Phát triển nông nghiệp bền vững ở một số nền kinh tế chuyển đổi bài học kinh nghiệm cho việt nam - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN KHOÁT

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở MỘT SỐ
NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI: BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62.31.01.06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Nguyễn An Hà
2. TS. Nguyễn Duy Lợi

Phản biện 1: PGS.TS. Trần Quang Lâm
Phản biện 2: PGS.TS. Doãn Kế Bôn
Phản biện 3: PGS.TS. Đỗ Hƣơng Lan

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp
tại: Học Viện Khoa học xã hội
Vào hồi …. giờ … phút, ngày … tháng … năm 2017


nhiễm môi trường nặng nề, chưa đáp ứng được với nền kinh tế thị trường và
hội nhập quốc tế.
Sau 30 năm “Đổi mới”, Việt Nam bên cạnh những thành tựu đạt được vô
cùng to lớn thì thực tiễn cũng đang đặt ra rất nhiều thách thức cần phải được
giải quyết ngay không thể chậm chễ khi PTNNBV. Nhận thức được vấn đề
này, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X (2006) đã khẳng định: “Hiện nay và
trong những năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến
1


lược đặc biệt quan trọng. Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghịêp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng một nền nông
nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững”.
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Phát triển nông nghiệp bền vững ở
một số nền kinh tế chuyển đổi: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, làm luận
án cho nghiên cứu của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu: Luận án đi sâu, luận giải, làm rõ một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về PTNNBV. Nghiên cứu thực trạng PTNNBV ở Trung Quốc, Ba
Lan và Nga trong quá trình chuyển đổi. Trên cơ sở đó gợi mở, đề xuất một số
bài học kinh nghiệm vận dụng vào ngành nông nghiệp Việt Nam.
Về nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết cơ bản về PTNNBV.
- Thực trạng PTNNBV ở Trung Quốc, Ba Lan và Nga trong quá trình
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
- Từ thực tiễn PTNNBV ở Việt Nam với sự so sánh với các nước Trung
Quốc, Ba Lan và Nga, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất gợi mở
một số giải pháp thực hiện bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Tập trung vào các đối tượng PTNNBV ở Trung Quốc,

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa về mặt lý luận: Bằng cách tiếp cập hệ thống và logic, luận án đã trình
bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về PTNNBV.
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Luận án đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho
PTNNBV Việt Nam từ thực tiễn kinh nghiệm ở các nước, đồng thời gợi mở,
đề xuất một số giải pháp áp dụng bài học kinh nghiệm cho PTNNBV Việt
Nam trong thời gian tới. Kết quả nghiên cứu của luận án là một tài liệu tham
khảo tin cậy cho các hiệp hội, cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp,...
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì kết cấu luận
án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bề vững
Chương 3: Thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở Trung Quốc, Ba
Lan và Nga trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế
Chương 4: Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam và những bài học
kinh nghiệm từ Trung Quốc, Ba Lan và Nga.

3


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các nguồn tài liệu
1.1.1. Về vai trò của nông nghiệp
1.1.2. Về các quốc gia chuyển đổi và nông nghiệp bền vững
1.1.3. Về phát triển nông nghiệp và các chính sách phát triển nông nghiệp
1.2. Những vấn đề đã thống nhất, các vấn đề còn tranh luận, các vấn
đề còn bỏ ngỏ liên quan đến luận án
1.3. Các câu hỏi nghiên cứu chính

