CHUYÊN đề vận DỤNG QUAN điểm TÍCH hợp TRONG GIẢNG dạy môn NGỮ văn lớp 7 - Pdf 33

CHUYÊN ĐỀ
“VẬN

DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP TRONG GIẢNG DẠY
MÔN NGỮ VĂN LỚP 7”

I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, nó có tầm quan trọng rất
lớn trong việc giáo dục tư tưởng, quan điểm, tình cảm cho học sinh. Đây cũng là môn
học góp phần hình thành nên những kiến thức cơ bản và quan trọng nhất là hình thành
nhân cách con người, chuẩn bị cho các em một hành trang để bước vào đời hoặc học lên
những bậc học cao hơn. Đó cũng chính là chiếc chìa khóa mở cửa cho tương lai.
Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Ngữ văn nói chung và Ngữ
văn lớp 7 nói riêng đồng thời phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảng dạy theo tinh
thần đổi mới sách giáo khoa và quan điểm tích hợp là vấn đề cần được quan tâm nhất
hiện nay. Bởi tích hợp là một xu thế phổ biến trong dạy học hiện đại. Nó giúp học sinh
tiết kiệm thời gian học tập mà vẫn mang lại hiệu quả nhận thức, có thể tránh được
những biểu hiện cô lập, tách rời từng phương diện kiến thức, đồng thời phát triển tư duy
biện chứng, khả năng thông hiểu và vận dụng kiến thức linh hoạt vào các yêu cầu môn
học, phân môn cụ thể trong chương trình học tập theo nhiều cách khác nhau. Và vì thế
việc nắm kiến thức sẽ sâu sắc, hệ thống và lâu bền hơn.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng của việc dạy văn trước đây:
Qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy phương pháp giảng dạy truyền thống giữa các
phân môn chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau tách rời từng phương diện kiến thức,
học sinh hoạt động chưa tích cực, hiệu quả đem lại cũng chưa cao.
Chính vì lẽ đó, dạy học theo quan điểm tích hợp là một xu hướng tất yếu của dạy
học hiện đại, là biện pháp để tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Học sinh
được rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách có hệ thống và lôgic. Qua
đó học sinh cũng thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các kiến thức được học trong
chương trình, vận dụng các kiến thức lí thuyết và các kĩ năng thực hành, đưa được

nở tức tưởi, loạng choạng, buồn bã …
- Giáo viên đặt câu hỏi: Việc sử dụng những từ láy đó giúp em hình dung thế
nào về tâm trạng của nhân vật Thủy ?
- Học sinh trả lời: Tâm trạng bàng hoàng, đau đớn, nghẹn ngào khi biết mình
sắp phải chia tay với người anh thân yêu.
Ví dụ 2: Cũng với văn bản trên, giáo viên tích hợp với phân môn Tập làm văn.
- Giáo viên đặt câu hỏi: Câu chuyện được kể theo ngôi thứ mấy?
- Học sinh trả lời:Câu chuyện được kể theo ngôi thứ nhất.
- Giáo viên đặt câu hỏi: Việc lựa chọn ngôi kể như thế có tác dụng gì?
- Học sinh trả lời: Việc lựa chọn ngôi kể làm tăng thêm tính chân thật, diễn
đạt tâm lí phù hợp với lứa tuổi trẻ em. Ngôi thứ nhất phù hợp với việc bộc lộ tình cảm,
cảm xúc của nhân vật.
Ví dụ 3: Khi dạy phân môn TLV bài “ Mạch lạc trong văn bản” ( SGK Ngữ
văn 7 – Tập 1 - Trang 31 )
- Giáo viên đặt câu hỏi: Sự việc chính trong văn bản là cuộc chia tay của những
con búp bê hay là sự chia tay của hai anh em Thành và Thủy ?
- Học sinh trả lời: Sự việc chính trong văn bản là sự chia tay của hai anh em Thành
và Thủy.
- Giáo viên đặt câu hỏi: Nếu được chọn một từ để gọi tên chủ đề của văn bản này thì
em sẽ chọn từ nào trong các từ sau đây :
A. Chia rẽ.
B. Chia tay.
C. Chia bôi.
D. Chia xa.
- Học sinh trả lời:Chọn đáp án B.
- Giáo viên đặt câu hỏi: Vậy chia tay có phải là chủ đề chính để liên kết các sự việc
trong văn bản thành một thể thống nhất không ?
- Học sinh trả lời: Chia tay là chủ đề chính nhằm liên kết các sự việc trong văn bản.
- Giáo viên đặt câu hỏi: Đó có thể xem là mạch lạc của văn bản không ?
- Học sinh trả lời: Đó gọi là mạch lạc trong văn bản.

