SKKN Một Số Biện Pháp Giúp Tăng Khả Năng Tiếp Nhận Ngôn Ngữ Cho Học Sinh Chậm Phát Triển Trí Tuệ Lớp 1a Tại Trung Tâm Nuôi Dạy Trẻ Khuyết Tật - Pdf 42

www.huongdanvn.com

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT
Mã số:………………

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TĂNG KHẢ NĂNG TIẾP NHẬN NGÔN NGỮ
CHO HỌC SINH CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ LỚP 1A
TẠI TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT

Người thực hiện: ĐOÀN THỊ NGỌC TÂM
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục:



- Phương pháp dạy học bộ môn:



- Phương pháp giáo dục:



- Lĩnh vực khác:



Có đính kèm:

Số năm có kinh nghiệm: 04 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
Một số biện pháp giúp tăng khả năng tập trung chú ý cho trẻ CPTTT từ 6 – 8 tuổi
ở lớp 1A tại Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật


www.huongdanvn.com
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TĂNG KHẢ NĂNG TIẾP NHẬN NGÔN NGỮ
CHO HỌC SINH CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ LỚP 1A
TẠI TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhu cầu giao tiếp của con người là một trong những nhu cầu cần thiết trong
đời sống xã hội. Mọi trẻ em đều cần được giao tiếp. Đối với trẻ chậm phát triển trí
tuệ (CPTTT), giao tiếp giúp trẻ phát triển khả năng diễn đạt, bày tỏ nhu cầu và ước
muốn, giúp trẻ phần nào chủ động trong môi trường xung quanh, dễ dàng hòa nhập
vào cộng đồng xã hội.
Để có giao tiếp, trẻ em phải có ngôn ngữ. Vì vậy, ngôn ngữ của trẻ phát triển
tốt sẽ giúp trẻ nhận thức và giao tiếp tốt, góp phần quan trọng vào việc hình thành
và phát triển nhân cách cho trẻ. Việc phát triển ngôn ngữ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ
dễ dàng tiếp cận với các môn học như: Làm quen với toán, làm quen chữ cái, âm
nhạc, tạo hình, kĩ năng sống….
Ngôn ngữ bao gồm: Nghe và hiểu, phản ứng với ngôn ngữ của người khác và
luân phiên trao đổi trong đàm thoại. “Nghe và hiểu” là một thành phần quan trọng,
góp phần xây dựng nên “ngôn ngữ tiếp nhận” cho trẻ. Ngôn ngữ tiếp nhận tốt sẽ
thúc đẩy quá trình tư duy, giúp cho trẻ có phản ứng lại với người đối thoại, có sự
trao đổi qua lại với người thân, với bạn bè, tham gia dễ dàng vào các trò chơi sinh
hoạt tập thể, giúp trẻ mau hiểu bài và nâng cao chất lượng học tập.