trong hiện tại và tương lai và được xã hội chấp nhận. Nông nghiệp bền vững
không chỉ bảo vệ hệ sinh thái đã có trong tự nhiên mà còn đưa ra những định
hướng khôi phục và bảo tồn những hệ sinh thái đã suy kiệt.
Theo giáo sư Stephen R. Gliessman, nông nghiệp bền vững có nghĩa là
“Một hệ thống có liên quan và tác động tới quá trình sản xuất lương thực thực
phẩm, nuôi trồng làm cân bằng tính ổn định của môi trường, tính phù hợp xã
hội, và tính khả thi về kinh tế giữa các nhân tố, cả về chiều rộng lẫn chiều dài
(tức là nhiều đối tượng cùng tham gia và nhiều thế hệ cùng tham gia)”. Rộng
hơn nữa PTNNBV, hệ sinh thái duy trì được nền tảng tài nguyên thiên nhiên,
phụ thuộc rất ít vào những sản phẩm nhân tạo đưa từ bên ngoài hệ sinh thái
vào, quản lý dịch bệnh và sâu hại thông qua những cơ chế điều tiết nội bộ, và
hệ sinh thái đó cần được hồi phục sau những xáo trộn (thậm chí tổn thương)
gây ra bởi quá trình canh tác và thu hoạch.
Nông nghiệp bền vững rất chú trọng tới tính đa dạng sinh học trong hệ
sinh thái cũng như những cách thức thực hành trên khu vực canh tác. Nông
nghiệp bền vững đề cao tính tuần hoàn trong một khu vực canh tác, hạn chế sử
dụng những yếu tố đầu vào từ bên ngoài, quản lý việc sử dụng những yếu tố tự
nhiên, sẵn có và có tính bổ trợ lẫn nhau từ đó khôi phục, duy trì và thúc đẩy
tính hài hòa của thiên nhiên.
Nông nghiệp bền vững khác với nông nghiệp thương mại ở chỗ nông
nghiệp thương mại sử dụng những kỹ thuật công nghiệp để áp dụng vào quá
trình sản xuất và dựa nhiều vào các chế phẩm hóa học bảo vệ cây trồng, phân
bón tăng trưởng, thức ăn gia súc,.... Tuy nhiên, do những tác động không tốt
tới sức khỏe người tiêu dùng, tới môi trường, nên trong những năm gần đây,
PTNNBV dường như trở thành xu thế trong PTNN tại nhiều quốc gia.
2.2.3. Mục tiêu và ý nghĩa phát triển nông nghiệp bền vững
2.2.3.1. Mục tiêu và yêu cầu của PTNNBV
Mục tiêu:
- Có sự phát triển kinh tế hiệu quả, SXNN an toàn, đảm bảo sức khỏe cho
5

(iii) Giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
(iv) Tạo và giữ ổn định việc làm cho lao động nông nghiệp, góp phần xóa
đói giảm nghèo một cách bền vững
(v) Giúp người dân và cộng đồng có thu nhập ổn định
2.2.3.3. Đặc trưng của PTNNBV
Có 4 đặc trưng cơ bản: (i) Nuôi dưỡng các nguồn tài nguyên cho thế hệ
6


hiện tại và mai sau; (ii) Áp dụng mỗi nơi một cách làm nông nghiệp địa
phương; (iii) Bảo đảm công bằng kinh tế và công bằng xã hội; (iv) Công bằng
quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên và sản phẩm sản xuất ra.
Với các nền kinh tế chuyển đổi khi chưa có thị trường hoàn chỉnh, vẫn
còn vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, SXNN theo kế hoạch, hoạt động theo
các mô hình HTX, các sản phẩm đầu vào và đầu ra đều phân phối, giá cả
tượng trưng, nhà nước trợ cấp, bảo hộ,...
2.2.4. Nội dung, chỉ tiêu đánh giá và các yếu tố tác động đến phát triển nông
nghiệp bền vững
2.2.4.1. Nội dung về PTNNBV
- Phát triển nông nghiệp bền vững về mặt kinh tế: tăng trưởng kinh tế; sử
dụng hiệu quả các nguồn lực; thu nhập;…
- Phát triển nông nghiệp bền vững về mặt xã hội: lao động và việc làm;
xóa đói, giảm nghèo; bình đẳng giới;…
- Phát triển nông nghiệp bền vững về mặt môi trường: sử dụng hợp lý
nước tưới, phân bón, hóa học và thuốc bảo vệ thực vật; chất thải nông nghiệp;
ô nhiễm môi trường;…
Mối quan hệ giữa các nội dung kinh tế, xã hội và môi trường trong
PTNNBV:
- Mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội
- Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và môi trường

thực vật; chất thải

lực; thu nhập,...

