pháp mới tiến bộ. Quan
điểm tích hợp trong giáo dục hiện nay là phù hợp trong dạy học, đặc biệt là môn
Ngữ văn.

quan, chuyển hóa cho nhau thành một thể thống nhất. Dạy cái này thông qua cái
kia và ngược lại. Chữ “tích” thứ hai cần hiểu là tích cực. Có nghĩa là tổ chức các
hoạt động của thầy và trò làm sao phát huy tối đa khả năng tích cực, sáng tạo, vốn
có của học sinh. Chữ “tích” ở đây mang đặc điểm về phương pháp hơn. Sau đây
chúng ta tìm hiểu cách thức tích hợp nội dung được thể hiện trong bài soạn tác
phẩm văn chương.
1. Bài học theo quan điểm tích hợp thể hiện sự định hướng về nội dung
1.1 Tích hợp trong từng thời điểm
Tích hợp trong từng thời điểm hay còn gọi là tích hợp ngang (integration
horizontale). Bài soạn theo quan điểm tích hợp được đặt trong nhiều mối quan hệ.
Nội dung dang dạy nếu là tác phẩm văn chương thì có quan hệ với những sáng tác
khác của tác giả đang dạy, quan hệ với các tác giả khác, quan hệ với Tiếng Việt,
Sáng kiến kinh nghiệm - Nguyễn Thị Ngà - Trường PTTH Nguyễn Trung Ngạn

8


với Tập Làm Văn. Ngoài ra còn có quan hệ với Lí luận văn học, Lịch sử văn học,
văn hóa dân tộc… Chính nhờ những mối quan hệ phong phú như thế, nên tùy
thuộc vào sở trường, sở đoản của mình mà giáo viên sẽ tạo một mối quan hệ chặt
chẽ với những phân môn khác.
Nội dung bài soạn tác phẩm văn chương theo quan điểm tích hợp chính vì
đặt trong nhiều mối quan hệ cho nên trong phạm vi một bài học, một tiết học giáo
viên có thể tổ chức các hoạt động cho học sinh vừa khám phá nội dung, nghệ
thuật của tác phẩm văn chương vừa có thể chiếm lĩnh những tri thức khác về ngôn
ngữ học, nâng cao khả năng làm văn, bồi dưỡng tri thức lịch sử văn học, lí luận
văn học. Vì những tri thức này có quan hệ mật thiết với tác phẩm văn chương
đang được học.
Như vậy, tích hợp trong từng thời điểm tạo điều kiện thuận lợi cho người
giáo viên khai thác triệt để mối quan hệ mật thiết giữa văn bản văn học và các vân

phân môn này để tham gia giải quyết vấn đề ở phân môn khác. Biểu hiện này của
học sinh có thể được thể hiện ngay trên lớp trong tiết học và cũng có thể được
biểu hiện qua những bài viết.
2. Bài học theo quan điểm tích hợp là cách thức định hướng về phương
pháp Phương pháp có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung, không nên và không
thể tách rời được. Một giáo viên dạy giỏi ngoài sử dụng các phương pháp chủ
động, linh hoạt, nhuần nhuyễn còn là một giáo viên có trình độ chuyên môn cao,
hiểu khiến thức vừa rộng vừa sâu. Đó là điều căn bản mà mỗi giáo viên cần
hướng tới đồng thời là cơ sở để các cuộc thi giáo viên các cấp, ngành lấy đó làm
căn cứ, xem xét và công nhận.
Phương pháp dạy học truyền thống nặng về áp đặt, vô tình thủ tiêu vai trò
chủ động của trò được thay thế bằng một hệ phương pháp dạy học văn mới. Sự
thay đổi này mang lại một cách nhìn mới về vai trò của Thầy, vai trò của Trò và
Tác phẩm văn chương. Từ vị trí bị động trở thành chủ động, biết phân biệt đúng,
sai, có thể tác động lại Thầy, cho thấy vai trò của người học sinh thật sự đã được
trả lại với vị trí vốn có của nó. Như vậy, tính tích cực chủ động sáng tạo của chủ
thể học sinh đã được chú ý đến trong phương pháp dạy học mới.
Dạy học theo quan điểm tích hợp vẫn chú trọng đến tính tích cực của chủ
thể học sinh, vẫn phải làm sao khai thác hết những khả năng tiềm ẩn của người
học thông qua cách tổ chức hoạt động, điều khiển, dẫn dắt của Thầy. Nhưng nhất
thiết chúng ta phải định hướng cụ thể trong bài soạn.
Đặc thù của dạy học theo quan điểm tích hợp là sự soi sáng lẫn nhau giữa
các phân môn. Dạy phân môn Văn có thể soi sáng cho các tri thức ở phân môn
Tiếng Việt và làm Văn. Cho nên việc lấy văn bản văn học làm mẫu để phân tích,
lí giải các tri thức của các phân môn khác cũng được xem là một hướng giải quyết
vấn đề một cách khoa học tích cực. Thực tế vốn đa dạng và phong phú, việc dạy
văn gắn với thực tế cuộc sống: sưu tầm tài liệu, tham quan, hoạt động thực tế, tập
hợp xử lí thông tin để rút ra quy luật, định nghĩa…phần nào sẽ giúp em khỏi bỡ
ngỡ với những khó khăn trong cuộc sống sau này.
Tham khảo văn mẫu cũng là một hướng dạy học Văn hay, tất nhiên cần giúp