tuệ:
- Chức năng hoạt động của trí tuệ dưới mức trung bình đáng kể (chỉ số thông minh
IQ vào khoảng 70 hay thấp hơn dựa vào kiểm tra chỉ số thông minh).
- Thiếu hay khiếm khuyết trong hoạt động thích ứng, hạn chế ít nhất hai trong các
lĩnh vực sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sinh sống tại gia đình, kĩ năng xã hội và liên
cá nhân, sử dụng các tiện ích của cộng động, tự định hướng, kĩ năng học đường
hiệu quả, công việc, giải trí, sức khỏe và sự an toàn.
- Thời gian phát bệnh trước 18 tuổi. Sau 18 tuổi, trẻ có vấn đề về suy giảm chức
năng thần kinh thì đó không phải là trường hợp của chậm phát triển trí tuệ.
1.2. Hoạt động nhận thức của trẻ CPTTT
- Tư duy mang tính trực quan – cụ thể: Trẻ CPTTT nhận biết sự vật chủ yếu bằng
cách quan sát hình ảnh.
- Quá trình hình thành kiến thức chậm và không vững chắc: do chức năng vỏ não
bị suy giảm nên trẻ CPTTT gặp khó khăn khi tiếp thu kiến thức mới và dễ mất kiến
thức đã được tiếp thu.
- Ngôn ngữ chậm hơn so với trẻ bình thường cùng lứa tuổi: trẻ CPTTT có vốn từ ít
nên gặp khó khăn khi hiểu lời nói, hoặc không có từ để diễn tả, bắt chước phát âm
các tiếng không rõ.
- Trí nhớ ngắn hạn và máy móc: trí nhớ trẻ CPTTT có đặc điểm chậm nhớ, chóng
quên và ghi nhớ bằng hình ảnh, khó ghi nhớ bằng lời nói.
- Tính thụ động cao: trẻ CPTTT hay có biểu hiện thờ ơ với sự vật xung quanh và
không có hứng thú học tập. Trẻ phản ứng chậm khi trò chuyện với mọi người và
không thích tham gia chơi cùng các bạn.
- Khả năng chú ý: Trẻ CPTTT có thời gian tập trung rất ngắn và rất dễ bị phân tâm.
1.3. Đặc điểm chung về trở ngại trong tiếp thu ngôn ngữ của trẻ CPTTT
- Số lượng từ vựng hạn chế dẫn đến kém hiểu biết chung. Ở mỗi giai đoạn tuổi, trẻ
bình thường có thể dễ dàng học được một số lượng từ. Ví dụ: Từ 2 đến 3 tuổi, trẻ
tiếp thu ý nghĩa của nhiều từ. Trẻ có được khoảng 50 từ khi 2 tuổi rưỡi, đến khi 3
tuổi trẻ có 300 từ. Nhưng với trẻ CPTTT, các em có số lượng từ rất ít so với các trẻ
bình thường cùng độ tuổi.

như sự phát triển về nhân cách.
- Do bị thụ động với các tương tác xã hội nên trẻ khó hòa nhập, thích ứng kém với
môi trường xung quanh.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
Với một số ảnh hưởng lớn đến các quá trình tri giác, ngôn ngữ, tư duy, tôi
nhận thấy ngôn ngữ tiếp nhận có vai trò rất quan trọng trong việc tiếp nhận kiến
thức của trẻ. Để giúp trẻ CPTTT được lĩnh hội kiến thức về môi trường tự nhiên,
môi trường xã hội một cách có hiệu quả, hứng thú học tập, việc tìm tòi, nghiên cứu
nhiều phương pháp, hình thức tổ chức học tập là một vấn đề thiết thực.
Sau đây, tôi xin đưa ra một số biện pháp giúp phát triển ngôn ngữ tiếp nhận
cho trẻ chậm phát triển trí tuệ.
2.1. Biện pháp 1: Luyện tập khả năng chú ý
Khả năng chú ý là yếu tố quyết định của giao tiếp. Đó là một phần của một quá
trình liên tục bắt đầu từ khi trẻ biết giao tiếp bằng mắt và tiếp tục cho đến khi trẻ có
thể diễn đạt nhu cầu và suy nghĩ của mình.
Khi trẻ có chú ý ánh mắt, nét mặt, trẻ có thể biết đáp lại, phản ứng lại tình cảm
với người đối diện. Thường trẻ với khó khăn ngôn ngữ không nhìn người nói. Một
trong những mục đích đầu tiên là tiếp xúc mắt.
Để tăng khả năng chú ý của trẻ, giáo viên có thể áp dụng một số biện pháp sau:
a) Kích thích các giác quan của trẻ
3


www.huongdanvn.com

Năm giác quan trên cơ thể là: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu
giác. Mỗi giác quan có thể giúp trẻ tự tìm tòi, nhận biết những đặc tính riêng của
sự vật. Bằng sự vận dụng các giác quan của mình, trẻ được kích thích trí tò mò để
tìm hiểu về sự vật, sự việc đang được trẻ quan tâm.
Ví dụ: Bài tập với bàn tay của bé