bình đẳng giới,...

nông nghiệp; ô nhiễm

trưởng

cạnh

môi

môi trường; đất đai,...
7


Mối liên hệ ảnh hưởng
Mối liên hệ qua lại
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ khung phân tích phát triển nông nghiệp bền vững

Ghi chú:

2.2.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá PTNNBV
- Về chỉ tiêu kinh tế
- Về chỉ tiêu xã hội
- Về chỉ tiêu môi trường
2.2.4.3. Các nhân tố tác động đến PTNNBV
1. Điều kiện tự nhiên, biến đổi khí hậu

lượng thấp, công nghiệp chế biến yếu kém, ô nhiễm môi trường,... và để chuẩn
bị hội nhập WTO, Trung Quốc đã tập trung chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
với mục tiêu nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
3.1.1.2. Hình thành và phát triển thị trường nông nghiệp
Tự do hóa thị trường giá cả của Trung Quốc cho phép các doanh nghiệp
thu được nhiều lợi ích. Mặc dù thời gian đầu chỉ tự do hóa một phần giá cả,
nhưng duy trì hình thức điều hành nhà nước ở thời kì đầu chuyển đổi đã giúp
tránh được sự sụt giảm sản lượng và đầu tư.
Thị trường tư liệu sản xuất và dịch vụ cũng được song hành phát triển,
chợ nông thôn hoạt động rất sôi động. Tuy nhiên, hoạt động của thị trường tư
liệu sản xuất và hàng nông sản chịu sự quản lý, giám sát của nhà nước. Trung
Quốc tăng cường hoạt động của thị trường lương thực thông qua quản lý
nguồn cung và đã ra các quy định về giá cả, từng bước xoá bỏ và giảm bớt các
rào cản phi thuế quan như hệ thống giấy phép, hạn ngạch nhập khẩu đối với
đậu tương, lúa mỳ,... và thay bằng thuế suất. Năm 2000 Trung Quốc đã bỏ trợ
giá cho việc mua ngũ cốc và khuyến khích nông dân phát triển những nông
phẩm được ưa chuộng trên thị trường, đặc biệt trên thị trường thế giới.
Đối với thị trường ruộng đất, Trung Quốc coi đất đai là tài sản quốc gia,
đặc biệt là đất nông nghiệp, không được phép mua bán, vì vậy các hoạt động
diễn ra trên thị trường này chủ yếu là chuyển nhượng quyền sử dụng hoặc cho
thuê ruộng đất. Tuy nhiên, giới nghiên cứu ở Trung Quốc cho rằng thị trường
này cần được xây dựng để thúc đẩy PTNN trên quy mô lớn.
Thị trường vốn ở nông thôn trước đây hoạt động khá mờ nhạt. Cho đến
đầu thập niên 2000, ngoài các quỹ hợp tác cổ phần do nông dân tự lập nên, các
tổ chức tài chính khác ở nông thôn chỉ là những đơn vị huy động vốn chứ chưa
phải là tổ chức hoạt động kinh doanh vốn thực sự. Để tạo dựng và phát triển
thị trường vốn, gần đây Trung Quốc đã thành lập các tổ chức tín dụng (HTX
tín dụng nông thôn, tiết kiệm bưu điện,…) và thực hiện cơ chế tăng khoản vay
cho nông nghiệp. Đặc biệt, Ngân hàng Phát triển Nông thôn được chỉ thị nới
9