Thực chất, tích hợp theo chiều dọc là hệ thống hóa các kiến thức có liên quan với
nhau ở những thời điểm thích hợp sao cho học sinh có thể nắm bắt vấn đề một cách hệ
thống. Khi thực hiện tích hợp dọc, các kiến thức được nhắc lại, được liên hệ với nhau
giúp học sinh khắc sâu, nhớ lâu nội dung bài học.
b1. Tích hợp dọc trong một phân môn cùng khối (lớp)
Ví dụ 1:
Khi dạy văn bản “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê”(Ngữ văn 7 – Tập 1 Trang 125), giáo viên tích hợp kiến thức với văn bản “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh”
(Ngữ văn 7 – Tập 1 - Trang 123)
- Giáo viên đặt câu hỏi: Qua bài “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” và tiêu đề
bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” , em hãy so sánh tình huống thể hiện
tình yêu quê hương trong hai bài thơ trên ?
- Học sinh trả lời:
Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh
Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê
Sống xa quê, trông trăng nhớ đến
Xa quê lâu ngày khi đặt chân về lại
quê nhà.
bị xem là khách lạ.
=> Thể hiện tình cảm lúc xa quê.
=> Thể hiện tình cảm khi vừa mới đặt chân về
quê.


Ví dụ 2:
Sau khi học xong bài: “Đức tính giản dị của Bác Hồ” (Ngữ văn 7-Tập 2- Trang 52).
Giáo viên có thể tích hợp mở rộng bằng cách cho học sinh sưu tầm một số bài thơ, câu
thơ ca ngợi lối sống giản dị của Bác hoặc tìm một số ví dụ để chứng minh sự giản dị
trong văn thơ của Bác.
- Giáo viên đặt câu hỏi: Qua bài “Đức tính giản dị của Bác Hồ” em hãy tìm một số
ví dụ ca ngợi lối sống giản dị của Bác ?

kiến thức có liên quan với nhau từ các lớp dưới lên, nhằm khắc sâu, mở rộng, cung cấp
thêm kiến thức cao hơn dựa trên những kiến thức đã học ở lớp dưới.
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Rút gọn câu” (Ngữ văn7 – Tập 2 - Trang 14), giáo viên tích
hợp với bài “Câu trần thuật đơn” (Ngữ văn 6 - Tập 2 - Trang 101). Thông qua hai loại
câu này giúp học sinh nhận biết được sự khác nhau về kiểu cấu tạo giữa câu rút gọn và
câu trần thuật đơn.
- Giáo viên đặt câu hỏi: Hãy so sánh sự khác nhau về cấu tạo giữa hai kiểu
câu trên và cho ví dụ minh họa ?
Câu trần thuật đơn
Là loại câu do một cụm C_V tạo thành
VD: Chúng ta học ăn, học nói, học gói,
học mở.

Câu rút gọn.
Là loại câu có thể bị lược bỏ một số
thành phần của câu
VD: Học ăn, học nói, học gói, học mở.


Ví dụ 2: Khi dạy phân môn TLV “Các yếu tố tự sự, miêu tả trong văn bản biểu cảm”
(Ngữ văn 7 - Tập 1 - Trang 137), giáo viên tích hợp phần văn Tự sự và văn Miêu tả ở
lớp 6.
- Giáo viên đặt câu hỏi: - Thế nào là văn tự sự? Văn miêu tả được hiểu như
thế nào ?
- Học sinh trả lời: - Tự sự là trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn
đến sự việc khác cuối cùng dẫn đến một kết thúc nhằm thể hiện một ý nghĩa.
- Miêu tả là tái hiện lại những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc, con
người, phong cảnh …
Qua hai khái niệm trên giáo viên giúp học sinh thấy được vai trò của yếu tố tự
sự và miêu tả trong văn bản biểu cảm.

đêm dài ngắn khác nhau trên trái đất qua bài 1:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối ”.