“Hiện thực cuộc sống vây bủa xung quanh Nam Cao thật là đen tối, ngột ngạt và
bế tắc” [9 Tr.15]. Hoàn cảnh xã hội này đã chi phối rất nhiều trong những sáng tác
của Nam Cao.
Chí Phèo (Chí Phèo) khi nhận ra được kẻ thù, nguyên nhân gây ra bao nông
nỗi cho chính cuộc đời mình, đã vùng lên bằng một nhát dao đâm chết Bá Kiến.
Để rồi sau đó Chí cũng tự kết liễu đời mình bởi “Ai cho tao lương thiện!”, “Tao
muốn làm người lương thiện!” nhưng “Không được!”… và chi tiết cuối truyện:
“Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và
vắng người lại qua”… cho phép chúng ta nhận ra một Nam Cao bế tắc, luẩn quẩn
chưa tìm ra lối thoát và một Nam Cao bề ngoài có vẻ lạnh lùng nhưng lại luôn
thổn thức cho số phận nghiệt ngã của người nông dân trước Cách mạng.
Ngoài ra, Nam Cao được sinh ra và lớn lên ở một vùng quê chiêm trũng
giữa đồng bằng Bắc Bộ, quanh năm hạn hán, lũ lụt, mất mùa làm cho cuộc sống
vốn đã bao phủ bởi cái đói cùng nghèo lại càng tiêu điều, vắng vẻ hơn. Nhưng
yếu tố đó đã tạo nên ở Nam Cao một tấm lòng thấm đẫm tình người (văn sĩ Hộ
trong “Đời thừa”, ăn năn hối hận khi mình chưa làm được gì cho cô vợ nhỏ bé
đáng thương…; Lão Hạc khóc hu hu như đứa trẻ khi trót đánh lừa một con
chó…).
Tương tự, sau Cách mạng tháng Tám, với những tác phẩm như “Đôi mắt”,
“Nhật kí ở rừng” đã mang một âm hưởng mới. Âm hưởng của những ngày đầu
kháng chiến, dự báo cho một tương lai sáng lạn.
Sáng kiến kinh nghiệm - Nguyễn Thị Ngà - Trường PTTH Nguyễn Trung Ngạn

11


Qua đây cho thấy, những sáng tác của Nam Cao luôn bị chi phối bởi hiện
thực xã hội vây quanh và đặc điểm cá nhân của chính nhà văn.
Dạy học tác phẩm tự sự của Nam Cao cần phải có một sự liên hệ với chính
cuộc đời của tác giả, với chính hoàn cảnh xã hội thời bấy giờ. Có như vậy mới

phẩm tự sự, tác phẩm trữ tình…tác phẩm tự sự của Nam Cao cũng là một trong
những dẫn chứng hữu hiệu nhất để minh họa cho một số khái niệm trên. Tất nhiên
việc khai thác tác phẩm này cần phải đặt trong một chỉnh thể nghệ thuật hoàn
chỉnh của tác giả.
Sáng kiến kinh nghiệm - Nguyễn Thị Ngà - Trường PTTH Nguyễn Trung Ngạn