Trung Quốc đang tập trung vào quy hoạch đô thị - nông thôn, thúc đẩy
nhất thể hóa xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng và các phương diện
khác. Hình thành mô hình nhất thể hóa thành thị - nông thôn mới, kiên trì
phương châm công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp, thành thị dẫn dắt nông thôn,
công nghiệp và nông nghiệp cùng có lợi. Đặt trọng tâm vào vấn đề “Tam
nông” coi trọng vấn đề nông thôn, đẩy mạnh đô thị hóa là chuyển dịch dân số
10


nông nghiệp tới các thành phố, thị trấn vừa và nhỏ, coi việc tăng cường phát
triển thành phố, thị trấn vừa và nhỏ làm trọng điểm.
3.1.1.6. Hoàn thiện chế độ kinh doanh cơ bản nông thôn
Chế độ kinh doanh cơ bản nông thôn là nền tảng của chính sách nông
thôn. Cải cách nông nghiệp, phát triển ngành nông nghiệp hiện đại, xây dựng
hệ thống kinh doanh nông nghiệp kiểu mới, phát triển ngành nông nghiệp hiện
đại, bền vững, xây dựng hệ thống kinh doanh nông nghiệp kiểu mới kết hợp
giữa tập trung hoá, chuyên nghiệp hóa, tổ chức hoá và xã hội hoá.
3.1.1.7. Xây dựng hệ thống kinh doanh mô hình nông nghiệp mới kết hợp
ngành nghề hóa, tổ chức hóa và xã hội hóa
Xây dựng hệ thống kinh doanh nông nghiệp mới có sự kết hợp với ngành
nghề hóa, tổ chức hóa và xã hội hóa. Với mô hình mới, nhất thiết phải hoàn
thiện chế độ kinh doanh cơ bản ở nông thôn, phải ổn định mối quan hệ hợp
đồng đất đai. Tiếp theo, phải bồi dưỡng các chủ thể kinh doanh nông nghiệp
mô hình mới, vì đó là căn bản của hệ thống kinh doanh nông nghiệp mô hình
mới, là nhiệm vụ cấp bách đẩy nhanh tốc độ hiện đại hóa nông nghiệp.
3.2.1.8. Chính sách môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu
Trung Quốc gần đây đã đưa ra một số biện pháp đối phó tạm thời và cấp
bách để giảm ô nhiễm. Tuy nhiên, Trung Quốc cần phải đưa ra được các chiến
lược lâu dài và có hiệu quả cho việc PTBV và tiến hành các giải pháp một
cách khẩn trương và quyết liệt hơn nữa.

501,06
528,71
530,82
546,48
571,21
589,57
601,94
607,03
621,44

Tăng trưởng
(%)
2,9
0,7
5,4
0,4
2,9
4,5
3,2
2,1
1,1
2,4

3.1.2.2. Về xã hội
Từ năm 2006 - 2015, thu nhập bình quân đầu người của cư dân nông thôn
liên tục tăng. Riêng năm 2012, thu nhập thuần bình quân đầu người của cư dân
nông thôn đạt 7917 Nhân dân tệ (NDT), so với năm 2011 tăng 13,5 . Năm
2015 là 11.422 NDT, tăng 8,9 so với năm 2014.
Nông dân Trung Quốc đã cơ bản thoát nghèo. Từ năm 1978 - 2012, người
nghèo ở nông thôn từ 250 triệu người giảm còn khoảng 98,99 triệu người, và

 Cơ sở nông nghiệp còn yếu kém
 Gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội
Theo số liệu thu nhập năm 2012 thì 1 gia đình giàu có nhất tại Trung
Quốc sở hữu hơn 1/3 giá trị tài sản toàn quốc, 25 gia đình nghèo nhất chỉ
chiếm 1% giá trị tài sản toàn quốc.
Bất bình đẳng là vấn đề nghiêm trọng của Trung Quốc. Điều này được
phản ánh không chỉ trong việc phân hóa thu nhập và mức tài sản, mà còn trong
những chênh lệch có thể thấy rõ ràng về mặt giáo dục, y tế và an sinh xã hội,
với 1 hộ gia đình Trung Quốc nắm giữ 1/3 tổng tài sản quốc nội của đất
nước, còn ¼ số hộ gia đình nghèo nhất chỉ nắm có 1 .
3.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở Ba Lan trong quá
trình chuyển đổi
3.2.1. Các chính sách chuyển đổi và cải cách, thúc đẩy phát triển nông
nghiệp bền vững ở Ba Lan
3.2.1.1. Cải cách, thay đổi sở hữu trong nông nghiệp
Cải cách sở hữu đóng vai trò trung tâm trong các cải cách cơ cấu cũng
như cải cách thị trường ở Ba Lan. Cải cách sở hữu trong nông nghiệp chủ yếu
tiến hành thông qua tư nhân hoá và tái cấu trúc các nông trường quốc doanh,
nông trang tập thể (HTX nông nghiệp) thuộc sở hữu nhà nước đã tồn tài từ
13