Giáo viên tích hợp kiến thức qua môn Địa lí lớp 6 (Bài 9 - SGK Trang 28):
Hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa…
- Giáo viên đặt câu hỏi: Vị trí của nước ta nằm ở nửa cầu nào ? Hãy giải thích
tại sao có hiện tượng tháng 5 ngày dài đêm ngắn và tháng 10 lại ngày ngắn đêm dài ?
- Học sinh trả lời: Vào tháng 5, nửa cầu Bắc ngả về phía mặt trời nên nhận
được nhiều ánh sáng. Vì thế mà ngày dài hơn và đêm ngắn lại.
Vào tháng 10, nửa cầu Bắc không ngả về phía mặt trời nên nhận được ít ánh sáng.
Vì thế mà ngày ngắn lại và đêm dài ra.
Ví dụ 2:
Khi dạy bài “Từ trái nghĩa ” (Ngữ văn 7 - tập 1 –trang 128 ) sau khi tìm hiểu xong
khái niệm. Giáo viên có thể tích hợp liên hệ giáo dục môi trường bằng cách cho học
sinh tìm những cặp từ trái nghĩa với những vấn đề giáo viên cho sẵn.
Giáo viên đặt câu hỏi: Em hãy tìm từ trái nghĩa về vấn đề vệ sinh, môi trường?
Học sinh trả lời: sạch # dơ, trong lành # ô nhiễm.
Giáo viên hỏi: Môi trường thiên nhiên xung quanh ta hiện nay như thế nào? Em làm
gì để bảo vệ môi trường ngày một xanh sạch hơn?
Học sinh trả lời: Hiện nay môi trường thiên nhiên xung quanh ta ô nhiễm trầm trọng.
Để có một môi trường xanh, sạch, đẹp em sẽ không vứt rác bừa bãi, tích cực trồng ,
chăm sóc và bảo vệ cây xanh.
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” (Ngữ văn 7 - Tập 2 Trang 24). Sau khi phân tích xong nội dung nghệ thuật văn bản. Giáo viên có thể tích
hợp với phân môn Lịch sử qua bài “Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược
Mông – Nguyên” (Lịch sử 7 - Trang 55)
- Giáo viên đặt câu hỏi: Qua văn bản “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”- Em
hãy tìm một số sự kiện lịch sử mà em đã được học để làm sáng tỏ điều đó ?
- Học sinh trả lời: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên (12581288), nhờ tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước của nhân dân ta tất cả các tầng lớp nhân

- Vật chất nhân tạo bao quanh con người: nhà ở, phương tiện đi lại, công viên ...
- Môi trường nhà trường: Lớp học, phòng thí nghiệm, nhà xe, sân chơi ...
- Môi trường xã hội: Là mối quan hệ giữa con người với con người thể hiện bằng
thể chế, luật lệ, cam kết ...
- Môi trường sống của con người gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
b. Các chức năng cơ bản của môi trường: (Gồm 04 chức năng)
- Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật.
- Môi trường là nơi chứa đựng các tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất
của con người.
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất thải của đời sống và sản xuất.
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
c. Thành phần của môi trường:
- Thạch quyển.
- Thủy quyển.
- Khí quyển.
- Sinh quyển.
2- Tình hình môi trường hiện nay:
a. Đất đai: Diện tích bình quân đầu người thấp, đất canh tác ngày càng giảm, chất
lượng đất không ngừng giảm (Do: xói mòn, sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa, lầy
hóa, bị ô nhiệm trong quá trình canh tác ...)
b. Rừng: Hiện nay độ che phủ của rừng bị hẹp dần (ô nhiễm, phá rừng ...)
c. Nước: Hiện nay rơi vào tình trạng thiếu nước (do ô nhiễm, do nước thải công
nghiệp, nước thải sinh hoạt chưa được xử lý và việc sử dụng hóa chất trong sản
xuất).
d. Không khí: Bị ô nhiễm do khói bụi ...
e. Sự đa dạng sinh học: Không còn ở trạng thái cân bằng, nhiều động thực vật bị
tuyệt chủng ...
f. Chất thải: Cùng với sự phát triển kinh tế, lượng chất thải ngày càng nhiều như
chất thỉ sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại ...
3- Một số biện pháp giữ gìn, bảo vệ, cải thiện môi trường xanh – sạch – đẹp:

+ Có thái độ thân thiện với môi trường và ý thức được hoạt động trước vấn đề
môi trường nảy sinh.
+ Có ý thức:
* Quan tâm thường xuyên đến môi trường sống cá nhân, gia đình, cộng đồng ...
* Bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, đất đai, nguồn nước, không khí ...
* Giữ gìn vệ sinh, an toàn thực phẩm.
* Ủng hộ, chủ động tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, phê phán hành vi gây
hại cho môi trường.
d. Nguyên tắc, phương pháp giáo dục môi trường trong trường THCS:
- Nguyên tắc:
+ Không phải ghép thêm mà chỉ tích hợp vào bộ môn.
+ Mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường phải phù
hợp mục tiêu đào tạo của cấp học.
- Phương thức giáo dục: dựa theo 03 mức độ
+ Mức độ toàn phần: Mục tiêu, nội dung bài học hoặc chương trình phù
hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung GDBVMT.
+ Mức độ bộ phận: Chỉ có một phần bài học có mục tiêu, nội dung
GDBVMT.


+ Mức độ liên hệ: Có điều kiện liên hệ logic, ngoài ra còn có các hoạt động
GDBVMT ngoài giờ lên lớp (như trồng cây, tham quan, điều tra, khảo sát,
thi tìm hiểu môi trường ...)
II- NHỮNG ĐỊA CHỈ TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG:
1- Chỉ tích hợp những bài thực sự có liên quan môi trường, không gượng ép,
không tích hợp tràn lan, không tích hợp những bài không có liên quan hoặc ít liên quan
tới môi trường, đảm bảo khai thác nội dung giáo dục môi trường một cách tự nhiên, hợp
lí đạt hiệu quả cao.
2- Đảm bảo được đặc trưng bộ môn, không biến giờ học thành giờ phổ biến GD
môi trường, GD môi trường chì là nội dung tích hợp một cách tự nhiên, hòa đồng với

bản

Tập 1:
Giao tiếp, văn bản và
1
phương thức biểu đạt
2

Ếch ngồi đáy giếng

Tiếng
Việt

Tập
làm
văn
X

X

Mức độ

Liên hệ, dùng văn nghị luận
thuyết minh về môi trường.
Liên hệ về sự thay đổi môi
trường.


3



Sông nước Cà Mau

8

Viết bài TLV số 5
Văn tả cảnh (làm ở nhà)

X

9

Tập làm thơ bốn chữ

X

10 Cô Tô
11

X

X

Hoạt động ngữ văn: thi làm
thơ năm chữ

X

12 Lao xao


Liên hệ môi trường biển, đảo
đẹp.
Liên hệ. Khuyến khích làm
thơ về đề tài môi trường.
Liên hệ, bảo vệ các loài
chim, giữ cân bằng sinh thái.
Trực tiếp khai thác về đề tài
môi trường.
Liên hệ môi trường và du
lịch.
Trực tiếp khai thác đề tài môi
trường.

NHỮNG ĐỊA CHỈ TÍCH HỢP GD.BVMT
Ngữ văn 7
TT

Tên bài

Tập 1:
Cuộc chia tay của những con
1
búp bê.
2

Ca dao dân ca

3

Từ Hán – Việt


X

5

Qua đèo Ngang

X

6

Làm thơ lục bát

X

Tập 2:
Tục ngữ về thiên nhiên và
7
lao động sản xuất
Chương trình địa phương
8
(Phần Văn và Tập làm văn)
Viết bài Tập làm văn số 5 –
9 Văn nghị luận chứng minh
(làm tại lớp)

X
X

X


Mức độ

Tập 1:
1

Trường từ vựng

2

Viết bài tập làm văn số 2 –
Văn tự sự kết hợp với
miêu tả và biểu cảm.

Liên hệ. Tìm các trường từ
vựng có liên quan đến môi
trường.

X
X

3

Thông tin về Ngày Trái
Đất năm 2000

X

4


Chương trình địa phương
phần văn

X
X
X

Liên hệ. Môi trường của
chúa sơn lâm
Liên hệ. Môi trường và
sức khỏe.
Liên hệ các vấn đề môi
trường.


9

Viết bài TLV số 7 – Văn
nghị luận (làm tại lớp)

X

Liên hệ. Đề bài nghị luận
về vấn đề môi trường.

NHỮNG ĐỊA CHỈ TÍCH HỢP GD.BVMT Ngữ văn 9
TT

Tên bài



Lục Vân Tiên gặp nạn

X

5

Bài thơ về tiểu đội xe
không kính

X

6

Đoàn thuyền đánh cá

X

7

Tập làm thơ tám chữ

8

Ánh trăng

X

9



Cách làm bài nghị luận về
10 một sự việc, hiện tượng
đời sống.
Viết bài TLV số 5 – Nghị
11
luận xã hội.