- Bước 4: Khi trẻ có khả năng quan sát và tự tìm được viên kẹo, GV lặp lại tiến
trình với 3 cái tách giống nhau.
- Lưu ý: Không quên khen trẻ và có phần thưởng nhỏ khi trẻ tìm đúng vật.
4


www.huongdanvn.com

Hình1: Bé chơi “Úp mở”
c) Ngôn ngữ trao đổi với trẻ
Do trẻ CPTTT có kĩ năng xử lí âm thanh kém nên khi giao tiếp, chúng ta cần
một số chú ý như:
- Sử dụng lời nói với trẻ ngắn gọn, dứt khoát, rõ ràng.
Ví dụ: Khi hướng dẫn trẻ tập tô số 1, GV hướng dẫn trẻ thứ tự đường nét của số 1:
“Lên, xuống, gạch ngang”.
- Đặt ra yêu cầu đơn giản. Ví dụ: “Ngồi vào ghế!”, “Tô màu quả chuối!”, “Tìm
hình con voi!”
- Khen ngợi cho việc làm tốt của trẻ. Ví dụ: “Bé Thạch giỏi quá!”, “Bé Khôi ăn hết
cơm rồi”.
2.2. Biện pháp 2: Học cách chơi
Chơi là cách để trẻ khám phá thế giới. Tôi nhận thấy có hai trò chơi rất tốt cho
việc tiếp nhận ngôn ngữ cho trẻ. Đó là:
a) Chơi tưởng tượng
Trò chơi tưởng tượng góp phần quan trọng trong sự phát triển của trẻ. Chơi
tưởng tượng là sản phẩm thu được của quá trình trẻ tiếp nhận thực tế và được biểu
đạt ra ngoài. Trẻ được nhớ lại những thể nghiệm của chính bản thân trong cuộc
sống hàng ngày. Trong khi chơi tưởng tượng, trẻ còn được củng cố lại các kiến
thức mà mình tiếp nhận được, phát huy trí tưởng tượng vào trò chơi.
Ví dụ 1: Chơi đồ hàng
Chuẩn bị: Các vật gia dụng bằng nhựa gần gũi trong sinh hoạt hàng ngày với bé

Lắp ghép là trò chơi tốt để học ngữ vựng. Khi chơi lắp ghép, trẻ được rèn luyện
chú ý, vận động tinh và tương tác với người chơi.
Ví dụ: Bé ghép các khuôn hình
Chuẩn bị: 4 miếng hình ghép đơn giản với các mẩu ghép là: hình tròn, hình trái
tim, hình bông hoa, hình ngôi sao.
Tiến trình:
- Đặt 3 miếng ghép hình lên bàn nằm trong tầm nhìn của trẻ.
- Lấy 3 mẩu ghép ra khỏi miếng ghép rồi đặt bên cạnh.
- Giơ 1 mẩu ghép hình tròn và nói “hình tròn”. Chỉ vào một miếng ghép có ô trống
hình tròn, khi trẻ nhìn, GV nói “để vô”.
- Cùng với trẻ làm lại với 2 miếng ghép còn lại.
- Tháo các mẩu ghép ra, để trẻ tự lắp đặt vào.
- Tăng cường các miếng ghép lên (4 miếng).

6


www.huongdanvn.com

- Khi cùng trẻ chơi, biểu hiện sắc thái tình cảm với các hành động của trẻ như:
“đúng rồi”, “giỏi quá”, “sai rồi”, “cố lên”, “bông hoa”, “đẹp quá”.

Hình 5: Bé chơi ghép hình
2.3. Biện pháp 3: Mở rộng thế giới thiên nhiên
Một số phụ huynh có quan niệm chăm sóc trẻ cẩn thận bằng cách giữ trẻ trong
nhà, không nên tiếp xúc với đất, cát, không được ra mưa, ra nắng, vì như thế sẽ làm
trẻ dễ bị nhiễm bệnh. Nhưng thật ra, thiên nhiên rất tốt cho trẻ. Hãy để trẻ sống
cùng thiên nhiên, hòa vào thiên nhiên. Thiên nhiên là thế giới thực, hấp dẫn hơn
tranh ảnh, hình ảnh di chuyển trên ti vi. Nhờ vậy, trẻ tiếp nhận được nhiều kích
thích, phát triển cảm giác và cảm xúc, cũng như thúc đẩy ngôn ngữ tiếp nhận cho