trước, nhằm tạo ra những chủ thể mới, tạo động cơ khuyến khích người lao
động làm việc trên đất đai do họ được quyền làm chủ. Do điều kiện đặc thù,
phần lớn đất nông nghiệp ở Ba Lan vẫn thuộc sở hữu tư nhân, nên Ba Lan đã
thực hiện bán trực tiếp đất đai thuộc sở hữu nhà nước cho tư nhân. Các trang
trại nhà nước hầu như được chuyển đổi sang hình thức công ty liên doanh hoặc
thuê đất từ sở hữu nhà nước.
3.2.1.2. Hình thành và phát triển thị trường nông nghiệp
Để hình thành và phát triển thị trường này, Chính phủ Ba Lan đã thành lập

BVMT là một trong những trụ cột chính của mô hình nông nghiệp Châu
Âu. SXNN ở Ba Lan phải tuân thủ các nghĩa vụ liên quan đến BVMT.
3.2.1.9. Chính sách phát triển nông nghiệp chung (CAP)
Chính sách Nông nghiệp chung của EU có tác động vô cùng quan trọng
trong PTNN Ba Lan. Trước khi gia nhập EU, Ba Lan đã trải qua một số chính
sách cải cách cơ bản từ những năm 1992, 1999, 2003 và đã có sự chuẩn bị kỹ
lưỡng để gia nhập. Cho đến khi chính thức gia nhập Liên minh Châu Âu năm
2004 ở Ba Lan cơ bản đã xác lập được nền kinh tế thị trường. Vai trò của nhà
nước đã giảm xuống, từ mức chiếm 87 - 97 sản xuất công nghiệp, và đóng
góp 80 GDP trong thời kỳ kinh tế tập trung kế hoạch hóa thì nay tỷ lệ sở hữu
và đóng góp của các các doanh nghiệp tư nhân đã đạt mức 75 - 80 GDP, gần
tới mức của các nước EU; đã tạo ra được những lực lượng thị trường năng
động, cải thiện tình trạng thất nghiệp cũng như khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế.
3.2.2. Thành tích đạt được về phát triển nông nghiệp bền vững ở Ba Lan
3.2.2.1. Về kinh tế
Tuy đất trồng trọt không có chất lượng tốt nhưng Ba Lan vẫn là một trong
những nhà sản xuất lớn nhất về các sản phẩm nông nghiệp ở Châu Âu và thế
giới. Châu Âu, 37,6 lúa mạch đen đến từ Ba Lan, đứng ở vị trí thứ hai và
chiếm vị trí thứ ba ở mức độ toàn cầu. Với 19 sản lượng khoai tây, Ba Lan
đứng đầu trong EU và 11,3 ở vị trí thứ ba về sản xuất thịt lợn. Ba Lan cũng
giữ một trong những vị trí đầu bảng trong việc sản xuất trái cây có màu đỏ
(dâu tây, mâm xôi và nho), cũng như các loại rau như hành tây, bắp cải và súp
lơ. Từ năm 2000 đến năm 2007, SXNN đã tăng hơn 46%.
Việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm đã cải thiện tích cực
hiệu quả kinh tế nông nghiệp ở Ba Lan.
3.2.2.2. Về xã hội
Về thu nhập, trước khi gia nhập EU, nông dân Ba Lan tụt hậu so với các
nước trong EU khác. Tuy nhiên, chỉ một năm sau khi gia nhập, thu nhập nông
nghiệp ở Ba Lan đã tăng 74 , tăng thu nhập bình quân hàng năm là hơn