12


Chúng ta thử đọc lại đoạn văn sau đây: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng
thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu là hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của
riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là
ai. Tức mình hắn chửi ngay cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ:
“Chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật!
Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với
hắn. Những cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không? Thế thì có
khổ hắn không?...[7 tr216]. Đoạn văn là một kết tinh thể hiện tài năng của nhà văn
Nam Cao. Đoạn văn đâu chỉ độc đáo bởi vị trí mở đầu của nó trong tác phẩm, mà
còn thể hiện sự kết hợp tài tình của tác giả trong cách dùng từ, lối trần thuật, đối
thoại mà đặc biệt là giọng văn, lời kể của tác giả. Đoạn văn trên, lời trần thuật như
trở nên đa giọng, đa nghĩa, mơ hồ. Bởi đó đâu phải là tiếng chửi giản đơn của Chí
Phèo mà ở đó còn có những giọng điệu khác nhau, có thể là của tác giả, có thể của
một người nào đó chứng kiến từ bên ngoài. Vì thế, GS Trần Đình Sử đã tinh tế
khi nhận ra rằng: Đây là “tiếng chửi chìm trong khát khao phá hoại, trả thù, phẫn
uất…Lời trần thuật trở nên đa giọng, đã nghĩa, mơ hồ hoàn toàn” [10 tr. 140].
4. Trong quan hệ với Tiếng Việt.
Bài học tác phẩm tự sự của Nam Cao thích hợp gắn với những nội dung tri
thức Tiếng Việt sau đây:
Tri thức về Phong cách học (Tiếng Việt lớp 9, lớp 11). Lớp 9 học sinh được
trang bị về các biện pháp tu từ…; lớp 11 các em sẽ được hệ thống lại và sẽ được

giữa người với người. Hay nói cách khác qua những trang viết chứa chan tình
người của Nam Cao đã thật sự lôi cuốn học sinh, không những qua bao điều gợi
ra của tác phẩm mà còn gieo vào lòng mỗi họ sinh lòng mến mộ, sự ngưỡng vọng,
noi theo một tài năng của tác giả Nam Cao. Có được như thế thì bản thân tác
phẩm tự sự của Nam Cao đã tạo ra một sự gắn bó mật thiết với tình cảm, ước mơ,
hoài bão của học sinh. Và như thế việc dạy tác phẩm tự sự của Nam Cao gắn với
những kiến thức thuộc phân môn Làm văn mới đạt hiệu quả cao.
Ngoài ra cần vận dụng kiến thức tóm tắt tác phẩm, phân tích nhân vật…Đó
cũng là nguyên nhân buộc học sinh phải nắm được cách thức phân tích một cách
đầy đủ nhân vật trong tác phẩm tự sự.
Nói tóm lại, khi đã chứng minh tác phẩm tự sự của Nam Cao tiềm ẩn những
yếu tố cho phép dạy học theo quan điểm tích hợp thì triển khai những luận điểm
đó thành những nguyên tắc, biện pháp chung nhất, dó cũng là nội dung vấn đề đã
trình bày trên.

Sáng kiến kinh nghiệm - Nguyễn Thị Ngà - Trường PTTH Nguyễn Trung Ngạn

14


CHƯƠNG III. BÀI SOẠN THỂ NGHIỆM.
CHÍ PHÈO (2 tiết)
- Nam Cao
A. YÊU CẦU:
- Giúp học sinh thấy được nét độc đáo mới mẻ của Nam Cao trong việc thể
hiện số phận bi thảm của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Từ dó
thấy dược sức mạnh tố cáo của tác phẩm.
- Thấy được tấm lòng yêu thương, trân trọng người nông dân, một tư tưởng
nhân đạo sâu sắc của Nam Cao, được thể hiện qua ngòi bút khách quan, lạnh lùng.
- Những nội dung trên kết hợp với những giá trị đặc sắc về nghệ thuật của