Cho trẻ chạy đuổi bắt những vật nhỏ như: bong bóng, lông vũ, đĩa giấy…
2.4. Biện pháp 4: Đưa trẻ vào thế giới ngôn ngữ
Cuộc sống bận rộn, nhiều trẻ ít được sự quan tâm, chăm sóc của ba mẹ. Hầu
hết các trẻ này ít được ba mẹ ôm ấp, chuyện trò, chia sẻ tình cảm. Các em chỉ được
đáp ứng nhu cầu ăn mặc nhưng thiếu hụt nhu cầu tình cảm. Một số trẻ có bảo mẫu
chăm sóc, phục vụ tối đa cho trẻ như: vệ sinh, ăn uống, mặc quần áo. Điều này làm
chậm lại quá trình học hỏi xung quanh cũng như tích lũy kinh nghiệm sống của trẻ.
Cho nên, muốn trẻ phát triển tôt, chúng ta hãy để trẻ được sống trong thế giới tích
cực, được khám phá và trải nghiệm. Và thế giới ngôn ngữ là một phần không thể
thiếu trong quá trình lớn lên của trẻ.
Tôi nhận thấy để tạo nên thế giới ngôn ngữ cho trẻ, người giao tiếp với trẻ cần
chú ý đến các yếu tố:
a) Đối tượng giao tiếp với trẻ:
Tất cả người thân bên cạnh trẻ đều là đối tượng giao tiếp với trẻ.
Khi ở nhà, ông bà, ba mẹ, anh chị em, người giúp việc phải luôn luôn nói
chuyện với trẻ. Nhiều phụ huynh bận rộn với công ăn việc làm nên để trẻ xem ti vi,
xem phim hoạt hình một mình, trẻ không có cơ hội bộc lộ tình cảm cũng như
không được nhận những tình cảm trẻ cần phải có.
Khi trẻ sinh ra và lớn lên, trẻ được gần gũi với các thành viên trong gia đình.
Những người thân này là người thầy đầu tiên giúp trẻ tiếp nhận thế giới bên ngoài,
đặc biệt là thế giới ngôn ngữ. Gia đình có thể dạy trẻ biết tên gọi những thành viên
trong nhà, bế trẻ ngồi trên đầu gối cùng hát và vỗ tay theo trẻ…
Ở lớp, giáo viên và các bạn là đối tượng giao tiếp với trẻ. GV khuyến khích các
bạn cùng chơi, vui đùa, dạy bạn hát, nhảy múa, đuổi bắt cùng bạn.
Vào giờ ra chơi, tôi khuyến khích trẻ chơi cùng các bạn để tăng khả năng tương
tác với các trò chơi có trong sân trường như: cầu tuột, xích đu, nhà banh.

Hình 7: Bé chơi cầu tuột
b) Môi trường xung quanh:
Ở lớp, tôi cố gắng trang trí lớp học vừa có tác dụng làm đẹp vừa có tác dụng

Động từ

Âm thanh và câu nói

nước, xà phòng,
khăn, dầu gội,
bông tắm, các
phần của cơ
thể…
cái muỗng, cái
chén, tên món
ăn, tên đồ ăn
trong chén, ghế,
đũa…

rửa, nước chảy, chà, - Đổ nước vào thùng.
lau khô, cay mắt…
- Xối nước lên người.
- Thoa xà phòng lên tay.
- Lau khô lưng.
- Cay mắt quá!...
Giờ ăn
ăn, uống, nhai, thổi, - Muỗng của bé.
cắt, xúc…
- Ăn nữa không?
- Nóng quá!
- Thổi đi!
- Cầm muỗng lên.
….
Giờ thay cái áo, cái quần, đứng lên, ngồi xuống, - Cái áo đẹp quá!