các tổ chức hiện có và tạo việc làm thông qua phát triển nông thôn; Thứ hai,
những thay đổi trên làm cơ sở để tăng khả năng cạnh tranh của ngành nông
nghiệp và nâng cao vai trò của khu vực tư nhân; Thứ ba, tiếp tục thúc đẩy phát
triển nông thôn, nhưng sử dụng thêm các nguồn lực tái phân bổ từ các hoạt
động can thiệp vào thị trường để tăng cường và nâng cao hiệu quả của chính
sách nông nghiệp Ba Lan vẫn là những chủ đề tiếp tục được bàn luận.
3.3. Thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở Nga trong quá trình
chuyển đổi
3.3.1. Các chính sách chuyển đổi và cải cách, thúc đẩy phát triển nông
nghiệp bền vững ở Nga
3.3.1.1. Cải cách, thay đổi sở hữu trong nông nghiệp
Mục tiêu cải cách, thay đổi sở hữu trong nông nghiệp ở Nga nhằm tạo lập
những chủ thể mới, tạo lập mối quan hệ sản xuất - thị trường, nâng cao hiệu
quả sản xuất thông qua cạnh tranh. Quá trình này chủ yếu được thực hiện
thông qua tư nhân hoá đất đai và cải tổ các trang trại tập thể. Tuy nhiên tư
nhân hóa đất đai ở Nga vẫn chưa triệt để, trong những loại hình chuyển đổi sở
hữu, nước Nga chọn loại hình chia đất đai theo các cổ phần đất có điều kiện,
phân phối theo nhân công và người ăn lương của một xí nghiệp nông nghiệp
và cho những người chủ đất quyền được độc lập quy định việc sử dụng đất.
3.3.1.2. Hình thành và phát triển thị trường nông nghiệp
Thị trường vốn và tín dụng cho nông nghiệp cũng rất kém phát triển,
trong bối cảnh đó Nga thực hiện chế độ tín dụng có trợ cấp và đang phát triển
hệ thống HTX tín dụng.
Với thị trường đất đai, xuất hiện các chủ sở hữu đất đai với quy mô đồn
điền bành trướng trong nông nghiệp là tín hiệu đáng lo ngại do yếu tố đầu cơ.
3.3.1.3. Cung cấp các điều kiện cho sự phát triển và đa dạng hóa kinh tế nông
thôn
3.3.1.4. Cải thiện chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn, tăng cường tiếp

18


3.3.2.3. Về môi trường
3.3.3. Một số vấn đề tồn tại về phát triển nông nghiệp bền vững ở Nga
Chuyển đổi mô hình sang PTNNBV của Nga gặp phải không ít khó khăn
thách thức khi chưa có chiến lược liên ngành toàn diện cho PTNN, nông thôn.
Các giải pháp cho phát triển nông thôn được trải ra trong chương trình Liên
bang khác nhau mà chưa có sự phối hợp tốt giữa các bộ và các cơ quan chịu
trách nhiệm thực hiện. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng xã hội là không đủ, tỷ lệ tăng
trưởng còn thấp. So với các nước phát triển, hỗ trợ của chính phủ Nga dành
cho nông nghiệp là thấp hơn nhiều, đó là một trong những yếu tố làm năng
suất của nông nghiệp thấp, hạn chế khả năng hiện đại hóa và phát triển sáng
tạo của các ngành công nghiệp. Phát triển cơ sở hạ tầng của khu vực nông
thôn, đặc biệt là mạng lưới đường bộ và các phương tiện truyền thông hiện đại
được triển khai chậm. Cuộc sống ở vùng nông thôn không hấp dẫn đối với
những người trẻ tuổi, tình trạng di dân từ nông thôn đến các khu vực đô thị là
một trở ngại rõ rệt cho sự hình thành của các cơ sở nguồn nhân lực của sự phát
triển nông thôn.
3.4. Đánh giá về phát triển nông nghiệp bền vững trong quá trình chuyển
đổi, một số vấn đề đặt ra đối với Trung Quốc, Ba Lan và Nga
3.4.1. Đánh giá về phát triển nông nghiệp bền vững trong quá trình chuyển
đổi đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của Trung Quốc, Ba
Lan và Nga
3.4.2. Một số vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay
Kết luận chương 3.
CHƢƠNG 4
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG
BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ TRUNG QUỐC, BA LAN VÀ NGA