GV: Em hãy tóm tắt lại nội dung tác phẩm? Theo em, muốn tóm tắt được
nội dung của tác phẩm cần chuẩn bị những công việc gì?
HS: Sẽ tóm tắt được nội dung tác phẩm Chí Phèo, đồng thời các em có thể
kể ra các thao tác trước khi tóm tắt như: Cần phải đọc tác phẩm, chỉ tóm tắt những
nội dung chính, cần phải ngắn gọn, súc tích.
GV: Bổ sung thêm một số lưu ý để HS có thể tóm tắt được bất kì tác phẩm
nào như: Hiểu rõ mục đích trước khi tóm tắt; phải đọc tác phẩm; lựa chọn
nội dung chính cần tóm tắt và sắp xếp lại; lời văn trong văn bản tóm tắt.
(phần này hình thành ở học sinh kĩ năng tóm tắt tác phẩm tự sự - kiến thức
làm văn).
(Nếu cần có thể yêu cầu học sinh về nhà tóm tắt những tác phẩm khác như:
Một đám cưới, Lão Hạc…).
III. Hướng dẫn học sinh phân tích.
Trước khi đi vào trọng tâm của bài học, GV có thể liên hệ với những sáng
tác khác của nhà văn Nam Cao về đề tài người nông dân:
GV: Cùng viết về đề tài người nông dân, ngoài Chí Phèo, Nam Cao còn có
những sáng tác nào khác?
HS: Sẽ nghĩ ngay đến Lão Hạc (THCS) và có thể kể thêm một số tác phẩm
như: Một đám cưới, Trẻ con không được ăn thịt chó, Một bữa no…
GV: Em hãy nói đôi nét về nội dung tư tưởng của những tác phẩm đó?
HS: Sẽ nói được về tác phẩm Lão Hạc, những học sinh có đọc thêm sẽ phát
biểu được về những tác phẩm khác.
GV nhấn mạnh: Nhưng Chí Phèo là hiện thân những gì đau khổ cùng cực
nhất về hình ảnh người nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến trước
Cách mạng tháng Tám. Chúng ta hãy cùng nhau phân tích tác phẩm.
(phần này vừa nhắc lại những tác phẩm đã học vừa cho học sinh thấy
được: Nam Cao có rất nhiều tác phẩm viết về đề tài người nông dân , trong
đó “Chí Phèo” là điển hình nhất).
1. Nhân vật Chí Phèo.
a. Chí Phèo và Bá Kiến.

HS: Có thể liệt kê: (khôn róc đời; cái nghề làm quan bám thằng có tóc ai
bám thằng trọc đầu, ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông nhưng rồi dắt nó lên để
nó đền ơn; trị không lợi thì cụ dùng; không có những thằng đầu bò thì lấy ai trị
những thằng đầu bò?).
GV: Qua đó cho thấy Bá Kiến là người như thế nào?
HS: Sẽ nêu bật những nét tính cách xấu xa của Bá Kiến.
GV: Tóm tắt lại những nét tính cách tiêu biểu về con người Bá Kiến:
- Chính Bá Kiến là nhà tù thực dân đã đẩy Chí Phèo – Một người nông dân
thật thà, chất phác vào con đường bị tha hóa hoàn toàn.
- Bá Kiến là đại diện tiêu biểu cho thế lực cường hào, ác bá gây bao cảnh
ngộ tang thương cho người nông dân mà Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức là
những hình ảnh điển hình. Qua đó, tác giả muốn tố cáo bộ mặt thật của xã hội
thực dân nửa phong kiến trước Cách mạng tháng Tám.
b. Chí Phèo và Thị Nở.
Sáng kiến kinh nghiệm - Nguyễn Thị Ngà - Trường PTTH Nguyễn Trung Ngạn