www.huongdanvn.com

Ví dụ: Trẻ cùng GV thực hiện các động tác theo ca từ như bài hát dưới đây:
“- Đưa tay ra nào, nắm lấy cái tai
Lắc lư cái đầu, lắc lư cái đầu
Ồ sao bé không lắc, ồ sao bé không lắc!
- Đưa tay ra nào, nắm lấy cái eo
Lắc lư cái mình, lắc lư cái mình
Ồ sao bé không lắc, ồ sao bé không lắc!
- Đưa tay ra nào, nắm lấy cái chân
Lắc lư cái đùi, lắc lư cái đùi
Ồ sao bé không lắc, ồ sao bé không lắc!”
2.6. Biện pháp 6: Kết hợp chặt chẽ giữa trực quan và ngôn ngữ
Kết hợp giữa trực quan và ngôn ngữ là biện pháp cần thiết, đòi hỏi phụ huynh,
giáo viên đều phải cung cấp cho trẻ khi tham gia giao tiếp với trẻ.
Để hiểu được từ ngữ, trẻ phải được trải nghiệm ý nghĩa của từ đó. Ví dụ: Khi
giáo viên nói “vỗ tay”, trẻ không hiểu vỗ tay là như thế nào. Trẻ phải trải qua các
bước: Xem mẫu, thực hiện có hướng dẫn, tự thực hiện. Qua nhiều lần thực hiện vỗ
tay, trẻ hiểu được ý nghĩa của động từ này và có thể làm được khi có yêu cầu: “Vỗ
tay”.
Trẻ CPTTT gặp khó khăn về tư duy, biểu tượng, nhận thức nên người giáo dục
phải hướng dẫn chu đáo, tối đa để các em tiếp nhận được ý nghĩa của từ ngữ. Dưới
đây là một số kết hợp để giúp trẻ dễ dàng tiếp nhận ngôn ngữ:
a) Kết hợp giữa hành động và tiếng nói
Khi học từ ngữ chỉ hành động, các em cần được quan sát mẫu và thực hiện
hành động đó.
Ví dụ: Bé học nhảy
Chuẩn bị: Nhạc thiếu nhi

cần được cung cấp tính chất đó là như thế nào và biểu hiện tình cảm đối với tính
chất đó ra sao.
Ví dụ: Nhận biết nóng và lạnh
Chuẩn bị: Hai cái tách, bình nước ấm và bình nước lạnh
Tiến trình:
- Rót nước nóng vào một cái tách.
- Đặt bàn tay sờ vào cái tách và nói: “Nóng quá”, thể hiện nét mặt nhăn mặt vì bàn
tay nóng quá.
- Rót tiếp nước lạnh vào cái tách kia.
- Đặt bàn tay sờ vào cái tách và nói: “Lạnh quá”, thể hiện nét mặt ngạc nhiên vì
bàn tay lạnh quá.
- Cho trẻ sờ vào mỗi cái tách nhiều lần kèm theo với lời nói: “Nóng quá”, “Lạnh
quá”.
2.7. Biện pháp 7: Dạy Thủ công và Mĩ thuật
Các sản phẩm của hai bộ môn Thủ công và Mĩ thuật được mô phỏng lại từ các
sự vật, sự việc ở xung quanh trẻ. Các sản phẩm này mau chóng giúp trẻ hình thành
biểu tượng về các sự vật, sự việc mà bản thân sản phẩm muốn thể hiện.
Được nhìn sản phẩm của mình làm ra, trẻ rất thích thú và phấn khởi. Nhờ có
tinh thần tích cực ở các hoạt động tạo hình, trẻ dễ dàng khắc sâu hình ảnh của sự
vật và có thể có tiếp nhận hình ảnh của sự vật vào não bộ.
Có nhiều hình thức để mô phỏng lại thế giới xung quanh qua hai bộ môn Thủ
công và Mĩ thuật như:
a) Tô màu
Trẻ được quan sát và tô màu những con vật gần gũi, các loại phương tiện giao
thông, những cảnh vật thiên nhiên như vườn hoa, ông mặt trời, cây xanh có quả,
quan cảnh em nhỏ dạo chơi công viên cùng bố mẹ, cảnh đường phố nhộn nhịp,
cảnh bé đi tắm biển…..
b) Vẽ tranh:
Trẻ được học vẽ hoặc đồ theo nét vẽ các hình đơn giản như chùm bong bóng,
bông hoa, quả dưa hấu….Trẻ được tô màu các hình vẽ, học cách phối màu thích