X
X

12 Mây và sóng

X

13 Tổng kết phần văn bản

X

Những ngôi sao xa xôi
(trích)

X

14

15 Con chó bấc (trích)

X


thuật. Các bức tranh thực tại, các tính cách và số phận con người hiện diện ở tác
phẩm chính luận như những chứng cứ lấy từ chính đời sống, như một hệ thống
những luận cứ, như đối tượng của sự phân tích, hoặc được dùng làm cơ sở của cảm
xúc, làm “tác nhân” kích thích, làm nguyên cứ để lên án, tố cáo hoặc chất vấn các
giới hữu quan, để khẳng định lý tưởng. Chính luận luôn là hành vi tranh đấu (ngấm
ngầm hoặc công khai) về chính trị, xã hội, tôn giáo, triết học, tư tưởng; nó luôn mang
định hướng phe nhóm, đảng phái và ý thức hệ. Phong cách chính luận nổi bật ở tính
luận chiến, tính cảm xúc, nó gần với giọng điệu, kết cấu và chức năng của lối diễn
thuyết. Chính luận có vai trò rất đáng kể trong lịch sử văn hóa, trong các phong trào
xã hội”( Từ điển văn học (bộ mới) , Nxb Thế giới, H, 2004, tr. 1941- 1942).
Văn nghị luận Việt Nam thời trung đại là những văn bản văn xuôi hoặc văn biền
ngẫu trực tiếp viết về những vấn đề liên quan đến đời sống chính trị của quốc gia,
dân tộc. Ở văn chương thẩm mỹ, phần chủ yếu tạo nên tác phẩm là bức tranh đời
sống, trong đó quan trọng nhất là hình tượng nghệ thuật, do nhà văn sáng tạo bằng
hư cấu. Trong văn chính luận, phần chủ yếu là lý lẽ. Các hình ảnh và hình tượng làm
cho lý lẽ thêm cụ thể sinh động, tác động đến cả lý trí và tình cảm người tiếp nhận.
Văn chính luận liên hệ trực tiếp với đời sống chính trị xã hội nên một trong những
yếu tố quan trọng tạo thành giá trị của văn bản là tính chất của thể chế chính trị
đương thời. Văn chính luận ở cấp độ loại (đồng cấp với văn chương thẩm mỹ) ở
nước ta có các thể chủ yếu: hịch, cáo, chiếu, biểu, tấu, sớ, khải,…; phần lớn viết
bằng chữ Hán; chức năng của từng loại văn bản chính luận được quy định chặt chẽ.
Do đặc thù lịch sử nước ta và tính chất của văn chính luận được coi trọng, việc
dạy- học văn chính luận thật khó, dạy- học văn nghị luận ở cấp trung học cơ sở, cụ
thể là ở lớp 8, lại càng khó hơn. Căn cứ vào phương pháp chung để tìm ra cách
hướng dẫn, phương pháp cụ thể giúp cho học sinh dễ tiếp nhận văn bản chính luận
Việt Nam trung đại là điều cần thiết. Đó là lí do mà chúng tôi chọn thực hiện chuyên
đề này.
Chuyên đề này dựa vào đặc điểm của văn nghị luận Việt Nam trung đại để chọn
ra một phương pháp dạy- học phù hợp với đối tượng học sinh lớp 8.


chính luận trung đại.
* Phương pháp nghiên cứu
Văn nghị luận trung đại là một hệ thống giá tri tinh thần, có mối quan hệ trực tiếp
và mật thiết với hệ thống chính trị xã hội trong các giai đoạn của lịch sử Việt Nam
thời trung đại nên chọn phương pháp lịch sử- cụ thể để nghiên cứu là phù hợp.
* Đặc điểm văn nghị luận Việt Nam trung đại
Văn nghị luận có vị trí quan trọng trong hệ thống văn học Việt Nam trung đại; sử
dụng nhiều thể của văn chính luận Trung Quốc; gắn bó chặt chẽ với tính chất và vận
mệnh của những lực lượng đại diện cho dân tộc trong từng thời kì; phần lớn được
viết bằng chữ Hán; số lượng không nhiều nhưng có những văn bản đặc sắc.
* Vấn đề dạy- học văn nghị luận Việt Nam trung đại
Văn chính luận Việt Nam trung đại nằm trong phạm trù văn chính luận với đặc điểm
nổi bật là tác phẩm được cấu tạo chủ yếu bằng lý lẽ, sự lập luận, trực tiếp viết về
những vấn đề của đời sống chính trị quốc gia, dân tộc… nên khi dạy-học những văn
bản này cũng phải tuân theo những nguyên tắc chung của dạy- học văn chính luận.
Dựa vào đặc thù của văn chính luận Việt Nam trung đại, giáo viên phải nắm được
tính chất nguyên hợp của văn chính luận, cần chú ý đến điểm riêng biệt trong cách