17


GV: Sau một đêm sống chung với Thị Nở, Nam Cao đã miêu tả tâm trạng
của Chí Phèo ra sao?
HS: Có thể tìm và nêu ra đoạn văn bản: (Hắn bâng khuâng… chao ôi là
buồn! Tỉnh dậy hắn thấy già… ốm đau).
GV: Có thể gợi mở cho HS bằng những câu hỏi phụ như: Em có nhận xét
gì về bút pháp của tác giả trong đoạn văn này? Điều kì diệu gì đã xảy ra với
Chí Phèo?
Nhưng GV cần định hướng: Đoạn văn thể hiện tài năng bậc thầy của tác
giả trong cách phân tích tâm lí nhân vật qua hình thức độc thoại nội tâm.
Đoạn văn khẳng định phẩm chất tốt đẹp của người nông dân, cho dù họ ở trong hoàn
cảnh bị tha hóa hoàn toàn. Ngoài ra, người đọc còn thấy được ở tác giả một thái độ

nhận cho Thị Nở lấy Chí Phèo, chẳng qua là do địnhkiến chung của xã hội đối với
một người như Chí, một cái cớ để Chí uống rượu và vác dao đến nhà Bá Kiến…
GV: Từ đây có thể hình thành cho HS một số tri thức về cách thức
phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự, có thể gợi ý HS bằng câu hỏi như:
Khi đã tìm hiểu nhân vật Chí Phèo, vậy để phân tích nhân vật này ta nên tập
trung vào những điểm nào?
HS: Rút ra những nhận định ngay khi tìm hiểu về nhân vật Chí Phèo
như: Hình dáng bên ngoài, những đoạn độc thoại nội tâm, trong quan hệ với
các nhân vật khác, lời nói, cử chỉ, nhân vật, cảnh vật môi trường xung
quanh…
(Nhìn chung HS có thể xây dựng cho riêng mình một cách thức phân
tích nhân vật trong tác phẩm tự sự. GV có thể hướng dẫn thêm cho HS về
cách thức đánh giá nhận định về nhân vật được phân tích).
2. Hướng dẫn HS tìm hiểu những nét độc đáo về nghệ thuật.
GV: Nêu ra đoạn văn mở đầu tác phẩm: “Hắn vừa đi vừa chửi…” và hỏi
HS: Theo em, đoạn văn trên là lời của ai?
HS: Phần lớn sẽ trả lời là lời của tác giả Nam Cao.
GV bổ sung: Đoạn văn còn thể hiện lời của người dân làng Vũ Đại: “chắc
nó trừ mình ra”; lời của nhân vật Chí Phèo: “Tức thật!...” và lời của tác giả. Từ
đó GV đi đến khái quát: Lời trần thuật trong tác phẩm tự sự hết sức linh
hoạt, có khi là chính tác giả tự bộc lộ, có khi qua lời của nhân vật trong tác
phẩm, và cũng có khi là lời của người đứng ngoài cuộc. Tất cả được đan xen
lẫn nhau nhưng người đọc vẫn thấy đượcthái độ tác giả. Đây là một trong
những nét đặc trưng cơ bản của tác phẩm tự sự.
Tương tự, GV có thể gọi HS nhận xét về kết cấu nội dung tác phẩm, về
cách khắc họa tính cách nhân vật Chí phèo?
Từ đó rút ra những nhận xét về nhân vật trong tác phẩm tự sự, về
không gian và thời gian trong tác phẩm tự sự.
Hoặc:
GV: Em có suy nghĩ gì về chi tiết cuối truyện? ( “Đột nhiên thị thấy thoáng

* Kết quả thực tiễn:
- Đối tượng học sinh: Học sinh của trường THPT Nguyễn Trung Ngạn Hưng Yên; lớp A9, A6 thuộc lớp chọn Văn, các em say mê văn chương, có năng
lực hiểu và cảm nhận văn tốt; lớp A2 là lớp chọn Toán; những lớp khác, đối
tượng học sinh trung bình; có một số học sinh yếu.
- Sau khi tiến hành thực tế giảng dạy, chúng tôi tiến hành tổng hợp: dựa vào
bài thi cuối học kỳ II và tổng kết điểm môn Văn (năm học 2009 – 2010); kết quả
các em tiến bộ về bài học tác phẩm tự sự Nam Cao và môn Ngữ văn rõ rệt, so với
những năm trước (dạy học biệt lập từng phân môn). Cụ thể như sau:
Năm học: 2008 – 2009:
Lớp
A2
A4
A6
A9
B1
Lớp
A2
A4
A6
A9
B1