4.1.3. Một số tồn tại và nguyên nhân
4.1.3.1. Một số tồn tại
1. Nông nghiệp tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, kém bền vững và
sức cạnh tranh thấp, khả năng đầu tư mở rộng của nông dân còn yếu
2. Nhiều nguồn lực trong nông nghiệp chưa được khai thác triệt để
3. PTNN hiệu quả thấp, chưa chú trọng gia tăng giá trị, an toàn thực phẩm
đáng báo động
4. Qui mô SXNN phổ biến vẫn là nhỏ, phân tán, thiếu qui hoạch, mô hình
chưa rõ ràng, quá trình chuyến dịch cơ cấu diễn ra chậm
5. Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn còn thấp, số hộ
nghèo còn cao, chênh lệch giàu nghèo còn lớn
6. Tài nguyên bị khai thác quá mức, suy thoái và ô nhiễm môi trường có
nguy cơ tăng cao
7. Suy thoái kinh tế thế giới dẫn đến nhu cầu thị trường giảm, PTNN đối
mặt với khó khăn
4.1.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế
Nguyên nhân chủ quan:
1. Nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn
chưa đầy đủ
2. Chất lượng của chính sách chưa cao, chưa đủ mạnh, chưa đồng bộ, triển
khai chậm chưa quyết liệt
3. Quản lý Nhà nước còn bất cập, bộ máy tổ chức ngành nông nghiệp còn
yếu
4. Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn thấp và mất cân đối
Nguyên nhân khách quan:
1. Xuất phát điểm thấp
2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, môi trường, dịch bệnh
3. Kết cấu hạ tầng và dịch vụ nông nghiệp thấp, thị trường phức tạp

21

thực hiện tái cấu trúc nông nghiệp
2. Cải thiện môi trường thuận lợi hơn cho PTNNBV
3. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để PTNNBV
4. Tăng cường đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KHCN, đào tạo phát triển
nguồn nhân lực nông nghiệp
5. Kiện toàn hệ thống dịch vụ nông nghiệp
22


6. Phát triển thị trường
7. Khẳng định vai trò của Nhà nước trong PTNNBV
Kết luận chương 4.

KẾT LUẬN
Luận án đã luận giải những nội dung cơ bản của đề tài đặt ra và có những
đóng góp chủ yếu sau đây:
1 - Bằng cách tiếp cập hệ thống và logic, luận án đã hệ thống một số vấn
đề lý luận cơ bản về PTBV, PTNNBV mà nhiều quốc gia đang hướng tới.
2 - Từ góc độ thực tiễn, luận án tập trung nghiên cứu PTNNBV ở Trung
Quốc, Ba Lan và Nga trong quá trình chuyển đổi. So sánh đánh giá đối chiếu
quá trình PTNNBV ở các nước với PTNNBV ở Việt Nam, rút ra những bài
học kinh nghiệm và gợi mở một số giải pháp áp dụng bài học kinh nghiệm vận
dụng vào thực tiễn PTNNBV ở Việt Nam trong thời gian tới. Những bài học
kinh nghiệm được rút ra cho PTNN ở Việt Nam theo hướng bền vững là: (1)
Xác định đúng vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình
PTNNBV; (2) Phát triển phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường; (3)
Hoàn thiện các cơ chế, chính sách của Nhà nước; (4) Nâng cao chất lượng lao
động nông thôn, chú trọng phát triển, ứng dụng KHCN và phổ biến kiến thức
cho nông dân; (5) Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng ở nông thôn; (6) Nâng cao ý
thức của người nông dân trong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường, BĐKH.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status