xác định chân lý của người xưa- noi theo cổ nhân ( ví dụ: Thiên đô chiếu); tạo được
tâm thế tiếp nhận phù hợp- cung cấp kiến thức cần thiết cả về văn học và phi văn học
(ví dụ: thể loại, chữ viết…; hoàn cảnh lịch sử, xã hội, thế giới quan…); phải biết
đính chính một số chỗ dịch chưa thật chuẩn khi cần thiết…
b. Chuẩn bị cho tiết dạy- học văn nghị luận Việt Nam trung đại
- Giáo viện: Đọc kĩ văn bản, tài iệu tham khảo về lịch sử Việt nam trung đại, tác
giả, tác phẩm; tìm phim ảnh có liên quan để hỗ trợ tiết dạy, soạn giáo án ( lưu ý hệ
thống kiến thức cần truyền đạt để xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lí, chọn trò chơinếu có thể- để tạo hứng thú, tâm thế học tập- tiếp nhận văn bản, lập sơ đồ- bản đồ tư
duy hệ thống hóa kiến thức cần đạt của bài học, chọn phương pháp dạy-học hợp
lí…). Chẳng hạn như khi dạy bài Chiếu dời đô, giáo viên phải tìm đọc văn bản
phiên âm nguyên tác, cần xem lại lịch sử, xã hội thời Lý, tiểu sử, công trạng của Lý

luận như hai câu hỏi trên học sinh khá có thể hỗ trợ học sinh trung bình và yếu trả lời


Câu hỏi luyện tập xoáy vào mục tiêu cần đạt của bài học, tránh rườm rà không
cần thiết. Ví dụ: Trình bày lại lập luận của văn bản đã học bằng sơ đồ hoặc giáo viên
có thể cho học sinh chơi trò chơi: đoán ô chữ, ai nhanh hơn,…
e. Kiểm tra
Câu hỏi hướng vào trọng tâm bài học, học sinh đảm bảo nhớ và hiểu bài chứ
không phải thuộc lòng mà không hiểu.Giáo viên có thể dùng câu hỏi kiểm tra bài cũ
như sau:
-Em hãy cho biết các luận điểm trong văn bản Bàn luận về phép học của Nguyễn
Thiếp?
-Trình bày ngắn gọn bằng lời văn của em về cách lập luận của tác giả trong văn
bản Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo)?
III. KẾT LUẬN
Dạy- học văn nghị luận Việt Nam trung đại ở lớp 8 đòi hỏi giáo viên và học sinh
có ý thức quan tâm, trân trọng giá trị của văn bản trong chương trình vì những tác
phẩm đưa vào chương trình đều đặc sắc. Giáo viên phải đầu tư sâu cho phần soạn
bài, học sinh phải hợp tác với giáo viên trên lớp thì tiết dạy- học mới thành công.
Giáo viên cần tìm hiểu lịch sử dân tộc thời trung đại bởi phương pháp lịch sử- cụ
thể cần thiết cho việc nghiên cứu những giá trị có tính lịch sử, nhất là những giá trị
trong quá khứ vì khoảng cách thời gian lớn tạo nên sự khác biệt ở cách nhìn nhận và
đánh giá các hiện tượng. Đối với các văn bản trích đoạn , giáo viên phải chịu khó
đọc cả tác phẩm phần phiên âm, dịch nghĩa để bao quát được vấn đề và mối liên hệ
giữa các văn bản trong chương trình.
Chuyên đề giúp cho giáo viên có thêm sự lựa chọn phương pháp khi dạy văn bản
chính luận Việt Nam trung đại ở lớp 8 và giúp học sinh làm quen với thể văn có tính
quy phạm và tính chất nguyên hợp như đã nêu trên.
Do kiến thức và kinh nghiệm có hạn, chúng tôi rất mong lãnh đạo và đồng nghiệp
chỉ ra những sai sót còn tồn tại, góp ý xây dựng để chuyên đề được hoàn chỉnh hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status