Giỏi
2%
0%
5%
6%
0%
Năm học 2009 – 2010:
Giỏi

65%
60%
40%

Trung bình
50%
55%
15%
15%
50%

Yếu
0%
5%
0%
0%
5%

*. Những kiến nghị đề xuất:
- Điểm mới lớn nhất cũng là mục đích thiết kế bài soạn mới là không những
tổ chức các thao tác, để học sinh tự thân vận động, chiếm lĩnh nội dung tác phẩm
văn học, mà qua đó người thiết kế còn phải gắn các nội dung tác phẩm khi học
sinh đã phát hiện ra, vào làm rõ thêm các tri thức của Tiếng Việt, Làm văn, Lí
luận văn học…Muốn đạt được điều đó, bài soạn luôn lấy văn bản tác phẩm làm
ngữ liệu chính để minh họa, làm rõ những kiến thức có liên quan đến sự thành
công của tác phẩm.
- Giúp học sinh rèn kỹ năng tư duy tổng hợp: tác giả, tác phẩm văn học…;
khơi gợi cho các em niềm đam mê văn chương, đánh giá nhìn nhận một vấn đề
trong cuộc sống đầy đủ, toàn diện.
- Sáng kiến kinh nghiệm của chúng tôi còn một vài băn khoăn trăn trở,

PHẦN KẾT LUẬN
Dạy học theo quan điểm tích hợp là sự lựa chọn duy nhất của phần lớn nền
giáo dục các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, gần đây đã được quan tâm – đó là sự
vận dụng quan điểm và lựa chọn một hướng đi đúng đắn của nền giáo dục nước
ta.Đặc biệt phải khẳng định vai trò phát triển như vũ bão và những tiện ích mà
khoa học công nghệ thông tin đem lại. Vì vậy nền giáo dục cần có sự thay đổi.
Chọn quan điểm tích hợp trong dạy học đâu phải là một giải pháp tình thế mà là
một bước đột phá, là phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội.
Dạy học theo quan điểm tích hợp có đem lại hiệu quả hay không,lệ thuộc
rất nhiều vào tài năng của người GV. Người GV dạy Văn ở đây không những nắm
vững về kiến thức khoa học cơ bản mà còn phải dạn dày kinh nghiệm, yêu và có
tâm huyết với nghề. Vì thế dạy học theo quan điểm tích hợp này thường gây khó
khăn cho giáo viên trẻ mới ra trường: tầm khái quát cả chương trình chưa vững,
chưa nắm được trọng tâm, đó là những nguyên nhân dẫn đến việc áp dụng dạy
học theo quan điểm tích hợp sẽ gặp không ít khó khăn.
Giáo dục vẫn được coi là quốc sách hàng đầu trong chủ trương của những
nhà lãnh đạo nước ta. Việc học Văn đã khó, dạy Văn hay, thu hút học sinh, khơi
nên các em lòng say mê văn chương, áp dụng vào thực tế cuộc sống …lại càng
khó hơn. Vì vậy sáng kiến kinh nghiệm của tôi về đề tài: việc áp dụng quan điểm
tích hợp vào dạy học tác phẩm tự sự của Nam Cao là một vài trăn trở, suy nghĩ,
quan điểm của một giáo viên luôn “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, hi vọng là những
đóng góp nhỏ bé này sẽ là những viên gạch đầu tiên làm cơ sở cho những sáng
kiến kinh nghiệm, những tham khảo (cho những tiết dạy về Nam Cao và những
tác giả khác trong nhà trường PT), những công trình nghiên cứu tiếp sau. Mong
rằng tôi sẽ nhận được những lời đóng góp, bổ sung chân thành của các cấp lãnh
đạo, bạn bè đồng nghiệp gần xa về sáng kiến kinh nghiệm này. Xin cảm ơn và
mong nhận được những lời nhận xét, xây dựng của các đồng chí!
Hưng Yên, ngày 20 tháng 5 năm 2010
Th.s: Nguyễn Thị Ngà.
.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status