từng bước và kết hợp các bước nhỏ lại để hoàn thành bài tập.
Trẻ CPTTT có tính chủ động thấp, trẻ khó làm quen với cái mới, khi có bài tập
mới lạ, các em cảm thấy tự ti không có thể làm được. Việc chia thành các bước
nhỏ, học sinh được thực hiện theo các bước đơn giản, phù hợp với khả năng, giúp
các em tự tin thực hiện yêu cầu, tiếp nhận cái mới làm kiến thức cho mình.
Ví dụ: Khi dạy bài “Vẽ bong bóng” thuộc môn Mĩ thuật, tôi cố gắng hướng dẫn
học sinh vẽ theo từng bước nhỏ như sau:
Bước 1: Vẽ hình tròn tạo thành quả bong bóng.
Bước 2: Vẽ sợi dây cho quả bong bóng.
Bước 3: Vẽ cái nơ cột quả bong bóng.
Bước 4: Tô màu cho quả bong bóng.

Trên đây là một số biện pháp giúp tăng khả năng tiếp nhận ngôn ngữ cho học
sinh chậm phát triển trí tuệ. Mỗi trẻ CPTTT trong lớp là những cá thể riêng biệt với
13


www.huongdanvn.com

những dạng tật cũng khác nhau. Do đó, để việc giáo dục đạt hiệu quả tốt, giáo viên
cần kết hợp các biện pháp với nhau một cách linh hoạt, khéo léo ở mọi hoạt động
học tập, vui chơi cũng như sinh hoạt hàng ngày của trẻ.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Trong thời gian một năm học, sau quá trình vận dụng linh hoạt các biện pháp
trên, tôi nhận thấy các em học sinh có những tiến bộ rõ rệt về khả năng tiếp nhận
ngôn ngữ.
Dưới đây là Bảng thống kê xếp loại học lực của học sinh lớp 1A về khả năng
tiếp nhận ngôn ngữ vào hai thời điểm Giữa học kì I và Cuối học kì II trong năm
học 2011– 2012:
Nội dung


5

1-20% 1-20% 3-60% 1-20% 2-40% 2-40%

5

1-20% 2-40% 2-40% 3-60% 2-40%

Bảng thống kê cho thấy thời gian đầu năm học, học sinh trong lớp gặp nhiều khó
khăn trong tiếp nhận ngôn ngữ. Các em có số lượng từ vựng rất ít, không hiểu các
yêu cầu đơn giản, phản ứng lại lời nói chậm, không thích giao tiếp với cô giáo và
các bạn trong lớp.
Qua thời gian một năm học được học tập và sinh hoạt ở lớp, ở trường, đa số các
em có những biểu hiện tích cực khi tiếp nhận ngôn ngữ như sau:
- Học sinh hiểu được nhiều từ vựng.
- Học sinh hiểu và thực hiện được một số yêu cầu đơn giản trong sinh hoạt hằng
ngày.
- Học sinh có biểu đạt tình cảm phong phú hơn trong giao tiếp.
- Học sinh có tiến bộ trong hợp tác chơi một số trò chơi đơn giản.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG ĐỀ TÀI
Để trẻ CPTTT được phát triển ngôn ngữ tiếp nhận tốt, qua kinh nghiệm thực tế,
tôi có một số đề xuất sau:
1. Đối với giáo viên dạy trẻ CPTTT
- Kết hợp linh hoạt các biện pháp vào hoạt động giảng dạy.
- Sưu tầm nhiều đồ chơi và trò chơi để lôi cuốn trẻ tham gia học tập.
14


www.huongdanvn.com

thông tin, Hà Nội.
5/ “60 bí quyết nâng cao chỉ số IQ cho bé” – H. Rusell – Nhà xuất bản Hồng Đức,
Hà Nội.
Biên Hòa, ngày 14 tháng 5 năm 2012
NGƢỜI THỰC HIỆN

Đoàn Thị Ngọc Tâm

15


www.huongdanvn.com
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TT NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Biên Hòa, ngày

tháng

năm 2011

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011 - 2012
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TĂNG KHẢ NĂNG
TIẾP NHẬN NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ
LỚP 1A TẠI TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT ĐỒNG NAI

Khá 
Đạt 
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN

THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status